Từ góc nhìn của một người tự cho rằng bản thân có khả năng vạch ra một con đường thẳng tắp cho sự tiến bộ của nhân loại nếu muốn đạt được tiến bộ thực sự, một người mang bản đồ con đường ấy trong tâm trí và từng nỗ lực chỉ bày nó cho kẻ khác, khiến họ phải nhìn nhận nó như chính anh ta nhìn thấy; một người qua đó đã chọn lựa những diễn đạt rõ ràng và giản dị nhất để truyền tải tư tưởng của mình đến tha nhân — đối với một con người như thế, thật là điều đáng tiếc nuối và rối bời trong tâm can khi cụm từ “Hành động trực tiếp” bỗng dưng mang một ý nghĩa thu hẹp trong nhận thức chung, một ý nghĩa hoàn toàn không hàm ẩn trong chính những từ ngữ ấy, và chắc chắn chưa bao giờ được gán cho nó bởi chính anh ta hay những người cùng tư tưởng.
Tuy nhiên, đây lại là một trong những trò đùa quen mà Tiến bộ thường dành cho những ai tự cho mình khả năng đặt ra những giới hạn và ranh giới cho nó. Hết lần này đến lần khác, những cái tên, cụm từ, khẩu hiệu, tiếng gọi đã bị lộn trái, lộn phải, đảo ngược và xoay ngang bởi những biến cố nằm ngoài tầm kiểm soát của những người từng sử dụng các biểu đạt ấy theo đúng nghĩa chuẩn xác của chúng; thế nhưng, những ai vẫn kiên cường giữ vững lập trường và khăng khăng đòi lên tiếng, cuối cùng đều nhận ra rằng khoảng thời gian đầy hiểu lầm và định kiến ấy chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc khảo cứu và thấu hiểu sâu rộng hơn mà thôi.
Tôi nghiêng về ý kiến cho rằng điều này cũng sẽ ứng nghiệm với sự ngộ nhận hiện tại về thuật ngữ Hành động trực tiếp — vốn do sự hiểu lầm, hoặc thậm chí là sự xuyên tạc có chủ đích của một số nhà báo tại Los Angeles vào thời điểm vụ án của các anh em nhà McNamara nhận tội, đã đột ngột khoác lấy một cách cắt nghĩa trong tâm thức đại chúng là “Những cuộc tấn công bạo lực nhắm vào tính mạng và tài sản”. Hành vi này hoặc là biểu hiện của sự dốt nát tột cùng, hoặc là sự bất lương từ phía các nhà báo; song nó đã tạo ra hiệu ứng khiến khá nhiều người cảm thấy tò mò muốn tìm hiểu tường tận về Hành động trực tiếp.
Trên thực tế, những kẻ đang lớn tiếng và quá đà lên án nó sẽ nhận ra khi xem xét lại rằng chính bản thân họ cũng đã từng nhiều lần thực thi hành động trực tiếp, và rồi sẽ tiếp tục làm thế.
Bất kỳ ai từng cho rằng mình có một quyền lợi cần phải khẳng định, rồi dũng mãnh bước ra để tự mình xác lập quyền lợi ấy, hoặc cùng hành động với những người có chung niềm tin, đều là một người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp. Khoảng ba mươi năm trước, tôi nhớ rằng Quân đội Cứu thế đã tích cực thực thi hành động trực tiếp để bảo vệ quyền tự do phát biểu, tụ họp và cầu nguyện cho các thành viên của mình. Hết lần này đến lần khác, họ bị bắt bớ, phạt tiền và tống giam; nhưng họ cứ thế tiếp tục ca hát, cầu nguyện và tuần hành, cho đến khi cuối cùng họ buộc những kẻ đàn áp mình phải để họ yên. Tổ chức Công nhân Công nghiệp Thế giới hiện nay cũng đang tiến hành cuộc chiến đấu tương tự, và trong một số trường hợp, họ đã buộc các quan chức phải để yên cho họ bằng chính những chiến thuật trực tiếp ấy.
Bất kỳ ai từng ấp ủ một kế hoạch để làm điều gì đó, rồi tự mình đứng ra thực hiện, hoặc đem kế hoạch ấy trình bày trước người khác và giành được sự hợp tác của họ để cùng làm, thay vì đi cầu xin các nhà chức trách bên ngoài ban phát điều đó cho mình, đều là một người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp. Mọi thử nghiệm hợp tác về bản chất đều là hành động trực tiếp.
Bất kỳ ai từng có một mâu thuẫn cần giải quyết với bất kỳ ai trong đời, và trực tiếp tìm đến những người liên quan để giải quyết nó, dù bằng một kế hoạch hòa bình hay cách khác, đều là một người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp. Những ví dụ điển hình cho loại hành động này là các cuộc đình công và tẩy chay; nhiều người hẳn sẽ còn nhớ hành động của những người nội trợ ở New York khi họ tẩy chay những kẻ bán thịt và hạ giá thịt xuống; vào thời điểm hiện tại, một cuộc tẩy chay bơ dường như đang manh nha xuất hiện như một lời đáp trả trực tiếp nhắm vào những kẻ ấn định giá bơ.
Những hành động này nhìn chung không bắt nguồn từ việc ai đó suy diễn quá mức về những ưu điểm tương đối của tính trực tiếp hay gián tiếp, mà là sự đáp trả tự phát từ những kẻ cảm thấy bị áp bức bởi một hoàn cảnh cụ thể. Nói cách khác, tất cả mọi người, trong phần lớn thời gian, đều là những tín đồ của nguyên tắc hành động trực tiếp và là những người thực hành nó. Tuy nhiên, phần lớn mọi người đồng thời cũng là những người theo chủ nghĩa hành động gián tiếp hoặc hành động chính trị. Và họ đóng cả hai vai trò đó cùng một lúc mà không hề mổ xẻ phân tích sâu xa về bất kỳ bên nào. Chỉ có một số lượng hữu hạn những con người né tránh hành động chính trị trong mọi hoàn cảnh; nhưng chẳng có ai, hoàn toàn không có một ai, lại từng tỏ ra “bất khả thi” đến mức né tránh hoàn toàn hành động trực tiếp.
Đa phần những người có tư duy thực chất là những kẻ cơ hội, nhìn chung có người nghiêng về tính trực tiếp nhiều hơn, có người nghiêng về tính gián tiếp nhiều hơn, nhưng đều sẵn sàng sử dụng bất kỳ phương tiện nào khi thời cơ đòi hỏi. Nghĩa là, vẫn có những người cho rằng việc bầu cử các nhà cầm quyền lên nắm chính quyền về bản chất là một điều sai trái và dại dột; thế nhưng, dưới sức ép của những hoàn cảnh đặc biệt, họ lại có thể coi việc bỏ phiếu đưa một cá nhân nào đó vào ghế quan chức vào thời điểm cụ thể ấy là việc làm khôn ngoan nhất. Hoặc cũng có những người tin rằng, nhìn chung, cách khôn ngoan nhất để người ta đạt được điều mình muốn là phương pháp gián tiếp — tức là bỏ phiếu đưa lên nắm quyền một ai đó sẽ hợp pháp hóa những gì họ muốn; dẫu vậy, họ vẫn sẽ có những lúc, trong các điều kiện ngoại lệ, đưa ra lời khuyên nên tiến hành đình công; và như tôi đã nói, đình công chính là hành động trực tiếp.
Hoặc họ có thể hành xử như những nhà hoạt động của Đảng Xã hội — những kẻ giờ đây đang lớn tiếng đả kích hành động trực tiếp — từng làm vào mùa hè năm ngoái, khi cảnh sát ngăn cản các buổi mít tinh của họ. Họ đã kéo đến địa điểm họp với lực lượng đông đảo, sẵn sàng phát biểu bất chấp sự ngăn cản; và họ đã buộc cảnh sát phải nhượng bộ. Dù rằng việc chống lại những kẻ thi hành pháp luật đại diện cho ý chí của đa số xét cho cùng là điều phi lý đối với họ, nhưng đó lại là một hành động trực tiếp vô cùng tuyệt vời và thành công.
Những người mà bản chất niềm tin của họ chỉ cam kết thuần túy với Hành động trực tiếp là những ai? Chà, chính là những người theo chủ nghĩa bất bạo động; đích xác là những người hoàn toàn không tin vào bạo lực! Giờ thì đừng mắc sai lầm khi suy diễn rằng tôi đang nói hành động trực tiếp đồng nghĩa với sự bất bạo động; không hề có chuyện đó. Hành động trực tiếp có thể là đỉnh điểm của bạo lực, hoặc cũng có thể hiền hòa như dòng suối Silôa êm đềm chảy. Điều tôi muốn nói là, những tín đồ thực sự của chủ nghĩa bất bạo động chỉ có thể tin vào hành động trực tiếp, chứ không bao giờ tin vào hành động chính trị. Bởi vì nền tảng của mọi hành động chính trị chính là sự cưỡng chế; ngay cả khi Nhà nước làm những việc tốt, quyền lực để họ thực thi những điều đó cuối cùng vẫn dựa trên gậy gộc, súng đạn hay nhà tù.
Giờ đây, mọi đứa trẻ đi học ở Hoa Kỳ đều đã được nhà trường cho biết về hành động trực tiếp của một số tín đồ bất bạo động thông qua môn lịch sử. Trường hợp mà ai ai cũng ngay lập tức nhớ đến là những người Quaker thời kỳ đầu khi họ đặt chân đến Massachusetts. Người Thanh giáo từng cáo buộc những người Quaker rằng họ “gây rối thế gian bằng cách rao giảng hòa bình cho thế gian ấy”. Họ từ chối đóng thuế nhà thờ; họ từ chối mang vũ khí; họ từ chối tuyên thệ trung thành với bất kỳ chính phủ nào. (Khi làm như vậy, họ chính là những người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp; điều mà chúng ta có thể gọi là những người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp mang tính phủ định). Thế nên, vốn là những người theo chủ nghĩa hành động chính trị, người Thanh giáo đã thông qua các bộ luật nhằm ngăn chặn, trục xuất, phạt tiền, tống giam, tra tấn cắt xẻo, và cuối cùng là treo cổ họ. Và những người Quaker vẫn cứ tiếp tục kéo đến (đó là hành động trực tiếp mang tính khẳng định); và lịch sử ghi chép lại rằng sau khi bốn người Quaker bị treo cổ và Margaret Brewster bị roi quất dọc theo đuôi xe ngựa khắp các đường phố Boston, “người Thanh giáo đã từ bỏ ý định khuất phục những nhà truyền giáo mới ấy”; rằng “sự kiên trì và chủ nghĩa bất bạo động của người Quaker đã giành chiến thắng.”
Một ví dụ khác về hành động trực tiếp trong lịch sử thuộc địa thời kỳ đầu, nhưng lần này hoàn toàn không mang tính hòa bình, chính là sự kiện được biết đến với tên gọi Cuộc nổi dậy của Bacon. Tất cả các sử gia của chúng ta chắc chắn đều biện hộ cho hành động của những kẻ nổi dậy trong vụ việc đó, và điều đó là hợp lý, bởi vì họ đã đúng. Thế nhưng đó lại là một trường hợp hành động trực tiếp mang tính bạo lực chống lại nhà cầm quyền được thành lập hợp pháp. Dành cho những ai đã quên mất các chi tiết, xin phép được nhắc lại vắn tắt rằng các chủ đồn điền ở Virginia đang lâm vào nỗi sợ hãi trước một cuộc tấn công tổng lực từ người da đỏ; và họ có lý do để sợ. Vốn là những người theo chủ nghĩa hành động chính trị, họ đã yêu cầu, hoặc Bacon với tư cách là thủ lĩnh của họ đã yêu cầu, viên thống đốc cấp cho ông ta một ủy nhiệm để chiêu mộ các lực lượng tình nguyện tự vệ. Viên thống đốc e ngại rằng một đội quân vũ trang như thế sẽ là mối đe dọa đối với ông ta; và ông ta cũng có lý do riêng. Ông ta từ chối cấp giấy ủy nhiệm. Thế là các chủ đồn điền bèn nhờ cậy đến hành động trực tiếp. Họ tự chiêu mộ lực lượng tình nguyện mà không cần giấy ủy nhiệm, và đã chiến đấu thành công để đẩy lùi người da đỏ. Bacon bị viên thống đốc tuyên bố là kẻ phản quốc; nhưng vì nhân dân đứng về phía ông, viên thống đốc đành sợ hãi không dám tiến hành trừng phạt. Dẫu vậy, sự việc rốt cuộc đã đẩy tới mức những kẻ nổi dậy đã đốt phá Jamestown; và nếu không vì cái chết bất ngờ của Bacon, chắc hẳn còn nhiều điều to tát hơn nữa đã được thực hiện. Đương nhiên là sự phản kích sau đó vô cùng khủng khiếp, như thường lệ vẫn thế ở bất cứ đâu mà một cuộc nổi dậy sụp đổ hoặc bị dập tắt. Thế nhưng ngay cả trong khoảng thời gian thành công ngắn ngủi ấy, nó cũng đã kịp chấn chỉnh kha khá những thói nhũng nhiễu. Tôi hoàn toàn chắc chắn rằng những kẻ chủ trương hành động-chính trị-bằng-mọi-giá vào thời đại đó, sau khi phe phản động giành lại được quyền lực, hẳn đã phải thốt lên rằng: “Hãy nhìn xem hành động trực tiếp đã đẩy chúng ta vào những hiểm họa nào kìa! Kìa nhìn xem, sự tiến bộ của xứ thuộc địa đã bị thụt lùi đi hai mươi lăm năm rồi”; mà quên mất rằng nếu các thực dân không nhờ cậy đến hành động trực tiếp, thì da đầu của họ đã bị người da đỏ lột sạch từ một năm trước đó rồi, thay vì việc một số người trong số họ bị viên thống đốc treo cổ vào một năm sau.
Trong giai đoạn sục sôi náo động trước thềm cách mạng, đã có đủ mọi hình thái và chủng loại hành động trực tiếp, từ ôn hòa nhất cho đến bạo lực nhất; và tôi tin rằng hầu như bất kỳ ai nghiên cứu lịch sử Hoa Kỳ cũng đều thấy những trang kể về các sự kiện này là phần hấp dẫn nhất của câu chuyện, là phần khắc sâu vào trí nhớ họ một cách dễ dàng nhất.
Trong số những bước đi ôn hòa từng được thực hiện, có thể kể đến các thỏa thuận tẩy chay hàng nhập khẩu, các liên minh mặc trang phục vải tự dệt và các “ủy ban thư tín”. Khi sự phát triển tất yếu của lòng thù địch tiến triển, hành động trực tiếp mang tính bạo lực đã thành hình; ví dụ như trong vấn đề tiêu hủy tem thuế quan, hoặc hành động liên quan đến các con tàu chở chè — hoặc bằng cách không cho phép chè được bốc dỡ lên bờ, hoặc đem cất vào kho ẩm ướt, hoặc ném thẳng xuống cảng biển như ở Boston, hoặc ép chủ tàu chè phải tự tay châm lửa đốt con tàu của chính mình giống như ở Annapolis. Đây đều là những hành động được ghi chép lại trong những cuốn sách giáo khoa phổ thông nhất của chúng ta, tuyệt đối không hề mang giọng điệu lên án, thậm chí chẳng có lấy một lời biện hộ, dẫu cho tất cả đều là những trường hợp hành động trực tiếp chống lại chính quyền hợp pháp và các quyền sở hữu tài sản. Nếu tôi thu hút sự chú ý đến chúng cùng những vụ việc tương tự khác, ấy là để chứng minh cho những kẻ nhại lại lời người khác mà không chịu suy ngẫm rằng hành động trực tiếp từ xưa đến nay vẫn luôn được sử dụng, và nó mang sự bảo chứng lịch sử từ chính những kẻ hiện đang lớn tiếng quở trách nó.
George Washington được cho là thủ lĩnh của liên minh tẩy chay hàng nhập khẩu của các chủ đồn điền Virginia: ngày nay, ông có lẽ sẽ bị tòa án “ra lệnh cấm” không cho phép lập bất kỳ liên minh nào như thế; và nếu ông vẫn ngoan cố, ông sẽ bị khép tội khinh miệt tòa án và phạt tiền.
Khi cuộc tranh cãi lớn giữa miền Bắc và miền Nam ngày càng trở nên sục sôi gay gắt, lại một lần nữa chính hành động trực tiếp đã đóng vai trò mở màn và thúc bách hành động chính trị. Và tôi cũng xin được lưu ý tại đây rằng hành động chính trị chưa bao giờ được thực hiện, thậm chí chưa bao giờ được mường tượng đến, cho đến khi những tâm trí đang ngủ quên trước tiên được đánh thức bởi những hành động kháng cự trực tiếp nhắm vào các thực trạng hiện hữu.
Lịch sử của phong trào bãi nô và cuộc Nội chiến là một trong những nghịch lý vĩ đại nhất, dẫu cho bản thân lịch sử vốn dĩ là một chuỗi những nghịch lý. Nói theo ngôn ngữ chính trị, chính các Bang chủ nô mới là những người đứng lên bảo vệ tự do chính trị lớn hơn, bảo vệ quyền tự trị của từng bang riêng lẻ trước sự can thiệp của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ; nói theo ngôn ngữ chính trị, chính các Bang không chủ nô mới là những người ủng hộ một chính quyền trung ương tập quyền vững mạnh — điều mà những kẻ Ly khai từng tuyên bố, và tuyên bố hoàn toàn chính xác, rằng nó chắc chắn sẽ tiến triển ngày một xa hơn theo những hình thức ngày càng chuyên chế. Và điều đó đã thực sự xảy ra. Kể từ khi cuộc Nội chiến khép lại cho đến nay, quyền lực liên bang đã không ngừng lấn chiếm sang những lĩnh vực vốn từng thuộc về thẩm quyền riêng của từng bang. Những người nô lệ làm thuê, trong các cuộc đấu tranh của họ ngày nay, liên tục bị xô đẩy vào xung đột với thứ quyền lực tập trung ấy — thứ quyền lực mà trước đây từng bị chủ nô phản đối (với tự do trên môi nhưng sự bạo tàn ngự trị trong tim). Nói theo ngôn ngữ đạo đức, nhìn chung chính các Bang không chủ nô mới là những lực lượng đại diện cho tự do con người lớn hơn, trong khi những kẻ Ly khai lại bảo vệ chủ đề nô lệ chủng tộc. Nói theo nghĩa chung nhất mà thôi; nghĩa là, phần lớn cư dân miền Bắc, do không quen với sự hiện diện thực tế của nô lệ da đen quanh mình, đã cho rằng đó có lẽ là một sự lầm lẫn; tuy vậy họ chẳng hề sục sôi lo lắng đến mức phải tìm cách xóa bỏ nó. Chỉ có những người theo chủ nghĩa Bãi nô là những nhà đạo đức chân chính — và số lượng của họ tương đối ít — đối với họ, bản thân chế độ nô lệ — chứ không phải sự ly khai hay liên hiệp — mới là vấn đề cốt lõi. Trên thực tế, vấn đề này đối với họ lại có tầm quan trọng tối thượng đến mức một lượng đáng kể trong số họ chủ trương giải thể liên minh, họ vận động để miền Bắc đóng vai trò tiên phong trong việc giải thể, nhằm giúp cho người dân miền Bắc rũ sạch thứ ô danh duy trì xiềng xích trên cổ những người da đen.
Đương nhiên, trong số những người chủ trương bãi bỏ chế độ nô lệ có đủ mọi thành phần với đủ mọi kiểu tính cách khác nhau. Có những tín đồ Quaker như Whittier (thực chất chính những tín đồ Quaker chủ trương hòa bình-bằng-mọi-giá ấy đã vận động bãi nô từ tận thời kỳ đầu của các thuộc địa); có những người theo chủ nghĩa hành động chính trị ôn hòa, chủ trương dùng tiền mua chuộc để giải phóng nô lệ như là cách rẻ tiền nhất; và cũng có những con người cực kỳ bạo lực, những kẻ tin tưởng và thực hiện đủ mọi hành vi bạo lực.
Còn về những gì giới chính trị gia đã làm, đó là một bản ghi chép dài dằng dặc về “cách thức-không-làm-được-gì”, một biên niên sử về ba mươi năm thỏa hiệp, mặc cả, tìm cách duy trì nguyên trạng mọi thứ và ném những mẩu bánh mồi cho cả hai phe khi những điều kiện mới đòi hỏi phải hành động, hoặc phải ra vẻ làm điều gì đó. Thế nhưng “các vì sao trên quỹ đạo của họ đã chiến đấu chống lại Sisera”; hệ thống đang tự rạn nứt từ bên trong, và những người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp từ bên ngoài cũng đang không thương tiếc nới rộng thêm những vết nứt ấy.
Nằm trong số các biểu hiện đa dạng của sự nổi dậy trực tiếp chính là việc tổ chức ra “tuyến đường sắt ngầm”. Hầu như tất cả những người tham gia vào tổ chức này đều tin tưởng vào cả hai hình thức hành động; nhưng dẫu họ có trên lý thuyết thừa nhận quyền của đa số trong việc ban hành và cưỡng chế luật pháp, họ lại không tin điều đó trong trường hợp này. Ông nội tôi từng là thành viên của tổ chức “ngầm” ấy; không biết bao nhiêu lần chính tay ông đã giúp những người nô lệ đào tẩu trên hành trình tìm đến Canada. Ông là một người vô cùng kiên nhẫn, tuân thủ pháp luật xét trên hầu hết mọi phương diện, dẫu tôi vẫn thường nghĩ rằng có lẽ ông tôn trọng luật pháp chẳng qua vì ông ít khi phải dính líu đến nó; luôn sống một cuộc đời của kẻ khai hoang mở cõi, luật pháp thường ở rất xa ông, trong khi hành động trực tiếp lại là điều bức thiết. Dù thế nào đi nữa, và dẫu có tôn trọng luật pháp đến đâu đi chăng nữa, ông hoàn toàn không dành một chút tôn trọng nào cho luật lệ nô lệ, dẫu cho chúng có được ban hành bởi một đa số gấp mười lần đi chăng nữa; và ông đã tận tâm phá bỏ từng đạo luật một mỗi khi chúng ngáng đường ông.
Đã có những thời điểm trong hoạt động của “tuyến đường sắt ngầm”, bạo lực là điều bắt buộc phải có và đã được sử dụng. Tôi nhớ có lần một người bạn cũ kể lại cho tôi nghe về việc bà và mẹ mình đã thức trắng đêm canh gác ở cửa ra vào, trong lúc một người nô lệ đang bị một đội tuần lậu truy lùng ẩn nấp dưới tầng hầm; và dẫu họ có gốc gác và sự đồng cảm với giáo phái Quaker, trên bàn vẫn đặt một khẩu súng săn. May mắn thay là đêm đó đã không phải dùng đến nó.
Khi đạo luật về nô lệ đào tẩu được thông qua, với sự giúp sức từ những kẻ chủ trương hành động chính trị ở miền Bắc — những kẻ muốn dâng thêm một miếng mồi nhử mới cho các chủ đồn điền, những người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp đã lao vào giải cứu những kẻ trốn chạy bị bắt lại. Đã có sự kiện “giải cứu Shadrach”, và “giải cứu Jerry” — nhóm người giải cứu sau này do danh nhân Gerrit Smith lãnh đạo; cùng với vô số những nỗ lực thành công lẫn thất bại khác. Thế nhưng giới chính trị gia vẫn tiếp tục loay hoay tìm cách xoa dịu mọi chuyện, còn những người theo chủ nghĩa Bãi nô thì bị denunciation (lên án) và đả kích bởi những kẻ theo chủ nghĩa hòa bình siêu-tuân-thủ-pháp-luật, chẳng khác nào cách mà Wm. D. Haywood và Frank Bohn đang bị chính đảng của họ lên án lúc này.
Hôm nọ tôi đọc được một bài viết trên tờ Chicago Daily Socialist do thư ký chi bộ đảng Xã hội tại Louisville gửi cho thư ký toàn quốc, yêu cầu cử một diễn giả an toàn và tỉnh táo nào đó thay thế cho Bohn — người vốn đã được thông báo sẽ đến diễn thuyết ở đó. Khi giải thích lý do, ông Dobbs, vị thư ký, đã trích dẫn câu nói này từ bài giảng của Bohn: “Nếu nhà McNamara thành công trong việc bảo vệ quyền lợi của giai cấp công nhân, họ đã đúng, giống y như John Brown đã đúng nếu ông thành công trong việc giải phóng nô lệ. Sự ngu dốt là tội ác duy nhất của John Brown, và sự ngu dốt cũng là tội ác duy nhất của nhà McNamara.”
Trước câu nói này, ông Dobbs đã đưa ra lời bình luận như sau: “Chúng tôi kịch liệt bác bỏ những nhận định được đưa ra ở đây. Nỗ lực vẽ ra một sự tương đồng giữa cuộc nổi dậy công khai — dù có sai lầm — của John Brown một bên, với các phương thức bí mật và đẫm máu của nhà McNamara bên kia, không chỉ là dấu hiệu của một tư duy hời hợt mà còn mang tính phá hoại cao độ trong các kết luận logic có thể rút ra từ những phát ngôn như thế.”
Hiển nhiên là ông Dobbs rất mù mịt về cuộc đời và sự nghiệp của John Brown. John Brown là một con người của bạo lực; ông sẽ khinh bỉ bất kỳ nỗ lực nào muốn biến ông thành một kẻ khác. Và một khi một người đã là tín đồ của bạo lực, đối với anh ta đó chỉ là vấn đề làm sao áp dụng nó theo cách thức hiệu quả nhất, điều vốn chỉ có thể được quyết định bởi hiểu biết về hoàn cảnh và các phương tiện sẵn có trong tay. John Brown không hề nao núng trước các phương thức âm mưu. Những ai từng đọc tự truyện của Frederick Douglas và Hồi ký của Lucy Colman sẽ nhớ rằng một trong những kế hoạch được John Brown vạch ra là tổ chức một chuỗi các trại vũ trang tại các vùng núi ở Tây Virginia, Bắc Carolina và Tennessee, cử những mật sứ thâm nhập vào hàng ngũ nô lệ để kích động họ trốn chạy đến các trại này, và tại đó bàn bạc những biện pháp tùy theo thời thế và hoàn cảnh cho phép để tiếp tục khơi ngào ngọn lửa nổi dậy trong cộng đồng người da đen. Kế hoạch ấy thất bại chủ yếu là do khát vọng tự do quá đỗi yếu ớt của chính những người nô lệ mà thôi.
Về sau, khi các chính trị gia bằng muôn vàn mưu chước khôn ngoan lại nhào nặn ra một đề xuất mới toanh về cách thức-không-làm-được-gì, được biết đến với tên gọi Đạo luật Kansas-Nebraska — thứ trao phó vấn đề nô lệ cho các di dân tự quyết định, những người theo chủ nghĩa hành động trực tiếp ở cả hai phe đã đưa những di dân trá hình vào vùng lãnh thổ đó, và họ bắt đầu lao vào chiến đấu một mất một còn. Phe ủng hộ nô lệ, những kẻ đặt chân đến trước, đã lập ra một bản hiến pháp công nhận chế độ nô lệ và một đạo luật trừng phạt bằng tử hình bất cứ ai giúp đỡ nô lệ trốn chạy; nhưng phe Tự do miền Đất (Free Soilers), do đến nơi muộn hơn một chút vì xuất phát từ các tiểu bang xa xôi hơn, đã lập ra một bản hiến pháp thứ hai và hoàn toàn từ chối công nhận luật lệ của phe bên kia. Và John Brown đã có mặt ở đó, nhúng tay vào mọi thứ bạo lực, dù là âm mưu hay công khai; trong mắt những con người tử tế, ôn hòa, chuộng hành động chính trị, ông là “một tên trộm ngựa và kẻ sát nhân”. Và không còn nghi ngờ gì nữa, ông thực sự đã ăn cắp ngựa, chẳng thèm đưa ra thông báo trước về ý định trộm cắp của mình, và ông cũng đã giết những kẻ ủng hộ nô lệ. Ông đã tấn công rồi rút lui không biết bao nhiêu lần trước nỗ lực cuối cùng nhúng tay vào Harper's Ferry. Nếu ông không sử dụng thuốc nổ, ấy là vì thuốc nổ lúc bấy giờ vẫn chưa xuất hiện như một thứ vũ khí thực tế. Ông đã thực hiện nhiều cuộc tấn công có chủ ý nhắm vào tính mạng con người hơn cả hai anh em mà thư ký Dobbs đang lên án vì “các phương thức đẫm máu” của họ. Thế nhưng, lịch sử chưa bao giờ thất bại trong việc thấu hiểu John Brown. Nhân loại thừa biết rằng dẫu ông là một kẻ bạo lực với đôi tay vấy máu người, một kẻ phạm tội phản quốc và bị treo cổ vì tội đó, thì tâm hồn ông vẫn là một tâm hồn lớn lao, kiên cường, vị tha, không thể chịu đựng nổi tội ác khủng khiếp đã giam hãm 4.000.000 con người như những súc vật câm lặng, và ông cho rằng việc gây chiến chống lại tội ác ấy là một bổn phận thiêng liêng, được Chúa gọi mời (bởi vì John Brown là một người vô cùng sùng đạo — theo hệ phái Trưởng lão).
Chính nhờ và vì những hành động trực tiếp của những kẻ dọn đường cho sự thay đổi xã hội, dù chúng mang bản chất ôn hòa hay hiếu chiến, mà Lương tâm Nhân loại, lương tâm của đại quần chúng, mới được đánh thức trước nhu cầu phải thay đổi. Sẽ thật là ngớ ngẩn nếu cho rằng không có kết quả tốt đẹp nào từng được tạo ra bởi hành động chính trị; đôi khi những điều tốt đẹp vẫn xuất hiện theo con đường đó. Nhưng điều đó không bao giờ xảy ra cho đến khi sự nổi dậy của cá nhân, tiếp nối bằng sự nổi dậy của quần chúng, buộc nó phải xảy ra. Hành động trực tiếp luôn là tiếng kêu gọi, là kẻ khởi xướng, thông qua đó khối đông đảo những kẻ dửng dưng nhận thức được rằng sự áp bức đang trở nên không thể dung thứ.
Chúng ta giờ đây đang phải đối mặt với sự áp bức trên mảnh đất này — và không chỉ trên mảnh đất này, mà còn ở khắp mọi nơi trên thế giới đang tận hưởng những phúc lơ lửng đầy pha tạp của Nền văn minh. Và cũng giống như trong vấn đề nô lệ nông nô thời trước, hình thức nô lệ này cũng đang sinh sôi ra cả hành động trực tiếp lẫn hành động chính trị. Một tỷ lệ nhất định dân số của chúng ta (có lẽ là một tỷ lệ nhỏ hơn nhiều so với những gì các chính trị gia thường hay mường tượng tại các buổi mít tinh đông người) đang tạo ra của cải vật chất mà tất cả phần còn lại của chúng ta đang sống nhờ vào đó; hệt như việc chính 4.000.000 người da đen nô lệ đã nuôi sống toàn bộ đám đông ăn bám đứng trên đầu họ. Đó chính là những người làm nông nghiệp và công nhân công nghiệp.
Thông qua sự vận hành không thể tiên liệu và không tài nào tiên liệu nổi của các thể chế mà không một cá nhân nào trong chúng ta tạo ra, nhưng lại tìm thấy sự tồn tại của chúng khi bước chân đến thế gian này, những người công nhân ấy — phần cốt lõi tuyệt đối không thể thiếu của toàn bộ cấu trúc xã hội, không có sự phục vụ của họ thì chẳng ai có thể ăn uống, mặc hay có nơi che chở cho chính mình — lại chính là những kẻ nhận được ít thức ăn nhất, ít quần áo mặc nhất và ít không gian trú ngụ nhất — chưa kể đến phần chia của họ trong các lợi ích xã hội khác mà phần còn lại của chúng ta được cho là có trách nhiệm cung cấp, chẳng hạn như giáo dục và các hưởng thụ nghệ thuật.
Những người công nhân này, dưới hình thức này hay hình thức khác, đã cùng nhau hợp sức để xem họ có thể giành được sự cải thiện nào cho hoàn cảnh của mình; trước hết là bằng hành động trực tiếp, thứ đến là thông qua hành động chính trị. Chúng ta từng có phong trào Grange, Liên minh Nông dân, các Hiệp hội Hợp tác xã, các Thử nghiệm Định cư, Hiệp hội Hiệp sĩ Lao động (Knights of Labor), các Công đoàn Thương mại, và Tổ chức Công nhân Công nghiệp Thế giới. Tất cả bọn họ đều được tổ chức ra với mục đích ép buộc giới chủ trên mặt trận kinh tế phải nhả ra một mức giá tốt hơn một chút, những điều kiện làm việc khá hơn một chút, số giờ làm việc ngắn hơn một chút; hoặc mặt khác, để chống lại việc bị ép giảm giá, điều kiện tồi tệ hơn, hay giờ làm dài hơn. Không một tổ chức nào trong số đó từng mưu cầu một giải pháp rốt ráo cho cuộc chiến tranh giai cấp. Không một ai trong số họ, ngoại trừ Tổ chức Công nhân Công nghiệp Thế giới, nhận ra rằng đang tồn tại một cuộc chiến tranh giai cấp — một cuộc chiến tất yếu chừng nào các điều kiện pháp lý-xã hội hiện tại còn duy trì. Họ chấp nhận các thể chế tài sản y nguyên như những gì họ tìm thấy. Họ bao gồm những con người bình thường, với những ham muốn bình thường, và họ gánh vác việc thực hiện những điều có vẻ khả thi và rất hợp lý đối với họ. Họ không hề cam kết đi theo bất kỳ đường lối chính trị cụ thể nào khi thành lập, mà liên kết với nhau vì hành động trực tiếp do chính họ khởi xướng, dù là tích cực hay phòng vệ.
Không còn nghi ngờ gì nữa, trong tất cả các tổ chức này, đã và đang có những thành viên nhìn xa hơn những đòi hỏi trước mắt; những người đã nhìn thấy rằng sự phát triển không ngừng của các lực lượng đang vận hành chắc chắn sẽ mang lại những hoàn cảnh mà cuộc sống không thể nào tiếp tục chịu đựng được nữa, và do đó, cuộc sống sẽ phản kháng, sẽ phản kháng một cách bạo liệt; rằng nó sẽ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm thế; rằng nó bắt buộc phải làm vậy nếu không muốn gục ngã ngoan ngoãn; và vì bản chất của cuộc sống không phải là đầu hàng không tranh đấu, nó sẽ không chịu gục ngã một cách ngoan ngoãn. Hai mươi hai năm trước, tôi từng gặp những con người thuộc Liên minh Nông dân nói như thế, những Hiệp sĩ Lao động nói như thế, những đoàn viên Công đoàn nói như thế. Họ mong muốn những mục tiêu lớn lao hơn những gì mà các tổ chức của họ đang nhắm tới; nhưng họ buộc phải chấp nhận các đồng nghiệp của mình đúng như bản chất vốn có của họ, và tìm cách thúc đẩy họ hành động vì những điều mà họ có thể làm cho số đông ấy thấy được. Và những gì họ có thể thấy chính là giá cả khá hơn, tiền công cao hơn, những điều kiện bớt nguy hiểm hoặc bớt bạo ngược hơn, giờ làm ngắn hơn. Ở giai đoạn phát triển khi các phong trào này được khởi xướng, những người làm nông nghiệp không thể thấy rằng cuộc đấu tranh của họ có bất kỳ liên quan gì đến cuộc đấu tranh của những người tham gia vào lĩnh vực sản xuất hay vận tải; và những người sau này cũng chẳng thể thấy rằng cuộc vận động của họ dính líu gì đến phong trào của nông dân. Cho đến tận bây giờ, rất ít người trong số họ nhận ra điều đó. Họ vẫn còn phải học hỏi rằng chỉ có một cuộc đấu tranh chung duy nhất chống lại những kẻ đã chiếm đoạt trái đất, tiền bạc và máy móc.
Đáng tiếc thay, tổ chức vĩ đại của nông dân đã tự tàn lụi trong một cuộc rượt đuổi ngu ngốc theo đuổi quyền lực chính trị. Họ đã khá thành công trong việc giành lấy quyền lực ở một số tiểu bang nhất định; nhưng các tòa án đã tuyên bố luật lệ do họ đặt ra là vi hiến, và đó chính là huyệt mộ chôn vùi mọi chiến thắng chính trị của họ. Chương trình ban đầu của họ là tự xây dựng các tòa tháp kho chứa của riêng mình, cất giữ nông sản trong đó, giữ chúng lại không đem bán ra thị trường cho đến khi có thể né tránh được giới đầu cơ. Thêm vào đó, họ tổ chức các sàn giao dịch lao động, phát hành các giấy ghi nợ tín dụng dựa trên nông sản được ký gửi để trao đổi. Nếu họ kiên trì bám lấy chương trình hỗ trợ tương trợ trực tiếp này, thì đến một mức độ nào đó, ít nhất là trong một khoảng thời gian, họ đã có thể cung cấp một minh họa sống động về cách nhân loại tự giải phóng bản thân khỏi nạn ăn bám của giới chủ ngân hàng và tầng lớp trung gian. Tất nhiên, cuối cùng thì họ cũng sẽ bị lật đổ, trừ phi họ đã cách mạng hóa tư duy của con người thông qua tấm gương đó đến mức buộc phải lật đổ độc quyền hợp pháp về ruộng đất và tiền tệ; nhưng ít nhất nó cũng đã phục vụ cho một mục đích giáo dục vĩ đại. Đáng tiếc là họ lại đi “săn đuổi con cá trích đỏ” [chạy theo những thứ đánh lạc hướng], và rốt cuộc tan rã chỉ vì sự vô tích sự của chính mình.
Hiệp sĩ Lao động đã chìm dần vào sự mờ mịt tương đối, không phải vì thất bại trong việc sử dụng hành động trực tiếp, cũng chẳng phải vì dính dáng đến chính trị — vốn dĩ rất ít ỏi, mà chủ yếu là vì đó là một khối quần chúng lao động pha tạp không thể liên kết các nỗ lực của họ một cách hiệu quả.
Các Công đoàn vươn lên mạnh mẽ vào khoảng thời gian Hiệp sĩ Lao động suy sụp, và tiếp tục gia tăng quyền lực một cách chậm rãi nhưng ngoan cường. Đúng là sự gia tăng ấy có lúc thăng lúc trầm; rằng đã có những bước thụt lùi; rằng những tổ chức đơn lẻ lớn mạnh đã được hình thành rồi lại giải thể. Nhưng nhìn chung, các công đoàn vẫn là một thế lực ngày càng lớn mạnh. Họ đạt được điều đó là vì, dẫu nghèo nàn và kém hiệu quả đến đâu đi chăng nữa, họ vẫn là một phương tiện nhờ đó một bộ phận công nhân nhất định có thể đem sức mạnh hợp nhất của mình giáng thẳng vào giới chủ, qua đó giành lấy cho bản thân một phần những gì họ muốn — những gì mà hoàn cảnh ép buộc họ phải tìm cách giành lấy. Cuộc đình công chính là thứ vũ khí tự nhiên của họ, là thứ do chính tay họ rèn nên. Chính cú đánh trực tiếp từ cuộc đình công là thứ mà chín trên mười lần tên chủ xưởng phải khiếp sợ. (Tất nhiên vẫn có những dịp hắn cảm thấy vui mừng vì một cuộc đình công, nhưng điều đó là hiếm hoi). Và lý do hắn kinh hoàng một cuộc đình công không phải vì hắn nghĩ mình không thể chiến thắng nổi nó, mà đơn giản và thuần túy vì hắn không muốn công việc kinh doanh của mình bị gián đoạn.
Tên chủ xưởng bình thường không mấy e sợ một “lá phiếu ý thức giai cấp”; có rất nhiều xưởng rèn nơi bạn có thể tha hồ bàn về Chủ nghĩa Xã hội hay bất kỳ chương trình chính trị nào suốt cả ngày dài; nhưng nếu bạn bắt đầu bàn về Chủ nghĩa Công đoàn, bạn hãy chuẩn bị tinh thần bị sa thải ngay lập tức, hoặc tệ nhất là bị cảnh cáo phải ngậm miệng lại. Tại sao? Không phải vì tên chủ xưởng khôn ngoan đến mức hiểu rằng hành động chính trị là một đầm lầy khiến người lao động ngập lún, hay vì hắn thấu hiểu rằng Chủ nghĩa Xã hội chính trị đang nhanh chóng trở thành một phong trào của tầng lớp trung lưu; không hề có chuyện đó. Hắn nghĩ Chủ nghĩa Xã hội là một điều vô cùng tồi tệ; nhưng nó còn ở một tương lai rất xa! Thế nhưng hắn thừa biết rằng nếu nhà xưởng của hắn bị công đoàn hóa, hắn sẽ gặp rắc rối ngay lập tức. Công nhân của hắn sẽ nổi loạn, hắn sẽ tốn kém chi phí để cải thiện các điều kiện trong nhà máy, hắn sẽ phải giữ lại những người công nhân mà hắn không hề ưa, và trong trường hợp xảy ra đình công, hắn hoàn toàn có thể đối mặt với nguy cơ máy móc hay nhà xưởng bị phá hoại.
Người ta vẫn thường nói, và nhại lại như con vẹt, rằng giới chủ “có ý thức giai cấp”, rằng chúng đoàn kết chặt chẽ vì lợi ích giai cấp của mình, và sẵn sàng chịu đựng bất kỳ tổn thất cá nhân nào miễn là không phản bội lại những lợi ích ấy. Sự thật hoàn toàn không phải vậy. Đa phần những kẻ làm kinh doanh cũng giống y như đa phần những người lao động; chúng quan tâm đến sự thua lỗ hay ganh tị cá nhân của mình nhiều hơn gấp bội so với lợi ích hay tổn thất của cả giai cấp chúng. Và thứ tổn thất cá nhân mà tên chủ xưởng nhìn thấy chính là khi hắn bị công đoàn đe dọa.
Giờ thì ai ai cũng biết rằng một cuộc đình công với bất kỳ quy mô nào cũng đồng nghĩa với bạo lực. Mặc cho sở thích đạo đức chuộng hòa bình của bất kỳ ai đi nữa, họ thừa biết rằng nó sẽ chẳng bao giờ ôn hòa cả. Nếu đó là một cuộc đình công của ngành điện báo, nó đồng nghĩa với việc chặt đứt dây cáp và cột điện, lùa những kẻ phá đình công giả mạo vào để phá hoại máy móc. Nếu đó là một cuộc đình công tại nhà máy cán thép, nó đồng nghĩa với việc nện cho bọn phá đình công một trận, đập vỡ cửa sổ, vặn lệch các đồng hồ đo, và hủy hoại những trục cán đắt tiền cùng hàng tấn nguyên vật liệu. Nếu đó là một cuộc đình công của thợ mỏ, nó đồng nghĩa với việc phá hủy đường ray, cầu cống và cho nổ tung các nhà máy. Nếu đó là một cuộc đình công của thợ may, nó đồng nghĩa với việc xảy ra những vụ hỏa hoạn khó hiểu, hứng chịu một làn mưa đá ném qua khung cửa sổ có vẻ như bất khả xâm phạm, hoặc có thể là một viên gạch rơi thẳng lên đầu nhà sản xuất. Nếu đó là một cuộc đình công xe điện, nó đồng nghĩa với việc đường ray bị cật phá hoặc bị rào chắn bởi đống rác thải và nước thải từ xe chở rác, với những cỗ xe bị lật nhào hoặc hàng rào bị đánh cắp, nó đồng nghĩa với những chiếc xe điện bị đập nát hay thiêu rụi và các đoạn đường ray bị bẻ quẹo hướng. Nếu đó là một cuộc đình công của hệ thống liên đoàn vận tải, nó đồng nghĩa với những cỗ máy “tê liệt”, những đầu máy chạy điên cuồng, những chuyến tàu hàng trật bánh và những đoàn tàu mắc kẹt. Nếu đó là một cuộc đình công của ngành xây dựng, nó đồng nghĩa với những công trình bị gài thuốc nổ. Và ở khắp mọi nơi, trong mọi thời điểm, là những cuộc ẩu đả giữa lực lượng phá đình công cùng bọn bán thân chống lại những công nhân đình công và những kẻ đồng cảm với đình công, giữa Nhân dân và Cảnh sát.
Về phía giới chủ, nó đồng nghĩa với đèn pha tìm kiếm, dây điện, trại rào chắn, chuồng trại nhốt người, thám tử và các điệp viên khiêu khích, các vụ bắt cóc và trục xuất bạo lực, cùng mọi mưu kế mà họ có thể tưởng tượng ra để tự bảo vệ trực tiếp, bên cạnh việc viện đến sự trợ giúp tối hậu từ cảnh sát, dân quân, hiến binh tiểu bang và quân đội liên bang.
Mọi người đều biết điều này; mọi người đều mỉm cười khi các quan chức công đoàn lớn tiếng quả quyết rằng tổ chức của họ rất ôn hòa và tuân thủ pháp luật, bởi vì ai nấy đều thừa biết rằng họ đang nói dối. Họ biết rằng bạo lực được sử dụng, cả trong bóng tối lẫn công khai; và họ biết nó được dùng bởi vì những công nhân đình công không thể làm cách nào khác, nếu không muốn từ bỏ cuộc chiến ngay lập tức. Họ cũng không hề nhầm lẫn những kẻ phải nhờ cậy đến bạo lực trong cơn khốn cùng ấy thành những tên tội hoại diệt làm những việc đó chỉ vì bản tính ngang bướng ăn sâu trong máu. Quần chúng nhân dân hiểu rằng họ làm những điều ấy qua thứ logic nghiệt ngã của một hoàn cảnh mà họ không hề tạo ra, nhưng lại ép buộc họ phải thực hiện các cuộc tấn công này để có thể tồn tại trong cuộc chiến sinh tồn, nếu không muốn trượt dã man xuống vực sâu không đáy của sự nghèo đói, nơi để Thần Chết tìm thấy họ trong bệnh viện nhà tế bần, ngoài hè phố thành phố, hay dưới dòng bùn nhão của sông sâu.
Đó chính là tấm bùa lựa chọn khủng khiếp mà những người lao động đang phải đối mặt; và đây là điều khiến cho những con người có bản tính nhân ái nhất — những kẻ sẵn lòng đi đường vòng để cứu giúp một chú chó bị thương, mang về nhà nuôi dưỡng một chú mèo hoang lạc mẹ, hay bước chánh qua một bên để tránh dẫm phải một con sâu — phải quay sang dùng đến bạo lực chống lại đồng loại của mình. Họ thừa biết, bởi những sự thật đã dạy cho họ điều đó, rằng đây là con đường duy nhất để chiến thắng, nếu họ còn có thể chiến thắng nổi. Và từ trước đến nay, tôi vẫn luôn thấy rằng một trong những điều hoàn toàn lố bịch nhất, lạc điệu nhất mà một người có thể làm hoặc nói, ấy là khi được tiếp cận để xin cứu trợ hay hỗ trợ từ một người công nhân đình công đang phải đối phó với một tình huống ngặt nghèo trước mắt, lại đáp lại bằng câu: “Hãy tự bỏ phiếu đưa mình lên nắm quyền đi!”, trong khi kỳ bầu cử tiếp theo còn cách đó sáu tháng, một năm, hay thậm chí hai năm nữa.
Đáng tiếc thay, những người hiểu rõ nhất cách thức bạo lực được sử dụng trong các cuộc chiến tranh công đoàn lại không thể đứng ra mà tuyên bố rằng: “Vào ngày đó, tại địa điểm đó, hành động cụ thể này đã được thực hiện, và kết quả là nhượng bộ này đã được ban phát, hay tên chủ xưởng nọ đã phải đầu hàng.” Làm như vậy sẽ đẩy sự tự do của họ vào vòng hiểm nguy, cũng như tước đi khả năng tiếp tục chiến đấu của họ. Do đó, những kẻ nắm rõ nhất sự tình buộc phải ngậm miệng giữ im lặng, và cười thầm trong tay áo, trong khi những kẻ chẳng biết gì lại tha hồ ba hoa khoác lác. Chính các sự kiện, chứ không phải lưỡi lè, mới là thứ làm rõ lập trường của họ.
Và đã có quá nhiều sự ba hoa khoác lác trong vài tuần lễ vừa qua. Các diễn giả và nhà văn, những người mà tôi tin là thật lòng bị thuyết phục rằng hành động chính trị, và chỉ có hành động chính trị mới có thể giành chiến thắng trong trận chiến của người lao động, đã liên tục đả kích thứ mà họ thích gọi là “hành động trực tiếp” (thứ mà họ thực chất muốn ám chỉ là bạo lực âm mưu) như là thủ phạm gây ra những tai họa khôn lường. Lấy ông Oscar Ameringer làm ví dụ, gần đây ông từng phát biểu tại một cuộc họp ở Chicago rằng quả bom Haymarket năm '86 đã đẩy phong trào đòi ngày làm tám giờ thụt lùi đi hai mươi lăm năm, với lập luận rằng phong trào đó đã có thể thành công vào thời điểm ấy nếu không có quả bom. Đó là một sai lầm lớn. Không ai có thể đo đạc chính xác bằng năm hay bằng tháng ảnh hưởng của một cú hích tiến lên hay một phản ứng thụt lùi. Không ai có thể chứng minh rằng phong trào ngày làm tám giờ có thể đã chiến thắng từ hai mươi lăm năm trước. Chúng ta biết rằng ngày làm tám giờ từng được đưa vào sách luật của bang Illinois vào năm 1871 thông qua hành động chính trị, và rồi vẫn y nguyên là một văn bản chết trên giấy. Rằng hành động trực tiếp của người lao động có thể giành chiến thắng vào thời điểm đó hay không, điều đó không thể chứng minh được; nhưng người ta có thể chỉ ra rằng có rất nhiều yếu tố hùng mạnh hơn quả bom Haymarket đã chống lại nó. Mặt khác, nếu sức ảnh hưởng phản động của quả bom thực sự mạnh mẽ đến thế, chúng ta lẽ ra phải tự nhiên kỳ vọng các điều kiện lao động và công đoàn tại Chicago sẽ tồi tệ hơn so với những thành phố nơi không có sự kiện nào như thế xảy ra. Ngược lại, dù có tồi tệ đến đâu đi nữa, các điều kiện chung của lao động tại Chicago vẫn tốt hơn ở hầu hết các thành phố lớn khác, và sức mạnh của các công đoàn tại đó còn phát triển mạnh mẽ hơn bất kỳ thành phố nào khác ở Mỹ ngoại trừ San Francisco. Thế nên nếu chúng ta muốn rút ra bất kỳ kết luận nào về ảnh hưởng của quả bom Haymarket, hãy ghi nhớ những sự thật này trong đầu. Về cá nhân mình, tôi không cho rằng sức ảnh hưởng của nó đối với phong trào lao động, xét như một phong trào, lại lớn lao đến thế.
Mọi chuyện cũng sẽ y như vậy với cơn cuồng nộ hiện tại xung quanh vấn đề bạo lực. Chẳng có điều gì mang tính nền tảng bị thay đổi cả. Hai người đàn ông đã bị tống giam vì những gì họ làm (hai mươi bốn năm trước, họ bị treo cổ vì những gì họ không làm); một vài người nữa có lẽ vẫn sẽ tiếp tục bị giam cầm. Nhưng các lực lượng của sự sống sẽ vẫn tiếp tục nổi dậy chống lại xiềng xích kinh tế của họ. Sẽ không có sự dừng lại nào trong cuộc nổi dậy ấy, mặc cho người ta có bỏ phiếu cho tấm vé nào hay thất bại trong việc bỏ phiếu, cho đến khi xiềng xích bị đập tan.
Làm thế nào xiềng xích sẽ bị đập tan?
Những người theo chủ nghĩa hành động chính trị bảo với chúng ta rằng điều đó sẽ chỉ xảy ra thông qua phương thức hành động của đảng phái giai cấp công nhân tại các hòm phiếu; bằng cách tự bỏ phiếu để nắm quyền sở hữu các nguồn sống và các công cụ lao động; bằng cách bỏ phiếu buộc những kẻ hiện đang thống trị các khu rừng, mỏ quặng, trang trại, đường thủy, nhà máy và xưởng xẻ, đồng thời nắm giữ cả sức mạnh quân sự để bảo vệ chúng, phải bàn giao quyền thống trị của họ cho nhân dân.
Và trong lúc chờ đợi?
Trong lúc chờ đợi thì hãy cứ ôn hòa, siêng năng, tuân thủ pháp luật, kiên nhẫn và tiết kiệm (giống như cách Madero từng bảo những người nông dân nghèo Mexico phải sống, sau khi ông ta bán rẻ họ cho Phố Wall)! Ngay cả khi một số người trong các bạn bị tước quyền bầu cử, cũng đừng đứng lên chống lại ngay cả điều đó, bởi vì nó có thể làm “thụt lùi đảng”.
Chà, tôi đã trình bày từ trước rằng thỉnh thoảng một chút ít điều tốt đẹp vẫn được hoàn thành thông qua hành động chính trị — và thậm chí không nhất thiết phải là hành động của đảng phái giai cấp công nhân. Nhưng tôi hoàn toàn bị thuyết phục rằng những điều tốt đẹp thỉnh thoảng đạt được ấy còn bị lấn át nhiều hơn bởi những cái ác; cũng giống như tôi tin chắc rằng dẫu đôi khi có những điều tồi tệ phát sinh từ hành động trực tiếp, chúng vẫn được bù đắp dư dả bởi những điều tốt đẹp.
Hầu như tất cả các bộ luật ban đầu được soạn thảo với thiện chí mang lại lợi ích cho người lao động, cuối cùng hoặc đã biến thành vũ khí trong tay kẻ thù của họ, hoặc trở thành những văn bản chết, trừ khi bản thân người lao động thông qua các tổ chức của mình trực tiếp ép buộc sự tuân thủ. Thế nên xét cho cùng, hành động trực tiếp mới là thứ mà người ta phải dựa vào bằng mọi giá. Lấy ví dụ về việc nhận lấy phần đầu dính hắc ín của một đạo luật, hãy nhìn sang đạo luật chống độc quyền — thứ từng được cho là mang lại lợi ích cho nhân dân nói chung và giai cấp công nhân nói riêng. Khoảng hai tuần trước, khoảng 250 thủ lĩnh công đoàn đã bị trát đòi hầu tòa để trả lời cho cáo buộc là những kẻ hình thành tập đoàn độc quyền, như một cách phản hồi từ phía công ty Illinois Central đối với các công nhân đình công của họ.
Nhưng tai họa của việc dồn hết niềm tin vào hành động gián tiếp còn lớn hơn rất nhiều so với những kết quả nhỏ nhặt ấy. Tai họa cốt lõi chính là nó tiêu diệt ý chí tự chủ, bóp nghẹt tinh thần nổi dậy cá nhân, dạy cho con người ta thói quen dựa dẫm vào người khác để làm thay những gì mà lẽ ra họ phải tự làm cho chính mình, những gì mà chỉ một mình họ mới có thể làm nổi; để rồi cuối cùng biến dị tật kỳ quái thành một thứ hữu cơ — đó là ý tưởng cho rằng bằng cách gom góp sự ù lì lại cho đến khi tích lũy được một số đông, thì nhờ vào thứ phép thuật kỳ lạ của số đông đó, sự ù lì ấy sẽ tự động hóa thành năng lượng. Nghĩa là, những con người đã đánh mất thói quen tự mình đứng lên chiến đấu như những cá nhân độc lập, những kẻ đã cúi đầu trước mọi bất công trong lúc mòn mỏi chờ đợi số đông lớn mạnh lên, sẽ bỗng nhiên lột xác thành những khối thuốc nổ hạng nặng của nhân loại chỉ bằng một tiến trình đóng gói tập thể thuần túy!
Tôi hoàn toàn đồng ý rằng các nguồn sống, và toàn bộ tài sản thiên nhiên của trái đất, cùng các công cụ cần thiết cho sản xuất hợp tác, phải trở thành những thứ tự do tiếp cận đối với tất cả mọi người. Đối với tôi, đó là một sự chắc chắn tuyệt đối rằng chủ nghĩa công đoàn buộc phải mở rộng và đào sâu các mục đích của nó, nếu không nó sẽ sụp đổ; và tôi cảm thấy chắc chắn rằng lô-gích của hoàn cảnh sẽ cưỡng ép họ phải nhận ra điều đó dần dần. Họ phải học ra một điều rằng vấn đề của người lao động sẽ không bao giờ có thể được giải quyết bằng cách đập cho đám phá đình công một trận, chừng nào chính sách của họ là tự giới hạn số lượng thành viên thông qua mức phí gia nhập cao cùng các hạn chế khác lại đang góp phần tạo ra thêm nhiều kẻ phá đình công. Họ phải học rằng tiến trình phát triển không nằm quá nhiều ở phương diện tiền lương cao hơn, mà là giờ làm ngắn hơn, điều sẽ cho phép họ gia tăng số lượng thành viên, dung nạp bất kỳ ai sẵn sàng bước vào công đoàn. Họ phải học rằng nếu muốn chiến thắng các trận chiến, tất cả các công nhân liên minh phải hành động cùng nhau, hành động chớp nhoáng (không thèm gửi thông báo trước cho giới chủ), và duy trì sự tự do để làm như vậy vào mọi thời điểm. Và cuối cùng, họ phải học rằng ngay cả khi đó (khi họ đã có một tổ chức hoàn chỉnh), họ cũng sẽ chẳng thể giành chiến thắng vĩnh viễn bất cứ điều gì trừ khi họ đứng lên đình công vì tất cả — không phải vì một mức lương, không phải vì một cải thiện nhỏ nhặt nào đó, mà là vì toàn bộ tài sản thiên nhiên của trái đất. Và tiến hành tước đoạt trực tiếp toàn bộ số đó!
Họ phải học rằng sức mạnh của họ không nằm ở lá phiếu bầu cử, mà sức mạnh của họ nằm ở khả năng có thể chặn đứng quá trình sản xuất. Thật là một sai lầm lớn khi cho rằng những người hưởng lương chiếm đa số trong số các cử tri. Người hưởng lương nay đây mai đó, và điều đó cản trở một số lượng lớn trong số họ đi bỏ phiếu; một tỷ lệ lớn lao trong số họ tại đất nước này là những người ngoại kiều không có quyền bầu cử. Bằng chứng hiển nhiên nhất cho thấy các nhà lãnh đạo Xã hội chủ nghĩa hiểu rõ điều này là họ đang thỏa hiệp với hệ thống tuyên truyền của mình trên mọi phương diện để giành lấy sự ủng hộ từ giới kinh doanh, tầng lớp tiểu tư sản. Các tờ báo tranh cử của họ hô hào rằng các phóng viên của họ đã được bảo đảm bởi những nhà mua trái phiếu Phố Wall rằng họ sẽ sẵn sàng mua trái phiếu Los Angeles từ một chính quyền xã hội chủ nghĩa chẳng kém gì từ một chính quyền tư bản; rằng chính quyền Milwaukee hiện tại là một phúc lớn cho giới tiểu thương; các bài viết quảng cáo của họ trấn an độc giả trong thành phố này rằng chúng ta không cần phải đến các đại bách hóa lớn để mua sắm — hãy mua sắm từ anh A anh B nào đó trên Đại lộ Milwaukee, người sẽ làm chúng ta thỏa mãn chẳng kém gì một tổ chức “kinh doanh lớn”. Tóm lại, họ đang dốc mọi nỗ lực tuyệt vọng để giành lấy sự ủng hộ, và kéo dài sự sống, cho cái tầng lớp trung lưu mà kinh tế học xã hội chủ nghĩa từng tuyên bố là phải bị nghiền nát ra thành mảnh vụn, bởi vì họ biết rằng họ không thể giành được đa số nếu thiếu vắng những thành phần đó.
Điều tối đa mà một đảng phái của giai cấp công nhân có thể làm, ngay cả khi các chính trị gia của họ giữ được sự liêm khiết, cũng chỉ là hình thành một phe phái hùng mạnh trong các cơ quan lập pháp — thứ có thể, bằng cách kết hợp lá phiếu của mình với bên này hay bên kia, giành lấy một số sự xoa dịu nhất định về mặt chính trị hoặc kinh tế.
Nhưng điều mà giai cấp công nhân có thể làm, một khi họ thực sự vươn mình thành một tổ chức gắn kết vững chắc, chính là cho tầng lớp tư sản thấy, thông qua việc đột ngột đình chỉ toàn bộ mọi hoạt động lao động, rằng toàn bộ cấu trúc xã hội đang đè nặng lên vai họ; rằng của cải của những kẻ khác hoàn toàn trở nên vô giá trị đối với chúng nếu thiếu đi hoạt động của người lao động; rằng những cuộc phản kháng như thế, những cuộc đình công như thế, là thứ vốn dĩ gắn liền với hệ thống tài sản, và sẽ liên tục lặp lại cho đến khi toàn bộ cái hệ thống đó bị xóa sổ — và sau khi đã chứng minh điều đó một cách hiệu quả, họ sẽ tiến hành tước đoạt.
“Nhưng còn sức mạnh quân sự,” kẻ theo chủ nghĩa hành động chính trị lên tiếng; “chúng ta phải giành lấy quyền lực chính trị, bằng không quân đội sẽ bị sử dụng để chống lại chúng ta!”
Chống lại một Cuộc Đình công Tổng lực thực sự, quân đội chẳng thể làm được gì cả. Ồ đúng vậy, nếu bạn có một Briand thuộc phái Xã hội chủ nghĩa nắm quyền, hắn có thể tuyên bố công nhân là “quan chức công lực” và tìm cách ép họ phải phục vụ chống lại chính đồng loại của mình! Nhưng trước bức tường thành vững chãi của một khối quần chúng lao động bất động, ngay cả một Briand cũng sẽ bị bẻ gãy.
Trong lúc chờ đợi, cho đến khi diễn ra cuộc bừng tỉnh mang tầm quốc tế này, cuộc chiến vẫn sẽ tiếp diễn như nó vẫn từng diễn ra, bất chấp mọi cơn cuồng nộ mà những con người có thiện chí nhưng không hiểu gì về sự sống và những nhu cầu tất yếu của nó có thể bày tỏ; bất chấp mọi nỗi run rẩy sợ hãi từ những kẻ lãnh đạo nhút nhát; bất chấp mọi sự trả thù mang tính phản động có thể bị giáng xuống; bất chấp mọi thứ vốn liếng chính trị mà các chính trị gia có thể moi móc từ hoàn cảnh ấy. Nó sẽ tiếp tục diễn ra bởi vì Sự sống đang gào thét đòi được sống, trong khi Tài sản lại chối bỏ quyền tự do được sống của nó; và Sự sống sẽ không chịu khuất phục.
Và không nên khuất phục.
Nó sẽ tiếp tục cho đến cái ngày mà một Nhân loại tự giải phóng chính mình đủ sức cất cao tiếng hát vang khúc ca về Con người của Swinburne:
Vinh quang thay Con người ở chốn tối cao,
Bởi Con người là chúa tể muôn loài.