Có những người phụ nữ sinh ra để sống trọn với những câu chuyện tình, tựa như những tia lửa bay vút lên trời cao. Ta có thể thấy điều đó trong mỗi ánh mắt họ nhìn ta, và cảm nhận được điều đó mỗi khi những ngón tay họ chạm nhẹ lên tay áo ta. Tối nọ, tại một buổi tiệc, có một đứa trẻ bốn tuổi vì quá ồn ào mà không tài nào ngủ được, bèn rón rén bò xuống phòng khách; con bé sợ đến chết khiếp nhưng cũng đầy kinh ngạc trước màn trình diễn vụng về của một vị khách cù bất cù bơ đang gân cổ ngâm nga nỗi đoạn trường của Othello. Một người phụ nữ hiền hậu bế thốc đứa bé lên lòng và hỏi: "Người ta sẽ làm gì cháu, nếu cháu cứ làm ầm lên thế kia?" — "Đánh cháu ạ," đứa bé thì thầm, đôi mắt đen tròn vừa vẻ ngưỡng mộ lại vừa sợ sệt, và vô cùng điệu đà, khi nó nép mặt rồi lú thú nhìn ra từ sau cổ áo người phụ nữ. Thế là mọi người đàn ông trong phòng lập tức đổ gục vì nó, ai nấy đều muốn vùi mặt vào những lọn tóc đen xoăn tít bồng bềnh ôm lấy chiếc đầu nhỏ nhắn xinh xắn, rồi cõng nó trên vai, hoặc quỳ rạp cả tay lẫn chân làm ngựa cho nó cưỡi, hay để nó bước lên cổ mình, hoặc vứt bỏ mọi phẩm giá vì bất cứ điều gì khác mà nó muốn. Mấy cậu bé tỏ ra rộng lượng với ông bố của chúng bằng một tiếng "hừ!" đầy bề trên. Mười bốn hay mười lăm năm nữa, chính những cậu bé ấy sẽ phải đóng vai con ngựa hèn mạt trước cũng chính vị tiểu thư tóc xoăn nhỏ nhắn nọ; và sau khi gánh chịu những cái tai lừa của Nick Bottom một cách vô ích, độ nửa tá trong số đó sẽ bỏ đi thắt cổ tự vẫn, hoặc đi tu, hoặc trở thành những "gã trai hư đày đọa," để rồi trả thù giới phụ nữ. Nhưng những cuộc chinh phục của nàng vẫn sẽ tiếp diễn, và khi những lọn tóc kiều diễm ấy đã bạc trắng như tuyết, con cháu của những cậu bé kia sẽ tiếp bước ông cha chúng, lẽo đẽo bám theo nàng, vẽ hình chiếc miệng xinh như nụ hôn ngọt ngào ấy vào những trang giấy trắng của sách, rồi gọi nàng là chị cả cùng những tên gọi đầy tôn sùng khác. Thế rồi những cô gái khác cùng thế hệ với nàng, những người sinh ra không mang theo cái vẻ duyên dáng đầy mê hoặc ấy trong từng đường nét và ánh nhìn, sẽ đố kỵ, căm ghét nàng, và cảm thấy hả hê đầy tiểu nhân khi có một gã khờ nào đó vì nàng mà uống thuốc độc tự vẫn. Những nụ cười với thứ đức hạnh băng giá sẽ len lỏi trên khuôn mặt họ tựa như thứ ánh nắng lạnh lẽo trơn tuột, khi từng người một trong số những kẻ tôn sùng nàng lê bước đến chỗ họ để khẳng định rằng một người phụ nữ như thế chẳng bao giờ có thể lấp đầy trái tim một người đàn ông hay trở thành chốn bình yên cho tổ ấm của anh ta; rằng những đức hạnh bình lặng chịu đựng theo năm tháng mới là tất cả những gì họ khao khát; tất nhiên là họ vừa mới nghiên cứu về tính cách của nàng cùng lũ đàn ông ngốc nghếch cứ chầu chực quanh nàng đấy thôi, nhưng dẫu vậy thì những kẻ đó cũng chẳng có dụng ý nghiêm túc gì đâu. Và những cô gái bị ngơ ngác ấy sẽ tiếp đãi gã bằng bánh ngọt nhà làm cùng ly rượu vang, để rồi gã sẽ biến những thứ ấy thành nỗi thống khổ trong chiếc tai vỏ ốc ngọc ngà của nàng. Mà ngặt nỗi, đứa bé từ đầu đến cuối chẳng làm gì khác ngoài việc sống đúng với bản chất mà nó sinh ra đã mang theo — thứ không phải do nó tự chọn lựa, và đó cũng là định mệnh của cuộc đời nó; và đó lại là một điều nữa mà các vị thần sẽ phải giải trình khi ngày họ ra trước tòa án con người phán xử đến — đó mới chính là ngày phán xét đích thực.
Nhưng đây không phải là câu chuyện của đứa bé — câu chuyện ấy hãy còn ở thì tương lai, mà đây là câu chuyện về một người cách nào đó lại nhận lấy phần thiệt thòi ngang trái. Một thiên thần lơ đễnh nào đó ở cửa hàng phân phối số phận đã nhầm tên cô khi có lệnh gọi xuất kho một nữ anh hùng tiểu thuyết, và đặt cô vào một nơi lẽ ra cô không nên có mặt, rồi chắc hẳn đã cao chạy xa bay để đi chơi mà chẳng buồn quay lại nhìn lấy lần thứ hai. Bởi vì ngay cả vị thiên thần vô tâm nhất nếu ngoảnh lại nhìn lần thứ hai cũng sẽ nhận ra rằng Effie không phải là người phụ nữ sinh ra để chơi trò chơi tình ái, và trên đời này chỉ có một thứ duy nhất kém tinh tế hơn cả thiên thần, đó chính là nhà cải cách xã hội. Effie đã đụng phải cả hai.
Người ta bảo rằng thuở thiếu thời máu trong người cô còn rất đậm đà, sắc đỏ ấy vẫn ánh lên rạng rỡ và bền bỉ bên dưới lớp da mỏng manh, tinh khiết; thế nhưng khi tôi gặp cô, lúc cô đang bế đứa con đỏ hỏn trên tay giữa chốn bụi bặm nhếh nhác của London, thì trên mặt cô chỉ còn lại một vệt hờ hững phớt hồng, một thứ hồn ma hồng phấn của dòng máu, cứ chập chờn ẩn hiện. Và sắc hồng ấy xuất hiện là vì hổ thẹn trước sự nghèo túng của căn phòng trống trải mà ngăn nắp của mình. Không phải là cô chưa từng biết đến giàu sang. Cô là con gái của những tá nông dân Scotland, và đã phải đi ở đợ từ khi hãy còn là một đứa trẻ; lồng ngực cô lõm hẳn xuống và tấm lưng còng rạp đi vì những lao động nhọc nhằn phi tự nhiên ấy. Mái tóc vàng nhạt chẳng còn chút ánh bóng mượt nào, chẳng có lấy những lọn tóc tơ hoang dại nào quấn quýt lấy vương trán thẳng và mượt mà, chẳng có ánh nét đong đưa hay duyên dáng nào trong đôi mắt xanh lam mờ đục, chẳng có chút nhan sắc nào ở cô nữa, ngoại trừ những đường nét điêu khắc tinh tế và cứng cỏi của chiếc chiếc mũi, đôi môi và chiếc cằm mỗi khi cô nghiêng đầu sang một bên. Nhìn vào những đường nét ấy, người ta có thể đọc được rằng một khi cô đã hứa hẹn điều gì với trái tim mình, cô sẽ không bao giờ quên hay nuốt lời; và dẫu điều đó có đẩy cô vào khu vườn Gethsemane đầy cay đắng, cô cũng sẽ chẳng bao giờ cất tiếng kêu than dẫu cho có bị tất cả mọi người bỏ rơi.
Và đó chính là nơi mà số phận đã đẩy cô vào lúc bấy giờ. Một kẻ chuyên phán xét nhanh nhẩu đối với mọi thứ chưa được thử nghiệm qua nổi một ngàn năm sẽ cho rằng đó là cái kết tất yếu dành cho những kẻ ôm quan niệm rằng tình yêu tự nó đã là sự minh chứng cho chính nó và rằng tình yêu chỉ bị hoen ố khi phải đi xin phép các nhà cầm quyền xã hội, nên họ cứ thế sống cuộc đời tình ái mà chẳng màng đến sự cho phép của Giáo hội hay Nhà nước. Nhưng bạn và tôi đều thừa biết rằng khu vườn tăm tối ấy cũng từng chờ đợi cả những người phụ nữ có cuộc tình được cả đôi bên ban phúc, và rằng biết bao ngọn đèn đời như thế cũng đã vụt tắt trong một đêm sâu thẳm chẳng kém gì sự nghèo đói và nỗi cô đơn cùng cực. Cho nên, nếu đó là công lý đối với Effie, thì công lý ấy là gì đối với người phụ nữ kia? Thật ra, công lý chẳng dính líu gì đến chuyện này cả; cô ấy đã yêu nhầm người, chỉ thế thôi; và dẫu có cưới xin hay không thì kết cục cũng vẫn thế, bởi vì một tờ giấy hôn thú chẳng thể làm nên một người đàn ông, và việc thiếu vắng nó cũng chẳng thể làm anh ta mất đi bản chất. Gã đàn ông kia trội hơn cô về mặt trí tuệ. Chỉ có sự chân thật mới có thể moi ra được bấy nhiêu lời từ những kẻ biết cả hai người, chứ còn về bất cứ phương diện nào khác thì cô ấy ngồi cao hơn gã ngang tầm với những vì sao. Không phải gã là một kẻ tồi tệ theo kiểu chủ động phá phách; gã chỉ là một trong số những kẻ yếu đuối, bấp bênh, gió chiều nào che chiều nấy, đủ khôn ranh để biết rằng tự đứng bằng đôi chân của mình là một điều hay ho, và đủ thói hư vinh để muốn có tiếng t hơm mà không cần đổ mồ hôi sôi nước mắt, cùng với sự hèn nhát để luồn lúi bám lấy bất cứ thứ gì mạnh mẽ hơn mình, rồi bám riết lấy đó, bành trướng bản thân ra và tự lẩm bẩm: "Kìa, ta thẳng thớm nhường nào!" Và nếu cái thứ mạnh mẽ hơn ấy vô tình là một người cha, người anh hay một dạng năng lực tự lập đầy thân thiện và khoan dung nào đó, gã sẽ vui đùa một chốc, rồi cuối cùng cũng giũ tay hất cái kẻ bám đuổi kia ra và bảo: "Này, giờ thì đi mà bám lấy kẻ khác nếu không tự đứng nổi bằng chân mình đi", và thế gian sẽ bảo lẽ ra hắn nên làm điều đó từ lâu rồi. Nhưng nếu kẻ đó vô tình là một người mẹ, người chị, người vợ hay người tình, cô ấy sẽ động viên gã rằng gã là một con người tuyệt vời, rằng tất cả những gì cô ấy làm thực chất đều là công trạng của gã, và cô ấy cảm thấy tự hào cũng như hạnh phúc khi được phục vụ gã. Nếu sau một thời gian mà cô ấy không còn hoàn toàn tin vào điều đó nữa, cô ấy vẫn tiếp tục nói và làm những điều y hệt; và thế gian sẽ gọi cô ấy là kẻ ngốc — mà quả thật cô ấy đúng là như vậy. Nhưng nếu trong một phút bốc đồng bất chợt của tính tự chủ nam nhi, cô quyết định vứt bỏ gã, thế gian sẽ bảo cô là một người phụ nữ không có nữ tính — mà một lần thế lại càng hay cho cô.
Kẻ bám đuôi của Effie dính líu đến văn chương. Gã muốn làm dịch giả và vài thứ nghề nghiệp khác nữa. Vẻ bề ngoài của gã trông hiền lành và lịch thiệp, thậm chí còn có phần khiêm nhường quá mức. Gã luôn nói về Effie bằng một giọng điệu đầy tôn trọng, ra chiều vô cùng thấm thía tinh thần trách nhiệm đối với cô. Cả hai từng bắt đầu hành trình hiện thực hóa lối sống tự do bên nhau, và ánh hào quang của lý tưởng mới đã vẫy gọi họ tiến bước. Chắc hẳn gã cũng tin là thế, bởi vì một kẻ mạo danh bao giờ cũng tự lừa dối chính mình tệ hơn bất kỳ ai khác. Thế nhưng, vào cái khoảng thời gian cụ thể ấy, gã thường rũ đầu chán nản và thừa nhận rằng mình đã mắc một sai lầm lớn. Đó chẳng phải lỗi của ai ngoài chính gã, nhưng ngặt nỗi là — Effie và gã vốn chẳng hợp nhau. Cô không tài nào thấu hiểu hay hòa nhịp nổi với những hoài bão và tham vọng của gã, vì thuở trẻ cô nào có cơ hội được phát triển bản thân. Gã từng hy vọng có thể vực dậy cô theo hướng đó, nhưng ngặt nỗi e rằng đã quá muộn. Gã cứ thế thốt lên những lời đầy thanh tao và lịch lãm như thế khi đi từ nhà này sang nhà khác, nhận lời ăn tối, ăn trưa và tự huyễn hoặc bản thân rằng mình đang đi tìm việc làm. Trong khi đó, Effie nhận những chiếc mũ lưỡi trai của bọn trẻ về nhà để khâu gia công, chật vật sinh tồn một cách khó tin nhờ vào bánh mì và trà, rồi lê bước trên những con đường phố cùng đứa con trên tay khi chẳng còn mũ để mà khâu.
Tất nhiên, khi một người đàn ông la cà uống trà ké nhà người khác hết lần này đến lần khác, ngồi lì ở nhà họ, thỉnh thoảng lại vay mượn vài đồng xu lẻ và ra điều ta đây là quân tử, thì cuối cùng hắn cũng rơi vào cảnh ngộ buộc phải mời ai đó uống trà lại nhà mình; thế nên vào một đêm mùa xuân nọ, gã bám đuôi đã đến gặp Effie với vẻ đầy ngập ngừng rằng mình đã mời hai ba người quen ghé chơi vào tối hôm sau, và gã đoán là cô sẽ phải chuẩn bị bữa trà. Lúc bấy giờ cô gái đang ngất lịm đi vì đói khát, và cô mệt mỏi hỏi gã xem cô kiếm đâu ra mấy thứ đó. Gã ngập ngừng suy tính theo cái kiểu tiểu nhân của mình xem cô có thể làm được việc gì, và cuối cùng đề nghị cô mang cầm chiếc váy của đứa bé — chiếc váy trắng mà cô đã tự tay may lại từ một trong những chiếc váy thời thiếu nữ của chính mình, và cũng là bộ đồ duy nhất đứa trẻ có để mặc khi được đưa ra ngoài hít thở không khí. Đó chính là giới hạn chịu đựng, ngay cả với Effie. Cô bảo cô có thể mang cầm bất cứ thứ gì thuộc về mình nếu cô có, nhưng tuyệt đối không được động đến đồ của đứa bé; rồi cô quay mặt vào tường và ôm chặt lấy đứa con vào lòng.
Đến giờ uống trà vào ngày hôm sau, cô ẵm đứa bé ra ngoài và cứ thế đi lên đi xuống những con phố đông đúc nghịt người của London, thẫn thờ nhìn vào những ô cửa kính và cố nén những giọt nước mắt chực trào. Gã bám đuôi đã làm gì với những vị khách của mình thì cô chẳng bao giờ biết được, bởi vì mãi đến tận đêm muộn cô mới trở về, khi đã quá mệt mỏi để có thể lê bước thêm nữa, và cô chẳng thấy ai ở nhà ngoài gã và một vị khách lạ mặt da ngăm đen, người ít nói và mang giọng phát âm kiểu Ý, nhưng lại đăm đăm nhìn cô bằng đôi mắt đầy nghiêm nghị và sâu sắc. Ông ta lắng nghe gã bám đuôi nói, nhưng ánh mắt lại hướng về phía cô; lúc bấy giờ cô đã kiệt sức hoàn toàn và trông còn tái nhợt không chút giọt máu hơn bao giờ hết khi ngồi bất động bên mép giường. Lúc ra về, ông ngả mũ chào cô với phong thái của một bậc quyền quý thời xưa, và cất lời xin lỗi nếu đã làm phiền đến cô. Vài ngày sau đó, ông lại ghé qua, mang theo một món đồ chơi cho đứa bé và xin phép được bế hộ đứa trẻ ra ngoài một lát; ông biết cảnh nhốt rịt trong căn phòng kia khiến nó trông xanh xao ốm yếu, nhưng chắc chắn là việc bế nó đi sẽ rất nặng nhọc đối với cô. Bỗng nhiên lúc ấy gã bám đuôi lại lăn xả vào đòi bế con.
Tất cả những chuyện này diễn ra vào những ngày mà một vị nữ hoàng sùng đạo đang ngự trị trên ngai vàng Tây Ban Nha. Với đôi mắt hướng lên cao đầy vẻ thánh thiện, bà ta phớt lờ những gì đang diễn ra trong các nhà tù của mình, hay làm ngơ trước những tiếng rên rỉ vọng lên từ căn phòng "âm phủ" trong pháo đài Montjuich, dẫu cho cả châu Âu đều nghe thấy và thậm chí tiếng vọng ấy còn vang dội đến tận nước Mỹ. Trong lúc bà ta lần hạt mân côi, vị bộ trưởng của bà ban hành lệnh "tra tấn những kẻ vô chính phủ"; và cho đến tận ngày nay, những vết sẹo do sắt nung đỏ để lại, những thân thể tàn phế, biến dạng và phát điên vì những thứ kinh hoàng không tên mà người lương thiện nghĩ ra để trừng trị kẻ gian ác vẫn còn tồn tại như những chứng tích rõ mồn một về Mệnh lệnh tai tiếng ấy. Thế nhưng có hai kẻ không còn sống — kẻ đã ban hành mệnh lệnh ấy, và kẻ đã trả thù cho nó.
Vào một đêm tháng Tư nọ, Effie, gã bám đuôi và vị khách lạ mặt dạo nọ tình cờ cùng hội ngộ tại một trong những căn phòng hội trường dài, thấp và ngột ngạt ở London — nơi từng là chiếc nôi khai sinh ra vô số phong trào, để rồi khi lớn mạnh, chúng đã tiến chiếm cả Hạ viện và thậm chí làm rúng động cả bụi trần trong Viện Quý tộc. Nơi đó tụ tập một đám đông đầy kích động đang bàn tán đủ mọi điều có lý lẫn vô lý bằng mọi thứ tiếng của lục địa châu Âu. Những bức thư được tuồn lén ra từ ngục tối đã được chuyển đến; những câu chuyện mới về những đòn tra tấn đang được chuyền tai nhau từ miệng người này sang người nọ; những đề xuất mới nhằm khơi dậy sự phẫn nộ chung của nền văn minh đang sục sôi cùng cơn thịnh nộ của từng người đàn ông và phụ nữ đầy căm phẫn. Lẩn khuất giữa những đám đông đang xôn xao bàn tán, Effie nghe thấy tiếng ai đó đang dịch lại một bức thư: đó là lá thư của Noguès — kẻ bị tra tấn, người mà một tháng sau đó đã bị bắn hạ ngay dưới chân bức tường pháo đài. Từng từ từng chữ giáng vào tai cô như những vật gì đó vừa nóng rực vừa châm chích:
"Anh biết tôi là một trong ba kẻ buộc tội (hai kẻ kia là Ascheri và Molas) có tên trong vụ án. Tôi đã không thể chịu đựng nổi những màn tra tấn tàn khốc kéo dài suốt ngấy ấy ngày. Ngay khi bị bắt, tôi bị nhốt tám ngày liền không một giọt nước hay hạt cơm, buộc phải đi đi lại lại liên tục không ngừng nghỉ nếu không muốn bị roi vọt; và như thế vẫn chưa đủ, họ bắt tôi phải chạy kiệu như thể tôi là một con ngựa được huấn luyện trong trường đua, cho đến khi kiệt sức và ngã quỵ xuống đất. Sau đó, bọn đao phủ lấy sắt nung đỏ đốt cháy đôi môi tôi, và khi tôi nhận mình là kẻ chủ mưu vụ mưu sát, bọn chúng đáp lời: 'Mày nói dối. Bọn tao biết kẻ chủ mưu là tên khác, nhưng bọn tao muốn biết đồng bọn của mày. Hơn nữa mày vẫn còn cất giấu sáu quả bom, và cùng với tên Oller té em, mày đã đặt hai quả bom ở phố Fivaller. Đồng bọn của mày là ai?'"
"Bất chấp khao khát muốn chấm dứt tất cả cho xong chuyện, tôi chẳng thể trả lời được gì. Tôi biết buộc tội ai khi tất cả bọn họ đều vô tội? Cuối cùng, sáu người đồng chí đã được dẫn ra trước mặt tôi, và tôi buộc phải buộc tội họ, và tôi xin họ tha thứ. Cứ thế những lời khai và những lời buộc tội mà tôi đã đưa ra.... Tôi không thể viết tiếp được nữa; bọn đao phủ đang đến kìa.
Noguès."
Phát ốm vì sợ hãi, Effie suýt thì bỏ đi, thế nhưng đôi chân cô nặng trĩu như chì. Cô nghe loáng thoáng bức thư tiếp theo, lời cầu nguyện đầy thống thiết của Sebastian Sunyer; những đòn tra tấn dường như đã thiêu đốt đôi tai cô, thế nhưng tiếng kêu cứu cứ vọng lên trên đầu cô tựa như những tiếng nấc nghẹn ngào; cô cảm thấy bản thân như đang bị cuốn phăng đi, chìm nghỉm trong nỗi đau đớn tuyệt vọng ấy. Điệp khúc bi thảm "Xin hãy lắng nghe, hỡi những trái tim lương thiện," "hỡi những tâm hồn thuần khiết của các bạn," "những con người lương thiện và đúng đắn," "những con người tốt bụng và đầy cảm xúc," cứ rên rỉ bên tai cô hệt như tiếng khóc lóc hoảng loạn của một đứa trẻ đang ré lên dưới ngọn roi "Bố ơi, bố kính yêu, bố ngọt ngào ơi, xin đừng đánh con, xin bố, xin bố," tìm kiếm sự nịnh nót đầy sợ hãi để thoát khỏi đòn roi. Tiếng kêu cuối cùng, "Xin hãy giúp đỡ chúng tôi trong cơn khốn cùng; hãy nghĩ đến nỗi thống khổ của chúng tôi," khiến cô run lẩy bẩy như một nhành sậy. Cô bước ra xa và ngồi thui thủi một mình trong góc phòng; cô có thể làm gì đây, bất cứ ai có thể làm gì đây? Bản thân chỉ là một sinh linh khốn khổ, thế mà nỗi khốn khổ của chính cô lại trở nên thật vô nghĩa khi đặt cạnh tiếng kêu gào phát ra từ chốn ngục tù ấy. Và cô lại miên man suy nghĩ, "Tại sao hắn ta lại muốn sống làm gì, tại sao bất kỳ ai lại muốn sống, tại sao chính bản thân mình lại muốn sống chứ?"
Một lát sau, gã bám đuôi và người bạn của hắn tiến đến chỗ cô, và người kia ngồi xuống bên cạnh cô, điềm đạm như thường lệ. Giữa lúc căn phòng lại rộ lên những tiếng xì xào, hai người họ bị bỏ lại một mình. Cô nhìn ông ta một cái rồi cất lời: "Anh nghĩ mọi người sẽ làm gì về chuyện này?"
Ông liếc nhìn đám đông với một nụ cười nhạt: "Làm á? Bàn tán chứ làm gì."
Chốc lát sau, ông điềm tĩnh nói: "Ở đây chẳng ích gì cho cô cả. Tôi sẽ đưa cô về nhà rồi quay lại tìm David sau." Cô chẳng có ý định phản đối ông; thế nên họ cùng nhau bước ra ngoài. Đến thềm cửa phòng cô, ông kiên quyết nói: "Tôi sẽ vào trong một lát; tôi có chuyện muốn nói với cô."
Cô bật diêm thắp đèn, đặt đứa bé lên giường và nhìn ông đầy dò hỏi. Ông đã ngồi xuống, tựa lưng vào tường, hai tay khoanh chặt trước ngực và đăm đăm nhìn thẳng về phía trước. Thấy ông không nói gì, cô cất giọng dịu dàng, vô thức thốt lên phương ngữ quê nhà đúng như bản tính của mọi phụ nữ Scotland khi cảm xúc dâng trào: "Tôi không tài nào xua nổi tiếng khóc của những con người tội nghiệp ấy ra khỏi đầu mình. Thật chẳng ra thể thống con người gì cả."
"Không," ông cụt ngủn đáp, rồi bất chợt nhìn cô đầy chăm chú: "Effie, cô nghĩ tình yêu là gì?"
Cô ngước nhìn ông với đôi mắt ngạc nhiên và im lặng không đáp. Ông nói tiếp: "Cô yêu đứa trẻ phải không? Cô chăm sóc nó, cô phục vụ nó. Điều đó chứng tỏ cô yêu nó. Nhưng cô có nghĩ rằng thứ khiến David đối xử với cô như thế là tình yêu không? Nếu hắn yêu cô, liệu hắn có để cô làm lụng vất vả thế này không? Liệu hắn có sống bám vào cô không? Chẳng lẽ hắn không tự cào rách da rách thịt trên đôi tay mình thay vì để mặc đôi tay cô làm thế ư? Hắn không yêu cô. Hắn không xứng đáng với cô. Hắn không phải là kẻ xấu, nhưng hắn không đáng để cô phải như vậy. Và cô đang làm cho hắn ngày càng tệ hại hơn. Cô đang hủy hoại hắn, hủy hoại chính mình, và giết chết cả đứa trẻ nữa. Tôi không thể nhìn cảnh này thêm được nữa. Tôi đến đây, và lần nào cũng thấy cô yếu đi, xanh xao hơn, gầy gò hơn. Và tôi biết nếu cô cứ tiếp tục thế này thì cô sẽ chết. Tôi không thể chịu đựng nổi. Tôi muốn cô rời xa hắn; hãy để tôi lo cho cô. Tôi kiếm không được nhiều lắm, nhưng cũng đủ để cô được nghỉ ngơi. Ít nhất là cho đến khi cô khỏe lại. Lẽ ra tôi nên đợi đến tự cô rời bỏ hắn, nhưng tôi không thể chờ được nữa khi thấy cô cứ chết dần chết mòn thế này. Tôi chẳng muốn gì ở cô cả, ngoại trừ việc được phục vụ cô, được phục vụ đứa bé bởi vì nó là con của cô.
Hãy theo tôi, ngay tối nay. Cô có thể ở phòng tôi; tôi sẽ đi chỗ khác. Ngày mai tôi sẽ tìm cho cô một nơi ở tốt hơn. Cô sẽ không phải gặp lại hắn nữa. Tôi sẽ tự mình nói chuyện với hắn. Hắn sẽ chẳng dám làm gì đâu, đừng sợ. Đi thôi." Và ông đứng phắt dậy.
Effie ngồi sững sờ trong ngạc nhiên và chết lặng. Lúc này, cô ngước nhìn đôi mắt đen sâu thẳm đầy căng thẳng đang nhìn xuống mình, và bình thản đáp: "Tôi không hiểu."
Một cơ co rút sắc lạnh thoáng qua trên khuôn mặt cương nghị và gập ghềnh: "Không ư? Cô không hiểu mình đang làm gì với bản thân mình sao? Cô không hiểu là tôi yêu cô, và tôi không thể đứng nhìn cảnh này được nữa sao? Tôi không đòi hỏi cô phải yêu tôi; tôi chỉ xin cô cho phép tôi được phục vụ cô. Chỉ một chút thôi, chỉ cốt sao để cô lấy lại sức khỏe; điều đó quá đáng lắm sao? Cô không biết cô có ý nghĩa thế nào đối với tôi đâu. Người ta yêu cái đẹp, nhưng tôi — tôi nhìn thấy ở cô sự hy sinh vĩnh cửu; những ngón tay gầy guokanh năm chai sạn, khuôn mặt cô — mỗi khi nhìn vào đó, tôi chỉ thấy một bóng hình nhợt nhạt; cô là đứa con của nhân loại, lầm lũi chết đi mà không một tiếng kêu than. Ồ, xin hãy để tôi dâng hiến cuộc đời mình vì cô. Và hãy từ bỏ gã đàn ông này — kẻ chẳng màng đến cô, chẳng hiểu gì về cô, coi cô thấp kém hơn hắn và chỉ biết lợi dụng cô. Tôi không muốn cô phải làm nô lệ cho hắn nữa."
Effie đan chặt hai tay vào nhau rồi nhìn chằm chằm vào chúng; sau đó cô nhìn đứa con đang ngủ say, vuốt lại tấm chăn và điềm đạm nói: "Tôi đâu có dắt hắn về nhà ngày hôm nay để rồi ngày mai lại bỏ rơi hắn. Chẳng phải lỗi tại tôi nếu anh phát điên vì tôi."
Khuôn mặt tối sầm của ông thắt lại tựa như vẻ đau đớn của một người sắp chết, thế nhưng giọng ông vô cùng dịu dàng, cất lên bằng thứ tiếng Anh ngọng ngịu quen thuộc: "Không, chẳng có lỗi lầm gì ở cô cả. Tôi có trách cứ gì cô đâu?"
Cô gái bước ra bên cửa sổ và nhìn ra khoảng không bên ngoài. Dù sao thì điều đó cũng giúp cô thoát khỏi ánh mắt thiêu đốt dường như đang tràn ngập cả căn phòng, dẫu cô chẳng thèm nhìn vào chúng. Và phóng tầm mắt nhìn ra màn đêm London lấp lánh ánh đèn, cô lại một lần nữa nghe thấy những tiếng nấc nghẹn ngào đầy kinh hoàng từ bức thư của Sebastian Sunyer vọng lên, nhấn chìm cô trong vũng lầy khốn khổ của nó. Không quay đầu lại, cô lạnh lùng cất giọng nhỏ xíu: "Tôi tự hỏi sao anh lại có thể nghĩ đến những chuyện đó, giữa lúc lũ quỷ sứ kia đang thiêu sống con người ta."
Người đàn ông đưa tay vuốt trán. "Cô có muốn nghe tin bọn chúng — một kẻ, kẻ tồi tệ nhất trong số chúng — đã chết rồi không?"
"Tôi nghĩ thế gian này sẽ chẳng thiệt thòi gì mấy đâu," cô đáp, vẫn quay mặt đi chỗ khác. Ông bước tới, đặt tay lên vai cô. "Cô có thể hôn tôi một cái được không? Tôi sẽ không bao giờ đòi hỏi nữa." Cô hất tay ông ra: "Tôi chẳng có tâm trạng nào." "Vậy thì tạm biệt nhé. Tôi sẽ quay lại tìm David." Và ông quay trở lại hội trường, tìm gặp gã bám đuôi rồi thẳng thắn kể lại mọi chuyện vừa diễn ra; và cũng phải công nhận rằng gã bám đuôi cảm thấy nể trọng ông vì điều đó, rồi luyên thuyên hứa hẹn sẽ đối xử tử tế hơn với cô gái trong tương lai. Hai người đàn ông chia tay nhau dưới chân cầu thang, và những lời cuối cùng vang vọng qua hành lang là: "Không, tôi đi đây rồi. Nhưng rồi cô sẽ nghe tin về tôi vào một ngày nào đó."
Giờ đây, điều gì diễn ra trong trái tim ông vào đêm hôm đó chẳng ai hay biết; cũng chẳng ai biết sự do dự nào vẫn còn níu chân ông vẩn vơ quanh con phố của Effie thêm vài ngày nữa; hay sự do dự ấy cuối cùng chấm dứt vào lúc nào; bởi vì từ sau hôm đó chẳng ai còn nói chuyện với ông nữa, ngoài những lần tình cờ chạm mặt như những người xã giao bình thường, và chỉ một tuần sau ông đã đi mất. Nhưng điều ông đã làm thì cả thế giới đều tường tận; bởi vì ngay cả Nữ hoàng Tây Ban Nha cũng phải ngừng việc cầu nguyện để hay tin vị thủ tướng chuyên tra tấn người của bà đã bị bắn hạ ở Santa Agueda bởi một gã đàn ông mặt mày lạnh lùng — kẻ mà khi người góa phụ vì quá đau buồn mà khạc nhổ vào mặt hắn, đã điềm tĩnh lau má rồi nói: "Thưa phu nhân, tôi chẳng có thù oán gì với phụ nữ cả." Vài tuần sau, người ta xử tử hắn bằng máy siết cổ, và trước khi chết hắn chỉ thốt ra đúng một từ duy nhất — "Germinal."
Bên kia hội trường dài và thấp ở London, những tiếng xì xào đã dứt hẳn, và ai đó thì thầm kể lại việc ông đã lặng thím ngồi một góc suốt buổi tối hôm ấy như thế nào trong lúc mọi người đang huyên náo. Gã bám đuôi chuyền tay nhau một cuốn sách ghi chép lại lịch sử của những màn tra tấn, vẻ mặt kè kè canh chừng đầy ghen tị suốt dọc đường, miệng lẩm bẩm: "Chính tay Angiolillo đưa nó cho tôi đấy; nó từng nằm trong tay hắn cơ mà."
Effie nằm cạnh đứa con trong căn phòng nhỏ, vùi mặt vào chiếc gối để trốn tránh ánh nhìn trừng trừng của đôi mắt thiêu đốt năm nào giờ đã vĩnh viễn khép lại; và cô cứ lặp đi lặp lại mãi một câu hỏi: "Đó có phải lỗi của tôi không, có phải lỗi của tôi không?" Bầu không khí mùa hè oi ả vẫn tĩnh mịch và ngột ngạt, và tiếng ầm ầm khổng lồ của thành phố vọng lên nghe mơ hồ như tiếng sấm gầm bên dưới đường chân trời. Trái tim cô như đang đập thình thịch vào bốn bức tường của một căn phòng bọc đệm. Và dần dần, trong khi ý thức vẫn chưa hoàn toàn mất đi, cô trượt vào thế giới của những ảo ảnh; bao trùm lấy cô là bầu không khí ngột ngạt của phòng tra tấn Montjuich cùng những tiếng kêu nghẹn ngào của những con người đang quằn quại trong đau đớn. Cô chắc chắn rằng nếu mình ngước nhìn lên, cô sẽ thấy khuôn mặt quỷ dữ của Portas — tên đao phủ ác ôn. Cô cố gào lên, "Thương xót tôi với, xin xót thương," nhưng đôi môi khô khốc đã dính chặt lại. Cô cảm thấy một cơn chóng mặt cuồng quay, và ảo ảnh bỗng thay đổi; giờ đây là tiếng va chạm lách cách của vũ khí binh lính, một khoảnh khắc tĩnh lặng đến nghẹt thở khi chiếc máy siết cổ dần hiện hình ra từ những bóng tối trước mắt cô, rồi cất lên rõ mồng một và dõng dạc, xé toạc sự tĩnh mịch u ám tựa như tiếng rít sắc lẹm của ngọn gió mang theo giông bão: "Germinal." Cô giật mình vùng dậy: âm vang kéo dài của tiếng chuông nhà thờ St. Pancras đang lan tỏa khắp căn phòng; nhưng đối với cô, đó lại chính là tiếng vọng kéo dài của từ ấy, "Germ-inal-l-l—germinal-l-l—" Rồi bất chợt cô dang rộng hai tay trong bóng tối và thì thầm bằng giọng khàn đặc: "Ừ, để ta hôn em ngay bây giờ đây."
Một giờ sau, cô lại quay về với câu hỏi muôn thuở: "Đó có phải lỗi của tôi không?"
Tội nghiệp cô gái, giờ đây mọi chuyện đã chấm hết, và với lớp cỏ mọc rễ trên bộ xương khô của cô thì chuyện đó có là lỗi của cô hay không cũng chẳng còn chút khác biệt nào nữa. Bởi vì cái kết mà người đàn ông từng yêu cô đã tiên liệu cuối cùng cũng đã đến, dẫu cho nó đến có phần muộn màng. Hãy ghi nhận cho gã bám đuôi vì tất cả những gì hắn đã làm. Khoảng một năm sau hắn cũng chỉnhốn lại bản thân, sang Paris kiếm việc làm; và rồi ở nơi đó, người phụ nữ nhỏ bé tiều tụy đã tìm đến với hắn, viết thư về cho những người bạn cũ rằng cuối cùng cuộc sống của cô đã khá hơn. Nhưng mọi thứ đã quá muộn màng đối với cái thể xác gầy gò đã chịu đựng quá nhiều cơ hàn ấy; ngay ngã rüe đầu tiên cô đã gục ngã và qua đời. Và cứ thế cô chìm vào giấc ngủ ngàn thu và bị lãng quên. Còn vị thiên thần tuổi teen vô tâm đã nhào nặn những số phận này một cách hờ hững cho đến nay vẫn chưa một lần thì thỉnh tên cô vào tai vị góa phụ Lady Canovas del Castillo.
Và những chú chim bay qua chốn ấy giờ đây cũng sẽ chẳng thể mang cái tên ấy đi đâu; bởi vì đó vốn chẳng phải là "Effie."