Tuyển Tập Voltairine De Cleyre

Lượt đọc: 115 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tội Ác Và Sự Trừng Phạt

❊ ❊ ❊

[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG]: NONE

Con người chia làm ba loại: kẻ quay lưng, kẻ xông lên, và những kẻ thờ ơ. Loại thứ nhất và thứ hai có số lượng tương đối ít. Những người bảo thủ thực sự có lương tâm, luôn hoài niệm về quá khứ để tìm kiếm khuôn mẫu và cố gắng gìn giữ những gì đang tồn tại, hiếm hoi chẳng kém gì những nhà cấp tiến chân chính – những kẻ luôn đả kích hiện tại và hướng về viễn cảnh mờ ảo nhưng rực rỡ của một đời sống xã hội được thanh lọc. Nằm giữa họ là khối đa số đông đúc và vô danh những kẻ thờ ơ, những người bước qua cuộc đời mà không có tư tưởng lớn lao hay cảm xúc mãnh liệt nào; điều hay nhất có lẽ là họ đóng vai trò làm loãng bớt những hoạt động quá mức dữ dội của hai nhóm kia. Mặc dù vậy, vào đôi tai trơ lì của những kẻ thờ ơ ấy, những tiếng nói đối lập giữa phe bảo thủ và phe cấp tiến vẫn cứ vang lên không ngừng; và suốt nhiều năm, nhiều thế kỷ, phe bảo thủ luôn là kẻ chiến thắng, không phải vì họ thực sự chạm đến lương tâm của kẻ thờ ơ (dù phần nào họ có làm thế), mà bởi con đường của họ ít gây ra phiền toái tinh thần nhất cho người nghe. Đối với tâm lý lười biếng và trì trệ ấy, việc gật đầu tán thành sự tiếp diễn của những thứ đang có rõ ràng dễ dàng hơn nhiều so với việc lắng nghe những đề xuất thay đổi, phải suy ngẫm, chất vấn và đưa ra một quyết định đổi mới. Những điều đó đòi hỏi sự năng động, nỗ lực — mà chẳng có gì xa lạ với lương tâm xã hội đang ngủ đông của một cá nhân bình thường hơn là những thứ ấy.

Tôi gọi đó là lương tâm "xã hội", bởi tôi hoàn toàn không có ý nói rằng đây là những kẻ vô lương tâm; họ có đủ lương tâm ở mức độ thông thường để làm tròn vai trò hàng ngày trong cuộc sống, và họ nghĩ thế là quá đủ. Về cuộc đời của những kẻ khác, về hậu quả từ thái độ của họ khi đày đọa sự tồn tại của hàng vạn người xa lạ, họ hoàn toàn không mảy may nhận thức được; họ ngủ mê; và họ nghe thấy tiếng kêu gào của những người đang lớn tiếng về những bất công ấy một cách mơ hồ như trong giấc chiêm bao; và họ không muốn thức tỉnh. Dù vậy, khi các thế kỷ trôi qua, họ thế nào cũng sẽ thức giấc. Rốt cuộc, kẻ luôn chiến thắng bao giờ cũng là nhà cấp tiến. Cuối mỗi chu kỳ thế kỷ, các thể chế đều được xem xét lại bởi thứ lương tâm xã hội đã bừng tỉnh ấy, rồi chúng được sửa đổi, và đôi khi bị tận gốc nhổ sạch.

Các thể chế Tội ác và Trừng phạt cũng chịu chung số phận ấy. Phe bảo thủ cho rằng những chuyện này đã được định đoạt từ thuở hồng hoang; rằng tội ác tự nó là một bản chất, không có nguyên nhân nào khác ngoài sự đồi bại của con người; rằng hình phạt đã được sắc phong từ đỉnh Sinai, hoặc từ bất kỳ ngọn núi linh thiêng nào mà xứ sở của họ tôn kính; rằng xã hội chỉ nhận được sự phục vụ tốt nhất thông qua sự nghiêm khắc, ngặt nghèo trong phán xét và trừng phạt. Và họ chỉ muốn biến những người anh em thờ ơ của mình thành những kẻ canh giữ lương tâm của người khác theo đúng khuôn khổ ấy. Họ muốn tất cả mọi người phải trở thành những thợ săn đồng loại, để tội ác bị truy lùng và giáng trả.

Nhà cấp tiến lại nói rằng: Sai hết, tất cả đều sai lầm và lệch lạc. Tội ác chưa từng được định đoạt từ muôn thuở: tội ác, cũng giống như vạn vật, đều có quá trình tiến hóa tùy thuộc vào không gian, thời gian và hoàn cảnh. "Những con quỷ của tổ tiên chúng ta trở thành những vị thánh mà chúng ta sùng bái," — và các vị thánh, những bậc thánh nhân và anh hùng của cha ông ta, lại chính là những kẻ tội phạm chiếu theo bộ luật của chúng ta ngày nay. Abraham, David, Solomon — liệu có một thành viên đáng kính nào trong xã hội dám thừa nhận rằng mình đã làm những điều mà họ từng làm? Tội ác không phải là một thực thể tự thân, không phải là cái cây không có rễ, không phải là thứ sinh ra từ hư vô; và con đường duy nhất đúng đắn để đối phó với nó là tìm kiếm nguyên nhân của nó một cách tận tụy, tỉ mỉ chẳng khác nào nhà thiên văn học đi tìm nguyên nhân của những nhiễu loạn trên quỹ đạo hành tinh mà ông đang quan sát, với niềm tin chắc rằng thế nào cũng phải có một hoặc nhiều nguyên nhân ẩn giấu đâu đó. Và Trừng phạt cũng cần phải được nghiên cứu lại. Thuyết núi thiêng đã phá sản. Hình phạt cũng đã phá sản. Và nó thất bại không phải vì con người chưa truy lùng và trừng phạt đủ mức, mà vì họ đã truy lùng và giáng đòn trừng phạt ngay từ đầu; bởi trong cuộc săn đuổi những kẻ làm điều ác, chính họ cũng đang làm điều ác; họ tự làm chai sạn nhân cách của chính mình, và điều đó càng tệ hại hơn gấp bội khi họ đinh ninh rằng lần này hành động tàn bạo ấy được thực hiện nhân danh lương tâm. Hành vi sát nhân của tội phạm đi ngược lại lương tâm, còn hành hạ hay sát hại tội phạm dưới danh nghĩa quan chức lại là hành vi đi kèm với lương tâm. Cứ thế, lương tâm bị làm cho bệnh hoạn, méo mó, và một tầng lớp con người mới bị tha hóa được tạo ra. Chúng ta đã trừng phạt hết lần này đến lần khác suốt hàng vạn năm không thể kể xiết, nhưng nào đã quét sạch được tội ác, nào có làm nó suy giảm đi đâu. Vậy thì hãy cùng suy ngẫm lại xem.

Kẻ thờ ơ nhún vai và thưa với nhà bảo thủ rằng: "Việc đó thì can gì tới tôi? Tôi chẳng săn lùng ai mà cũng chẳng cứu rỗi ai cả. Ai nấy hãy tự lo thân đi. Tôi đóng thuế đầy đủ rồi; cứ để các thẩm phán và luật sư lo phần bọn tội phạm đi. Còn ông, thưa ngài Cấp tiến, ông làm tôi mệt mỏi quá. Lời lẽ của ông ra điều cao cả quá mức. Ông muốn đóng vai Atlas để gánh cả bầu trời trên đôi vai mình à. Thường thôi, cứ làm thế nếu ông thích. Nhưng đừng có tưởng bám lấy tôi để bắt tôi đóng vai Hercules ngốc nghếch mà gánh vác hộ ông. Ông cứ việc gào thét cho đến khi kiệt sức thì thôi, nhưng xin hãy để tôi được yên."

“Tôi sẽ không để ông được yên đâu. Tôi không phải là Atlas. Tôi chẳng là gì ngoài một con ruồi; nhưng tôi sẽ làm ông phiền lòng, tôi sẽ vo ve bên tai ông; tôi sẽ không để ông được ngủ yên. Ông bắt buộc phải suy nghĩ về điều này.”

Đó đại khái là tầm vóc và sức nặng trong tiếng nói của tôi, hay của bất kỳ cá nhân nào, giữa thực trạng của vấn đề hiện tại. Tôi không tự huyễn hoặc mình. Tôi không mộng tưởng rằng vấn đề tội ác và trừng phạt sẽ được giải quyết cho đến tận mãi về sau, khi ký ức về tôi đã bị thời gian nuốt trọn hoàn toàn hệt như lớp tuyết của mùa đông năm ngoái bị đại dương xóa nhòa. Hai ngàn năm trước, một con người với tâm hồn phẫn uận trước sự trừng phạt đã cất lên tiếng kêu: "Đừng phán xét, để anh khỏi bị phán xét", thế mà những người đàn ông và đàn bà từng tôn vinh danh tính của ngài như một điều thiêng liêng, trong suốt hai ngàn năm qua vẫn cứ tiếp tục phán xét cứ như thể niềm tin của họ vào lời ngài dạy chỉ là thứ đạo đức cửa miệng; và họ vẫn làm điều ấy cho đến tận hôm nay. Những vị thẩm phán vẫn ngồi trên bHành tòa và tước đoạt mạng sống con người — thậm chí cả những vị thẩm phán bản thân không tin vào án tử hình; các công tố viên vẫn vắt kiệt sự hùng biện cùng những mưu mẹo để kết tội con người; đàn ông và phụ nữ vẫn đứng ra làm chứng chống lại những kẻ lầm lạc; rồi tất cả bọn họ lại tề tựu trong nhà thờ và cầu nguyện rằng: "Xin tha thứ cho những lầm lỗi của chúng con, như chúng con cũng tha thứ cho những ai lầm lỗi với chúng con!"

Liệu họ có thực sự hiểu điều mình đang nói hay không?

Và tôi thừa biết rằng, hệt như tiếng nói của Chúa Jesus từng không được lắng nghe, và hiện tại cũng chẳng được lắng nghe, ngoại trừ dăm ba nơi lẻ tẻ; hệt như tiếng nói của Tolstoy chìm khuất ở nơi này nơi khác; cùng những con người lớn nhỏ khác bị nuốt chửng trong sa mạc rộng lớn không một tiếng vọng của sự thờ ơ, chẳng tạo ra được mấy hiệu quả trông thấy — tiếng nói của tôi rồi cũng sẽ tan biến, cùng lắm chỉ gợn lên một làn sóng tư duy rất đỗi yếu ớt trên vùng đất khô cằn và bạc màu ấy; thậm chí cơn gió thử thách tiếp theo sẽ lại thổi phẳng phiu và để lại lớp cát hoang vu không một dấu vết.

Mặc dù vậy, thông qua sự tác động liên tục và không gián đoạn của những sức mạnh vốn vô cùng nhỏ bé nếu đem so với tiếng nói con người, những thành tựu vĩ đại nhất rốt cuộc cũng được hoàn thành. Một bước sóng ánh sáng chỉ vỏn vẹn bằng phần năm mươi nghìn của một inch, thế nhưng nhờ sự tác động liên tục của những lớp sóng như thế, toàn bộ các tạo tác của ánh sáng, toàn bộ thế giới thị giác đã được thành hình từ những khối vật chất vô cảm, tối tăm và không màu sắc. Và chớ có hoài nghi rằng, rồi sẽ đến lúc khối vật chất lạnh lẽo, vô cảm của sự thờ ơ kia sẽ cảm nhận, cựa quậy và nhận thức được sức mạnh của những sự đồng cảm lớn lao — thứ sẽ xoay chuyển toàn bộ thái độ của tâm trí con người đối với Tội ác và Trừng phạt, để rồi xóa sổ cả hai khỏi thế giới này.

Sẽ không phải bằng những luật sư hay thẩm phán mà nguyên nhân tận cùng của tội phạm được phán quyết; mà chính Lương tâm Xã hội sẽ nói với cả luật sư, thẩm phán lẫn tội phạm rằng: "Hãy ra đi trong bình an."

Một bậc thầy đạo đức vĩ đại thuở trước từng viết những dòng thế này: "Trong tôi ẩn chứa khả năng làm mọi tội ác."

Ít ai khi đọc những dòng ấy lại tin rằng ông thực sự có ý như vậy. Phần lớn xem đó chỉ là lời phát biểu mang vẻ triết lý của một người, trong một phút cao hứng phóng khoáng, muốn thốt lên điều gì đó thật lớn lao và san bằng mọi khác biệt. Nhưng tôi cho rằng ông hoàn toàn nghiêm túc với những gì mình nói. Tôi nghĩ rằng dẫu sở hữu một tâm hồn thanh cao, Emerson vẫn mang trong mình dòng chảy đục ngầu của dục vọng và ham muốn; dù mang những đường nét góc cạnh như tảng đá hoa cương, ông vẫn thấu hiểu bản năng của kẻ yếu đuối và nô lệ; và bất chấp sự ngọt ngào, dịu dàng cùng sự cao quý trong bản tính, trong tâm hồn ông vẫn tồn tại con hổ và con chó rừng. Tôi tin rằng trong mọi thớ thịt và nhịp đập tinh thần của con người từng bước qua chiếc cầu kỳ bí của cuộc đời, từ buổi bình minh tiền sử của nhân loại cho đến tận bây giờ, mọi tội ác và mọi đức hạnh đều mang mầm mống sơ khai. Chúng ta đều xuất thân từ cùng một nguồn cội tâm hồn vĩ đại, bạn và tôi cùng tất cả mọi người; và nếu trong con người bạn, đức hạnh đã nảy nở thay vì thói hư tật xấu, thì xin chớ vội kết luận rằng bản chất bạn hoàn toàn khác biệt với kẻ mà bạn vừa góp tay đẩy vào chốn ngục tù với bộ đồ sọc vằn. Cân bằng tâm lý của bạn có lẽ vững chãi hơn, cấu trúc con người bạn có thể pha trộn với tỷ lệ nhỏ hơn, hoặc đơn giản là những cám dỗ bên ngoài chưa trút xuống đầu bạn mà thôi.

Tôi không phải là tín đồ của cái trường phái có học thuyết được đúc kết qua chân lý rằng: Ý chí của Con người chẳng là gì cả, còn Hoàn cảnh Vật chất mới là tất cả. Tôi không chấp nhận thứ chủ nghĩa xã hội bình dân chủ trương biến những kẻ tội lỗi thành thánh nhân chỉ bằng cách làm đầy bao tử của họ. Tôi không đứng về phe bào chữa cho thói không có nhân cách, cũng chẳng phải kẻ xin ơn huệ cho sự yếu đuối luân lý phổ quát. Tôi đặt niềm tin vào cá nhân. Tôi tin rằng mục đích của cuộc sống (chừng nào chúng ta còn có thể gán cho nó một mục đích, dù thực chất nó chẳng có mục đích nào khác ngoài những gì chúng ta tự trao cho nó) chính là sự khẳng định và phát triển của một nhân cách mạnh mẽ, tự chủ. Chính vì thế nên không một tôn giáo nào mang đến sự chuộc tội thay cho kẻ lầm lỗi, và không một triết lý nào dựa trên nền tảng của sự vô trách nhiệm, có thể thu hút được tôi. Tôi tin rằng những tác hại khôn lường đã được gây ra bởi việc không ngừng lặp đi lặp lại công thức này trong suốt hai ngàn năm qua: "Tôi bước vào thiên đường không phải nhờ bất kỳ công đức nào của bản thân, mà nhờ sự hy sinh của Chúa Christ." — Sẽ chẳng có ai đạt được sức mạnh nhờ sự hy sinh của Chúa Christ, hay bất kỳ sự hy sinh nào khác, ngoại trừ khi họ mang tinh thần và mục đích của sự hy sinh ấy vào chính cuộc đời mình và sống với nó. Tôi cũng chẳng nhìn thấy hệ quả nào từ giáo lý cho rằng mọi người đều là nạn nhân bất lực trước hoàn cảnh bên ngoài và dưới cùng một điều kiện sẽ hành xử hoàn toàn giống nhau, ngoài một lũ người bò trườn không xương sống, thiếu thần kinh, cạn máu bám theo dấu chân của những kẻ mạnh mẽ hơn — những kẻ quá ham sự nhàn hạ nên chẳng thể lương thiện, quá yếu đuối nên chẳng thể thành những tên gian ác có tầm vóc.

Hãy tuyên bố điều này thật dõng dạc ngay từ bây giờ, để không một lời nào tôi nói sau đây bị diễn giải thành một thứ phúc âm của sự trốn tránh và đùn đẩy.

Nhưng sự khác biệt giữa chúng tôi, những người theo chủ nghĩa Anarchist – những kẻ chủ trương tự trị chứ không khuất phục bất kỳ quyền lực nào, với các nhà Đạo đức học từ xưa đến nay vẫn luôn đòi hỏi trách nhiệm cá nhân, chính là ở chỗ: trong khi họ luôn vạch ra các tín điều và luật lệ nhằm bắt người khác phải chịu trách nhiệm, thì chúng tôi lại vạch ra ranh giới để phán xét chính mình. Hãy đặt ra tiêu chuẩn cao tùy ý; hãy sống hết mình theo tiêu chuẩn ấy; và nếu bạn vấp ngã, hãy tự phán xét chính mình, tự phán quyết mình, thậm chí tự kết án chính mình nếu bạn muốn. Hãy dạy dỗ và thuyết phục người láng giềng nếu bạn có thể; hãy quan sát và so sánh cách hành xử của họ nếu bạn thích; hãy nói lên suy nghĩ của mình nếu bạn muốn; nhưng nếu họ không đạt đến tiêu chuẩn của bạn hay tiêu chuẩn của chính họ, xin chớ xét xử họ, chớ phán quyết họ, chớ kết án họ. Họ nằm ngoài phạm vi của bạn; bạn không thể thấu hiểu những cám dỗ, những giằng xé nội tâm hay sức nặng của hoàn cảnh đè nặng lên họ. Bạn nào biết họ đã phải chiến đấu bền bỉ nhường nào trước khi gục ngã. Thế nên bạn không thể công bằng được. Hãy để họ yên.

Đó là khái niệm đạo đức mà chúng tôi đã đúc kết được, không phải nhờ sự mặc khải từ bất kỳ thế lực tối cao nào, không thông qua việc đọc bất kỳ cuốn sách linh thiêng nào, cũng chẳng phải nhờ sự soi sáng đặc biệt của nội tâm; mà từ việc nghiên cứu các kết quả của những thử nghiệm xã hội trong quá khứ được trình bày qua các tác phẩm của các nhà sử học, tâm lý học, tội phạm học, xã hội học và luật học.

Rất có thể việc có quá nhiều từ kết thúc bằng đuôi "ist" sẽ nghe hơi nặng nề, và với một số người, chúng thậm chí có thể phảng phất mùi nhà bác học uyên bác nửa mùa. Nghe những câu như "Chúa phán rằng" hoặc "Sách Thánh đã dạy" có vẻ đơn giản và ít khoa trương hơn nhiều. Nhưng xét đến cốt lõi sâu xa, những câu nói sau mới chính là sự mạo nhận thực sự, là những tuyên bố dễ dãi về sự thân thiết với ý chí và mưu định của Đấng Tối Cao. Có lẽ với bạn, việc thốt lên "Tôi đã nghiên cứu trí tuệ tích lũy của nhân loại và rút ra từ đó một số kết luận" nghe có vẻ học thức hơn câu "Sáng nay tôi đã trò chuyện với Chúa và Ngài bảo thế này thế nọ"; nhưng đối với tôi, phát ngôn đầu tiên khiêm nhường hơn biết bao. Hơn nữa, phát ngôn ấy còn có đôi chút hy vọng là sự thật, trong khi vế sau hoàn toàn là một thứ hư cấu đầy tính tưởng tượng.

Điều này không nhằm bác bỏ sự chân thành của những ai kế thừa tàn tích trạng thái tinh thần thuở sơ khai ấy của nhân loại, và chấp nhận nó hệt như cách họ chấp nhận cơn thèm ăn hay bất cứ thứ bẩm sinh nào khác. Đây cũng không phải là sự xem nhẹ những nỗ lực trong quá khứ của những tâm hồn nhiệt thành từng xem sự soi rọi trực tiếp từ thần thánh là nguồn cội học thuyết của họ. Tất cả các tôn giáo, trong những nét đại cương vĩ đại của chúng, đều là sự nắm bắt trực giác của nhân loại đối với những chân lý mà lúc bấy giờ họ chưa có đủ tri thức để chứng minh — đó là những diễn giải thô sơ và chưa hoàn thiện về những tư tưởng mới chỉ ở dạng mầm mống, nhưng ngay từ khi ấy, loài người đã có nhu cầu cấp bách phải hình thành chúng, và sau đó đã dành trọn nỗ lực của bao thế hệ để đính chính và hoàn thiện. Cứ thế, chính khái niệm đạo đức mà tôi vừa nhắc đến như một đặc trưng của chủ nghĩa Anarchist, từng được rao giảng như một giáo lý tôn giáo bởi nhà tư tưởng thế kỷ XV Peter Chilciky; và sang thế kỷ XVI, giáo phái cuồng tín Anabaptists đã làm rung chuyển nước Đức từ trung tâm đến tận biên thùy bằng một học thuyết bao gồm cả tuyên bố rằng: "những cuộc tranh tụng trước tòa án, lời thề độc, án tử hình và mọi quyền lực tuyệt đối đều không thể dung hòa với đức tin Thiên Chúa giáo." Đó là sự soi sáng trí tuệ còn non kém, chỉ ở mức có thể đạt được trong những thời kỳ kém văn minh ấy, nhưng là thứ ánh sáng đã định hình nên một số quan niệm cao cả về công lý. Họ đã bám víu vào tất cả những gì mình có, từ Kinh Thánh, ánh sáng nội tâm cho đến sự hiểu biết tốt nhất của bản thân, để biện minh cho đức tin của mình. Chúng ta, những con người đang sống dưới ánh ban mai rộng mở hơn, những kẻ có thể viện dẫn không chỉ một mà hàng ngàn cuốn sách, những người đang nắm giữ ánh sáng khoa học chiếu rọi trắng ngần và rộng mở lên những vấn đề lớn lao vốn từng mờ mịt và tối tăm dưới thời Peter Chilciky, lẽ ra phải là những kẻ cuối cùng buông lời chế giễu cuộc đấu tranh anh dũng của họ chống lại bạo tàn và sự độc ác; dẫu cho ngày nay, kẻ nào còn dám lặp lại những yêu sách của họ dựa trên nền tảng của họ thì đương nhiên sẽ bị đánh giá là kẻ phản lùi về thời nguyên thủy hoặc một tên bịp bợm.

Những người theo phái Anabaptists hầu như chẳng biết gì về lịch sử, hoặc biết rất ít. Bởi vì lịch sử đích thực – thứ lịch sử ghi lại sự lớn lên của toàn bộ một dân tộc, vạch ra quá trình tiến hóa tư duy của nó được phản chiếu qua các công trình hòa bình như văn học, nghệ thuật, kiến trúc – thực chất là phát minh của thời đại chúng ta. Phải đến tận bảy mươi lăm năm trở lại đây, mục đích của lịch sử mới đạt được độ sâu sắc nhường ấy. Trước đó, lịch sử chỉ là một cuốn sổ ghi chép những tình huống kịch tính rời rạc không có mối liên hệ cụ thể, là biên niên sử về chiến tích của những nhân vật nổi bật, là danh sách những âm mưu, tai tiếng, những vụ án mạng lớn nhỏ; trong khi những con người vĩ đại, những kiến trúc sư và người gìn giữ thực sự của giống loài, khối quần chúng khổng lồ đầy nhẫn nại và lặng thầm – những kẻ đã nhọc nhằn bồi đắp cho tất cả những vùng đất hoang tàn do sự tàn phá ấy để lại – lại gần như bị phớt lờ hoàn toàn. Và chẳng ai mảy may tìm cách khám phá mối liên hệ giữa các hành động được ghi chép ấy với bất kỳ nguyên nhân tổng quát nào; chẳng ai nảy sinh ý niệm về việc tìm ra thế nào là sự phát triển chính trị, đạo đức hay sự tự sát về mặt chính trị, đạo đức. Họ không làm thế bởi vì các nhà viết sử, tự thân họ cũng là hiện thân của tinh thần thời đại mình, không tài nào vượt qua nổi cái thái độ tâm trí phi khoa học vốn sinh ra từ sự dốt nát và được nuôi dưỡng bởi tôn giáo Thiên Chúa: rằng con người là một thực thể hoàn toàn khác biệt với phần còn lại của thế giới sinh vật; rằng con người là một tác nhân có đạo đức tự do, muốn tốt thì tốt, muốn xấu thì xấu, tức là tùy thuộc vào việc họ chấp nhận hay chối bỏ ý chí của Chúa; rằng mọi hành động đều đơn lẻ, không có tiền đề đạo đức nào ngoài ý chí của kẻ thực hiện. Phải chờ cho đến khi khoa học hiện đại chiến đấu vượt qua ngục tù, lưu đày, giàn hỏa thiêu, giá treo cổ và những màn tra tấn để chứng minh rằng con người không phải là một dị thường tự do ý chí bị ném bởi một gã pha trò toàn năng vào thế giới nhân quả để quậy phá tung trời, mà chỉ là một mẩu nguyên sinh chất nghèo nàn chịu sự chi phối của các quá trình vật chất và tinh thần chẳng khác gì tổ tiên nguyên thủy của chúng ta dưới đáy biển kỷ Silur; phải đợi đến khi ấy thì những nhận thức thực sự về tầm vóc của lịch sử mới có thể khởi nguồn. Phải đến lúc đó người ta mới tuyên bố rằng: "Hành động của con người là hệ quả của những nguyên nhân lớn lao và phổ quát. Nhân loại nói chung có nhịp độ vận động ổn định hệt như nhịp thủy triều; và khi đặt vào những môi trường vật chất và xã hội nhất định, những sự phát triển nhất định hoàn toàn có thể được dự báo với độ chính xác của một phép tính toán học." Cứ thế, tội ác – thứ mà suốt bao thế kỷ qua con người vẫn thản nhiên trừng phạt với mức độ nhẹ nhàng khác nhau – xa lạ với việc tìm thấy nguyên nhân tận cùng ở sự đồi bại cá nhân, mà thực ra mang mối liên hệ bền chặt và bất biến với việc sản xuất và phân phối nguồn lương thực thiết yếu, một điều mà đôi khi chính xã hội cũng không thể kiểm soát nổi (như trong các dịp thiên tai), và nhìn chung vẫn chưa biết cách quản lý cho khôn ngoan: vậy thì cá nhân làm sao có thể kiểm soát nổi! Tính quy luật của sự tái diễn tội ác này từng được chỉ ra từ rất lâu trước đó bởi các nhà thống kê vĩ đại nhất châu Âu, dẫu họ chưa đi xa đến mức đặt câu hỏi tại sao lại như vậy, hay đem so sánh những tính quy luật ấy với các quy luật khác, thế nhưng sự lặp đi lặp lại liên tục của những con số nhất định trong thống kê về án mạng, tự tử, hành hung, v.v., đã để lại trong họ một ấn tượng sâu sắc. Công việc so sánh các số liệu ấy được nhường lại cho các nhà sử học tân thời, với nhân vật tiên phong vĩ đại là H. T. Buckle ở Anh, để qua đó chứng minh rằng tội ác cũng như đức hạnh của cá nhân luôn có thể tính toán được dựa trên các điều kiện vật chất chung.

Đó là nền tảng mà chúng tôi dùng để lập luận, và đó là một nền tảng được thiết lập bởi lịch sử so sánh giữa các nền văn minh. Không có cách nào khác để thiết lập nó một cách thực sự. Người ta có thể đoán mò, và thực tế là đã từng đoán mò như thế. Nhưng chỉ khi các con số hiển hiện trước mắt chúng ta, những con số thu được "từ hàng triệu lượt quan sát trải dài trên các tầng lớp văn minh khác nhau, với những bộ luật khác nhau, quan điểm khác nhau, thói quen khác nhau, đạo đức khác nhau" (tôi đang trích dẫn Buckle), chỉ khi đó chúng ta mới có thể khẳng định chắc chắn rằng tâm trí con người tiến triển theo một quy luật vận hành lấn át mọi tín điều và bộ luật từng được phát minh, và rằng nếu chúng ta muốn bắt đầu thấu hiểu bài toán xử lý tội ác, chúng ta phải hướng đến một tầm vóc rộng lớn hơn nhiều so với việc cải cách đạo đức của kẻ phạm tội. Không một lời cầu nguyện nào, không một văn bản luật pháp nào có thể gột rửa tội ác khỏi xã hội. Nếu chúng có thể làm được điều đó, thì đã có đủ lời cầu nguyện, đủ bài giảng đạo, đủ luật lệ và ngục tù để hoàn thành nhiệm vụ ấy từ lâu rồi. Nhưng bạn hãy cầu nguyện cho lực hấp dẫn ngừng hoạt động xem. Liệu nó có ngừng không? Hãy ban hành luật bắt nước phải đóng băng ở 100 độ nhiệt xem. Liệu nước có đóng băng không? Và con người cũng sẽ chẳng thể trở nên lành mạnh, lương thiện và công bằng khi họ bị buộc phải sống trong một xã hội bệnh hoạn, gian trá và bất công, khi mà quy luật tự nhiên của chính bản thể họ bị chống phá bởi những đạo luật và thể chế vốn chỉ đẻ ra những sự bùng nổ mang tính hủy hoại cho cả bản thân họ lẫn người khác.

Từ tận năm 1835, Quetelet – nhà thống kê người Pháp – từng viết rằng: "Thực tế, qua mọi bằng chứng khả dĩ, kinh nghiệm đã chứng minh cái quan điểm thoạt nghe có vẻ nghịch lý này: chính xã hội là kẻ chuẩn bị cho tội ác, còn kẻ có tội chỉ là công cụ thi hành mà thôi." Do đó, mọi tội ác thực chất là một cáo buộc nhắm vào xã hội, và cáo buộc ấy chỉ có thể được hồi đáp một cách đúng đắn khi xã hội bằng lòng nhìn nhận lại những sai lầm của chính mình và sửa chữa điều sai trái mà nó đã gây ra. Đây là một trong những hệ quả tất yếu phải tuôn chảy từ công sức của các nhà sử học chân chính; một trong những lý do giải thích vì sao lịch sử đáng để viết ra.

Giờ đây, điểm tiếp theo trong bài toán chính là bản thân tên tội phạm. Thừa nhận một điều không thể chối cãi rằng hành động của con người luôn có nhân quả; thừa nhận áp lực của những nguyên nhân chung đè nặng lên tất cả mọi người như nhau, thì lý do gì khiến một người trở thành tội phạm còn người kia thì không?

Từ thời các nhà tư vấn pháp luật La Mã cho đến tận bây giờ, các nhà luật học vẫn luôn vạch ra ranh giới phân định giữa tội ác chống lại luật tự nhiên và tội ác chỉ chống lại luật pháp xã hội. Dưới góc nhìn khoa học hiện đại, một sự phân định như vậy không thể nào đứng vững được. Tự nhiên hoàn toàn mù tịt về khái niệm tội ác, và chẳng có thứ gì trở thành tội ác cho đến khi Lương tâm xã hội gán cho nó cái nhãn đó. Hơn nữa, khi đọc các sách luật của họ, dù có cố chấp nhận quan điểm của họ đi chăng nữa, người ta cũng khó lòng hiểu nổi tại sao một số tội lại được xếp vào nhóm chống lại luật tự nhiên, trong khi số khác lại mang tính nhân tạo hơn. Nhưng tôi đoán rằng những gì được phân loại chung là tội ác chống lại tự nhiên chính là các Hành vi Bạo lực nhắm vào con người. Ngoài những điều đó ra, chúng ta còn đối mặt với một số lượng khổng lồ, gần như vô tận các hành vi phạm pháp lớn nhỏ, mà phần lớn là các cuộc tấn công nhắm vào chế độ sở hữu tư tài – những thứ đòi hỏi những lời bàn luận hoàn toàn khác biệt so với nhóm tội phạm đầu tiên. Đối với nhóm tội phạm đầu tiên, không có gì nghi ngờ khi đó là những tội ác thực sự, theo đó tôi muốn ám chỉ đơn giản là các hành vi phản xã hội. Bất kỳ hành động nào xâm phạm đến sinh mạng hoặc tự do của bất kỳ cá nhân nào đều là một hành vi phản xã hội, dù nó được thực hiện bởi một người, hai người, hay cả một quốc gia. Và tội ác vĩ đại nhất từng bị dung dưỡng, một tội ác khiến mọi hành động tàn bạo cá nhân trở nên nhỏ bé đến mức tan biến, chính là Chiến tranh; và những kẻ sát nhân vĩ đại nhất, ít có thể tha thứ nhất chính là những kẻ ra lệnh cho cuộc chiến ấy và những kẻ trực tiếp thi hành nó. Mặc dù vậy, kẻ sát nhân đầu sỏ này – tức Chính phủ, với đôi bàn tay đẫm máu của hàng trăm nghìn sinh linh – lại tự cho phép mình đi sửa chữa những kẻ phạm tội đơn lẻ, ban hành hàng dặm luật lệ để định nghĩa các mức độ phạm tội và hình phạt khác nhau, đồng thời sử dụng những viên đá xây dựng đẹp đẽ cho những mục đích vô cùng gớm ghiếc chỉ để nhốt và tra tấn họ trong đó.

Chúng ta đôi khi vẫn hái được quả vả từ cây ké gai – đôi khi là thế! Chính từ cái thứ ô uế tồi tệ là nhà tù ấy lại đâm chồi ngành khoa học tội phạm học. Nó còn rất mới mẻ, và xung quanh nó vẫn tồn tại không ít những điều vô nghĩa được nhào nặn một cách tỉ mỉ. Nhưng các kết quả cốt lõi của nó lại vô cùng thú vị và cần phải được biết đến bởi bất kỳ ai muốn hình thành một nhận thức minh triết về bản chất của tội phạm cũng như cách đối xử với họ. Những con người điềm tĩnh, lặng lẽ, những kẻ thâm nhập vào thế giới tội phạm và nghiên cứu chúng hệt như Darwin từng làm với thực vật và động vật, cho chúng ta biết rằng những phạm nhân này có thể quy gọn về ba kiểu loại: Tội phạm bẩm sinh, Tội phạm ái kỷ (Criminaloid), và Tội phạm do tai nạn tình cờ. Tôi có xu hướng hoài nghi phần lớn những gì được gán cho tội phạm bẩm sinh. Giáo sư Lombroso đã cung cấp cho chúng ta những báo cáo vô cùng kiệt sức về các thông số đo đạc hộp sọ, tai, mũi, ngón tay cái, ngón chân của họ, v.v. Nhưng tôi nghi ngờ rằng nếu đem một số lượng lớn những con người đáng kính, đàng hoàng, chưa từng làm điều sai trái nào trong đời ra đo đạc, những chiếc tai dị hình hay ngón tay cái dài bất tương xứng cũng sẽ xuất hiện ở họ với tỷ lệ tương đương, miễn là họ cẩn thận giả dạng làm tội phạm trước. Mặc dù vậy, dù số lượng có ít ỏi đến đâu đi nữa (và thực tế là chúng rất ít), vẫn tồn tại một số ít tội phạm bẩm sinh – những con người do một vài khiếm khuyết, dị tật hoặc sự thừa thãi ở một phần bộ não nào đó nên liên tục bị thúc đẩy thực hiện những hành vi bạo lực. Chà, thế giới vẫn có những kẻ thiểu năng bẩm sinh và những người tàn tật bẩm sinh đấy thôi. Các người có trừng phạt họ vì chứng thiểu năng hay vì tình trạng thể chất bất hạnh của họ không? Ngược lại là đằng khác, các người bày tỏ sự thương cảm, các người nhận thức rõ cuộc đời là một chuỗi hình phạt kéo dài đối với họ, và những thiện cảm chân thành nhất, dịu dàng nhất của các người dành trọn cho họ. Vậy thì tại sao lại không thể đối xử như thế với kẻ kia, người cũng vốn là một nạn nhân bất lực trước di sản tội lỗi tương tự? Tạm gác lại giả định rằng các người có quyền trừng phạt những kẻ có năng lực chịu trách nhiệm hành vi đi, thì chắc chắn các người không thể đòi hỏi cái quyền được trừng phạt những kẻ hoàn toàn mất khả năng chịu trách nhiệm về mặt tinh thần!

Ngay cả luật pháp cũng không kết tội kẻ tâm thần. Và tội phạm bẩm sinh chính là những kẻ vô trách nhiệm; họ là những bệnh nhân, mắc phải một thứ bệnh mãn tính đáng thương nhất; việc điều trị họ là thẩm quyền của giới y khoa chứ không phải của công tố viên, thẩm phán hay quản trại.

Đúng là có nhiều nhà tội phạm học, bao gồm cả chính Giáo sư Lombroso, cho rằng cách giải quyết tốt nhất đối với tội phạm bẩm sinh là thủ tiêu hắn ngay lập tức, bởi hắn chỉ mang lại tai ương cho chính mình và người khác. Quả là một phương pháp điều trị hết sức anh hùng. Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Liệu hắn có nên bị tiêu diệt ngay từ khi vừa chào đời chỉ vì một vài dấu hiệu thể chất tố cáo bản chất tội phạm? Thứ chủ nghĩa tân Sparta như thế khó lòng chiếm được cảm tình của bất kỳ xã hội hiện đại nào. Hơn nữa, chẩn đoán hoàn toàn có thể sai lầm, ngay cả khi chúng ta sở hữu một hội đồng các nhà bác học thường trực và liêm khiết để xét hỏi từng đứa trẻ da hồng hào đáng ngờ mới sinh được ba ngày! Vậy thì phải làm sao? Lẽ nào cứ để mặc hắn nhởn nhơ như hiện tại cho đến khi gây ra một hành động bạo lực nào đó, rồi sau đó trừng phạt nặng tay hơn chỉ vì khuyết tật bẩm sinh của hắn? Cả hai phương án đều có vẻ không chỉ nhẫn tâm, độc ác mà còn — thứ mà thế giới đáng kính thường sợ bị gán cho hơn cả hai điều trên — lố bịch. Nếu một người thực sự là tội phạm bẩm sinh, hắn sẽ biểu hiện xu hướng phạm tội ngay từ khi còn nhỏ, và khi đã được nhận diện như thế, hắn nên được chăm sóc theo các phương pháp nhân đạo nhất dành cho người mắc bệnh tâm thần.

Nhóm thứ hai, hay còn gọi là tội phạm ái kỷ (criminaloids), chiếm số lượng đông đảo nhất trong ba loại. Họ là tội phạm, trước hết bởi vì sở hữu những ham muốn mạnh mẽ cùng năng lực suy luận bất cân xứng, họ không tài nào duy trì được cuộc chiến không cân sức chống lại một xã hội nơi phần lớn cá nhân phải luôn đè nén những ham muốn tự nhiên của mình nếu muốn giữ bản thân không bị vấy bẩn bởi tội ác. Nói tóm lại, họ chính là con người bình thường (phải thừa nhận là có pha lẫn một chút hèn nhát trong bản chất) cộng thêm sự thừa thãi của muôn vàn loại ham muốn, mà phần lớn là ham muốn thể xác. Xã hội bên ngoài ngục tù ngập tràn những kẻ ái kỷ này, những kẻ đôi khi thay vì năng lực kháng cự đạo đức chân chính lại sở hữu sự khôn lỏi lén lút để chèo lái một con đường mập mờ nằm lơ lửng giữa tội ác và hình phạt.

Đúng là những con người này không phải là đối tượng dễ chịu gì để ngắm nghía; nhưng ngặt nỗi, toàn bộ nhân loại đã phải trải qua chính cái giai đoạn phát triển ấy trên hành trình tiến hóa từ loài vật thành con người – ý tôi muốn nói là cái giai đoạn mà sự thừa mứa của dục vọng vấp phải sức kháng cự đạo đức yếu ớt; và nếu giờ đây một số người đã đảo ngược được tỷ trọng ấy, dẫu không chắc số lượng của họ có lớn hay không, thì đó chỉ là bởi họ là những kẻ may mắn thừa hưởng thành quả của hàng ngàn năm đấu tranh và thất bại, đấu tranh và thất bại, nhưng rồi lại tiếp tục đấu tranh. Chính những kẻ ái kỷ này mới là những đối tượng bị xã hội tội lỗi tước đoạt nhiều nhất, bởi họ là những người cần được tạo điều kiện để làm những việc đúng đắn một cách dễ dàng, và khi họ phạm tội, họ là những người cần được khích lệ nhiều nhất để giúp cái ý thức đạo đức vốn mỏng manh và tổn thương kia có thể trỗi dậy, để làm lại từ đầu.

Nhóm thứ ba, tức Tội phạm do tai nạn hoặc Tội phạm ngẫu nhiên, là những con người hoàn toàn bình thường, có tâm lý quân bình, những người vì áp lực khủng khiếp của hoàn cảnh bên ngoài, và có lẽ cả một chút xáo trộn tinh thần bất ổn nảy sinh từ chính những quan niệm về cách ứng xử trong đời vốn là một phần trong nhân tính đạo đức của họ, bỗng chốc phạm phải một hành vi bạo lực hoàn toàn trái ngược với toàn bộ quãng đời trước đó; chẳng hạn như việc một người cha giết kẻ đã dụ dỗ đứa con gái bất hạnh của mình, hay một người chồng giết kẻ tình nhân của vợ. Nếu tôi là người ủng hộ sự nghiêm khắc, tôi sẽ nói rằng đây mới chính là những tội phạm mà xã hội phải đối xử với mức độ nghiêm khắc cao nhất, bởi họ là những kẻ có trách nhiệm tinh thần lớn nhất. Nhưng điều đó cũng thật vô nghĩa; bởi một cá nhân như thế đang mang trong mình một vị thẩm phán nghiêm khắc hơn, một gã ngục tốt tàn nhẫn hơn bất kỳ tòa án hay nhà tù nào — đó là lương tâm và ký ức của chính họ. Hãy để họ tự chịu đựng những điều đó; hoặc không, vì lòng nhân đạo, hãy đưa họ rời khỏi những sự dằn vặt ấy bất cứ khi nào bạn có thể; họ đã phải chịu đựng đủ đớn đau rồi, và chẳng có gì phải sợ việc hành vi đó sẽ lặp lại cả.

Giờ đây, tất cả những con người này đang tồn tại xung quanh chúng ta, và việc làm điều gì đó để cứu vãn tình hình là vô cùng cấp thiết. Xã hội đang làm gì? Hay đúng hơn là Chính phủ đang làm gì với họ? Hãy nhớ rằng chúng ta hiện chỉ đang bàn về các tội ác bạo lực. Họ treo cổ, họ hành quyết bằng ghế điện, họ lưu đày, họ tống giam. Tại sao? Để trừng phạt. Và tại sao phải trừng phạt? Blackstone nói rằng: "Không phải để chuộc lỗi hay đền tội cho hành vi phạm pháp đã gây ra, bởi điều đó phải được phán quyết công minh bởi Đấng Tối Cao, mà nhằm mục đích phòng ngừa những hành vi phạm tội tương tự trong tương lai." Điều này được cho là sẽ đạt được qua ba cách: hoặc cải tạo hắn, hoặc loại bỏ hắn vĩnh viễn, hoặc răn đe những kẻ khác bằng cách nêu gương hắn.

Hãy xem những biện pháp phòng ngừa này vận hành ra sao. Lưu đày – hình thức hiện vẫn được áp dụng bởi một số chính phủ – và tù đày, theo lý thuyết luật pháp, nhằm mục đích cải tạo kẻ phạm tội để hắn không còn là mối đe dọa cho xã hội. Lô-gích thông thường sẽ mách bảo rằng bất kỳ ai muốn xóa bỏ sự tàn ác khỏi bản chất của người khác thì bản thân họ tuyệt đối không được thể hiện sự tàn ác; kẻ muốn dạy người khác tôn trọng quyền lợi của tha nhân thì chính hắn phải là người biết tôn trọng. Thế nhưng lịch sử của việc lưu đày và ngục tù lại là lịch sử của roi da, xiềng xích, gông cùm và mọi thứ hình tấn tra tấn mà sự xảo quyệt tàn độc của tầng lớp phi tội phạm có thể nghĩ ra dưới danh nghĩa "dạy dỗ tội phạm sống lương thiện"! Để dạy con người ta sống lương thiện, họ bị nham nhở tống vào những buồng giam ngột ngạt không một ngọn gió, buộc phải ngủ trên những tấm ván hẹp, ngắm nhìn bầu trời qua những song sắt, ăn thứ thức ăn khiến dạ dày họ lộn mửa và phá nát hệ tiêu hóa – bị đập nát cả về thể xác lẫn tâm hồn; và đó là cái mà họ gọi là cải tạo con người!

Cách đây chưa lâu, các tờ nhật báo ở Philadelphia đã loan tin (và dẫu chúng ta không thể tin toàn bộ những gì họ nói, đồng thời buộc phải thừa nhận rằng những trường hợp như vậy chỉ là ngoại lệ, thì những sự thật trần trụi ấy vẫn là sự thật) rằng Thẩm phán Gordon đã ra lệnh điều hành một cuộc điều tra về cách vận hành của các quan chức Nhà tù phía Đông; và người ta phát hiện ra rằng một gã tâm thần đã bị tống chung xồng với hai tên tỉnh táo, và khi hắn kêu la theo cách của kẻ điên khiến hai kẻ kia yêu cầu chuyển hắn đi chỗ khác, viên quản trại đã ném cho họ một chiếc dây nua để đánh hắn; thế là chúng trói hắn vào lò sưởi bằng sợi dây đó theo một cách nào đó khiến chân hắn bị bỏng nặng mỗi khi cựa quậy; hắn được đưa ra tòa với những vết sẹo bỏng chằng chịt trên người, và những phạm nhân kia đã thành khẩn khai tuốt tuột những gì họ đã làm và lý do họ làm thế. Đó là cách họ cải tạo con người đấy.

Các người có nghĩ rằng con người ta bước ra từ một xó xỉnh như thế sẽ trở nên tốt đẹp hơn không? Sẽ tôn trọng xã hội hơn không? Sẽ biết trân quý quyền lợi của đồng loại hơn không? Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi cho rằng họ bước ra với cõi lòng đầy ắp sự cay đắng, chai sạn hơn rất nhiều so với lúc bước chân vào. Rằng đây là tình trạng thường trực vốn được thừa nhận bởi chính những kẻ tin tưởng và thực thi sự trừng phạt. Bởi thực tế là từ tầng lớp tội phạm ái kỷ, người ta sẽ sản sinh ra Tội phạm Thâm niên (Habitual Criminal) – kẻ cứ hễ ra khỏi tù là lại dính chàm và bị tống giam trở lại; vừa bén chân ra khỏi cổng là hắn lại gây chuyện và chui đầu vào tù lần nữa. Dấu ấn từng thiêu đốt hắn thuở ban đầu nay đã thành công trong việc làm chai lì cảm giác. Hắn chẳng còn cảm thấy chút nhục nhã nào nữa. Hắn là một "con chim lồng sở cẩm", và hắn bắt đầu nuôi dưỡng một niềm tự hào đầy mỉa mai về sự đọa đày của chính mình. Bàn tay của mọi người quay lưng chống lại hắn, và bàn tay hắn cũng chống lại tất cả mọi người. Đó chính là những hệ quả cải tạo từ hình phạt đấy. Thế nhưng đã từng có lúc, chính con người ấy cũng có thể được đánh thức, giá như người ta nói với hắn đúng một lời phải lẽ. Xã hội có trách nhiệm phải tìm ra và thốt lên lời nói đó.

Đó là chuyện nhà tù và lưu đày. Còn việc treo cổ? Ghế điện? Dĩ nhiên những thứ này không nhằm mục đích cải tạo phạm nhân. Chúng được sinh ra để răn đe những kẻ khác không dám dẫm lên vết xe đổ của hắn; và giả định đặt ra là hình phạt càng khắc nghiệt thì hiệu quả răn đe càng lớn. Khi bàn luận về nguyên tắc này, Blackstone đã nhận xét rằng: "Chúng ta có thể nhận thấy rằng những hình phạt mang tính khắc nghiệt bất hợp lý... lại đem lại hiệu quả ngăn ngừa tội phạm và chấn chỉnh đạo đức dân chúng kém hơn so với những hình phạt mang tính khoan dung hơn nói chung..." Ông còn trích dẫn Montesquieu thêm rằng: "Bởi vì sự nghiêm khắc thái quá của luật pháp cản trở chính việc thi hành luật; khi hình phạt vượt quá mọi giới hạn đo lường, công chúng vì lòng nhân đạo thường sẽ thà chấp nhận để tội phạm nhởn nhơ còn hơn là dung túng cho mức án ấy." Blackstone lại tiếp tục: "Đó là một sự thật buồn thảm rằng trong vô vàn hành vi mà con người có thể phạm phải hàng ngày, có không dưới một trăm sáu mươi hành vi từng được tuyên bố bởi Đạo luật Nghị viện là trọng tội... đáng phải chịu án tử hình ngay tức khắc. Một danh sách khủng khiếp đến thế chẳng những không làm giảm mà trái lại còn làm gia tăng số lượng kẻ phạm pháp."

Robert Ingersoll, khi phát biểu về chủ đề "Tội ác Chống lại Tội phạm" trước Hiệp hội Luật sư New York, với tư cách là một luật sư đứng trước các đồng nghiệp để bàn về chính giai đoạn lịch sử mà Blackstone đề cập, đã nói rằng: "Có điều gì đó trong sự bất công và tàn ác luôn mang xu hướng tự đào thải chính nó. Chưa từng có thời kỳ nào nước England lại lắm kẻ phản quốc như thời mà kẻ phản quốc bị phanh thây xé xác, khi hắn bị tra tấn bằng mọi phương thức có thể tưởng tượng được – khi các phần cơ thể rách rướm và đẫm máu của chúng bị ném cho đám đông cuồng nộ, hoặc bêu lên cọc nhọn hay treo trên xích sắt. Những hình phạt kinh hoàng ấy đã sinh ra lòng thù hận tột độ nhắm vào chính phủ, và số lượng kẻ phản quốc cứ thế sinh sôi cho đến khi chúng đủ mạnh để tự định nghĩa thế nào là phản quốc, ai là kẻ phản quốc, đồng thời giáng trả những hình tấn tra tấn y hệt lên đầu kẻ khác."

Thực tế là Blackstone đã đúng và Ingersoll đã đúng khi khẳng định rằng sự khắc nghiệt của hình phạt chỉ làm gia tăng tội ác, điều này được ngầm thừa nhận qua việc bãi bỏ những hình phạt dã man ấy bằng các Đạo luật của Nghị viện và Quốc hội. Nó cũng được minh chứng qua thực tế rằng tỷ lệ án mạng ở những bang không áp dụng án tử hình hoàn toàn không cao hơn so với những bang vẫn duy trì hình phạt này. Do đó, ngay cả bản thân Nhà nước cũng buộc phải thừa nhận rằng sự khắc nghiệt chẳng có chút tác dụng răn đe nào đối với kẻ có ý đồ phạm tội. Và để đưa vấn đề ra khỏi phạm vi của Nhà nước, chúng ta chỉ cần viện dẫn đến những tội ác kinh hoàng do các đám đông da trắng gây ra nhắm vào những người da đen bị buộc tội xâm hại. Chẳng thể tưởng tượng nổi điều gì tàn ác hơn thế; thế nhưng những vụ việc ấy vẫn ngày một gia tăng. Xem ra, cái ý niệm dùng một tội phạm làm vật tế thần kinh hoàng để răn đe thiên hạ đã hoàn toàn phá sản. Lấy một ví dụ cụ thể cho chuyện này, Ingersoll (trong chính bài diễn thuyết ấy) đã dẫn chứng rằng: "Vài năm trước, có một gã đàn ông bị treo cổ ở Alexandria, Virginia. Ngay vào ngày hôm ấy, một kẻ chứng kiến buổi hành quyết đã sát hại một người bán hàng rong tại khuôn viên Smithsonian ở Washington. Hắn bị bắt đem đi xét xử và cũng chịu chung án tử; và một kẻ khác chứng kiến buổi treo cổ của hắn lại lủi thủi đi về nhà để rồi cũng trong ngày hôm đó sát hại chính vợ mình." Rõ ràng là bản tính thú tính của con người không hề bị khuất phục mà thay vào đó lại bị kích động mạnh mẽ hơn bởi những cảnh tượng hành quyết.

Vậy thì sao nữa? Nếu những hình phạt cực đoan không mang tính răn đe, và nếu những hình phạt được coi là khoan dung lại không thể cải tạo, liệu có một thước đo hình phạt nào có thể hình dung hay đạt được để cứu vãn tình thế của chúng ta không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta hãy cùng xem xét nhóm tội phạm mà từ nãy đến giờ chưa được bàn kỹ tới, nhưng lại chiếm đến khoảng chín phần mười tổng số các hành vi phạm pháp được thực hiện. Đó là tất cả các hình thức trộm cắp – cướp giật, đột nhập, trộm vặt, biển thủ, làm giả giấy tờ, làm tiền giả và muôn hình vạn trạng những nhánh rẽ của hành vi tước đoạt thứ mà luật pháp định nghĩa là của người khác. Thật bất khả thi khi tách rời các tội ác bạo lực ra khỏi nhóm này, bởi phần lớn tỷ lệ các vụ án mạng và tấn công do tầng lớp ái kỷ gây ra thực chất chỉ là hệ quả đi kèm trong quá trình thực hiện cái gọi là tội ác ít nghiêm trọng hơn. Một tên tội phạm đôi khi ra tay sát nhân chỉ để tẩu thoát cùng chiến lợi phẩm của hắn, dẫu rằng ý định ban đầu chưa bao giờ là giết người. Vậy thì tại sao tỷ lệ trộm cắp lại ngày một gia tăng không ngừng như thế?

Liệu các người còn muốn mãi vùi đầu vào cát để tự lừa dối rằng đó là vì con người ngày càng trở nên tồi tệ hơn khi họ khôn ngoan hơn? Rằng sự đồi bại cá nhân là hệ quả từ tất cả những nỗ lực kỳ diệu của chúng ta trong việc chinh phục biển khơi lẫn đất liền, bắt trái đất phải dâng hiến kho tàng của cải cho chúng ta? Các người dám thốt lên điều đó chứ?

Không phải thế đâu. Lý do con người ăn cắp đơn giản là vì các quyền lợi của họ đã bị ăn cắp từ trước khi họ chào đời.

Một sinh linh bước vào thế giới này; hắn muốn ăn, muốn thở, muốn ngủ; hắn muốn vận dụng cơ bắp và khối óc của mình; hắn muốn yêu đương, muốn mộng mơ, muốn sáng tạo. Những nhu cầu đó cấu thành nên con người hắn, một con người toàn vẹn; hắn không thể nào ngăn cản bản thân biểu hiện những năng lực ấy cũng như nước không thể ngừng chảy xuôi dốc. Nếu quyền tự do thực hiện bất kỳ điều gì trong số đó bị tước đoạt, thì đồng thời hắn trở thành một sinh vật tàn phế, và năng lượng trong hắn sẽ tự ép mình chui vào những kênh rạch bất thường hoặc bị bóp nghẹt hoàn toàn. Ý tôi không phải là hắn sở hữu một "quyền tự nhiên" được khắc họa trên bất kỳ bộ luật nào của Tự nhiên để thực hiện những điều đó. Tự nhiên hoàn toàn không biết gì về các quyền lợi, bà ta chỉ tôn sùng sức mạnh, và một con chí cũng có quyền tự nhiên ngang bằng con người trong hạn mức sức mạnh của nó. Điều tôi muốn nói ở đây là con người, cùng chung với nhiều loài động vật khác, đã nhận ra rằng thông qua đời sống xã hội mang tính liên kết, họ có thể chinh phục phần còn lại của tự nhiên, và xã hội ấy đang dần được hoàn thiện; rằng sự hoàn thiện này nằm ở việc nhận thức rõ ràng rằng sự đoàn kết và an toàn của toàn bộ cộng đồng xuất phát từ quyền tự do của từng cá nhân hợp thành; rằng sự tự do ấy cấu thành nên Quyền lợi Xã hội của Con người; và rằng bất kỳ thể chế nào cản trở quyền lợi này đều sẽ hủy diệt sự liên kết, nuôi dưỡng tội phạm và tự đào mồ chôn chính mình. Đó chính là thông điệp từ các nhà xã hội học, vĩ đại nhất trong số đó là Herbert Spencer.

Giờ đây, chúng ta hãy nhìn xem liệu tất cả mọi người có được ăn no – ăn ngon không? Chắc chắn các người thừa biết là không rồi. Có kẻ sở hữu của cải nhiều đến mức phát ngấy với những món ăn xa hoa tột cùng, chẳng biết phải tìm kiếm cảm giác vị giác mới lạ nào nữa. Họ thậm chí còn chẳng tài nào tiêu xài hết đống tài sản của mình. Có những kẻ – và phần lớn họ là những người lao động vất vả nhất – ăn uống đạm bạc và vội vã, bởi công việc chẳng chừa cho họ chút thời gian nào để tận hưởng ngay cả những gì họ đang có. Lại có những kẻ – chính mắt tôi từng nhìn thấy họ trên những con đường ở New York vào mùa đông này, và ánh mắt đói khát như loài sói của họ chẳng hề dễ chịu chút nào – đứng xếp hàng dài dằng dặc chờ đợi thời khắc điểm nửa đêm để nhận chiếc bát súp cứu tế được phát đi từ trụ sở của một tòa soạn báo lớn, họ xếp hàng kéo dài cả khu phố hệt như cách người ta chờ đợi trong đêm diễn đầu tiên của một ngôi sao sân khấu nổi tiếng! Lại có những kẻ chết vì không thể kiếm được gì mà ăn. Xin hãy nói cho tôi biết những kẻ cùng đường ấy còn gì để mất khi họ quyết định trở thành kẻ trộm. Và tại sao họ lại không thể trở thành kẻ trộm cơ chứ? Và liệu hành động của một kẻ tước đoạt những nhu yếu phẩm từng bị từ chối ban phát cho mình có thực sự là tội ác không? Về mặt đạo đức, hắn có tồi tệ hơn kẻ thu mình trong căn hầm tối rồi chết vì đói lả không? Tôi không nghĩ vậy. Hắn chỉ quả quyết hơn một chút mà thôi. Hồng y Manning từng nói rằng: "Một kẻ đang chết đói có quyền tự nhiên đối với chiếc bánh mì của người hàng xóm." Còn nhà Anarchist thì tuyên bố: "Một kẻ đang đói khát có quyền xã hội đối với bánh mì." Và đã từng có cả những cộng đồng cùng các chủng tộc mà ở đó quyền lợi ấy chưa bao giờ bị đem ra chất vấn. Dù cho những cộng đồng ấy có mắc phải những sai lầm dẫn đến sự diệt vong đi nữa, thì điều đó chưa bao giờ là sai lầm, và chúng ta sẽ rất khôn ngoan nếu biết học hỏi chút ít sự uyên bác từ những con người đã khuất, từ thứ đạo đức bình dị của cái dạ dày mà bất chấp mọi thành tựu, chúng ta không thể nào khinh miệt, hoặc nếu khinh miệt, chúng ta sẽ phải nhận lấy sự diệt vong như một phần thưởng thích đáng.

“Nhưng,” các người sẽ thốt lên, và hoàn toàn chính xác khi nói rằng, “bắt đầu bằng việc cướp những ổ bánh mì nghĩa là kết thúc bằng việc vơ vét sạch sành sanh và thường là cả giết người nữa.” Và qua câu nói đó, các người đang tự viết nên bản án cáo buộc chính hệ thống của mình. Nếu không có sự lựa chọn nào khác ngoài chết đói hoặc ăn cắp (và đối với hàng ngàn người thì quả thực chẳng còn sự lựa chọn nào khác), thì cũng chẳng có sự lựa chọn nào khác giữa việc xã hội tàn sát các thành viên của mình, hoặc các thành viên tự tay đập nát xã hội. Vậy thì hãy để Xã hội tự xem xét lại những sai lầm của chính mình đi: hãy để nó tự chịu trách nhiệm trước tất cả những con người mà nó đã cướp bóc và tước đoạt sinh mạng: hãy để nó dẹp bỏ những tội ác của chính nó trước đã!

Quay trở lại với những bản năng của Con người. Ai ai cũng muốn thở; và quả thực có những kẻ được hít thở. Họ hít thở bầu không khí trên những dãy núi, ngoài đại dương, ven các hồ nước – thậm chí cả bầu không khí ngột ngạt trong các sòng bạc ở Monte Carlo để đổi gió! Lại có những kẻ, bị nhồi nhét chen chúc trong những căn phòng đóng kín nơi con người phải đổ mồ hôi và ngất xỉu để tiết kiệm thuốc lá, hít thở cái mùi hôi hám bốc lên từ đờm dãi của những người hàng xóm mắc bệnh lao. Một số khác, phần lớn là trẻ sơ sinh, nằm ngửa trên những tấm cửa hầm dọc theo phố Bainbridge vào những đêm mùa hè, tắm gội lá phổi của mình trong cái bầu không khí hủ lậu nơi hàng ngàn lá phổi từng hít qua, để rồi lớn lên với vẻ ngoài xanh xao, tàn tạ hệt như những củ quả mục rữa mà họ đang hít lấy hơi thở bốc lên từ đó. Lại có những kẻ, tận sâu dưới lòng đất, đối mặt với khí độc tử thần và – chẳng thể thở nổi nữa! Các người có trông chờ được nhìn thấy một nền đạo đức lành mạnh nảy nở ra từ tất cả những thân xác bị đầu độc ấy không?

Có những kẻ được ngủ. Họ có nhiều thời gian đến mức phải dùng đủ loại dược liệu đắt tiền để trải nghiệm cảm giác chìm vào giấc ngủ theo một cách khác lạ trông ra sao! Có những kẻ chỉ được ngủ trên những chiếc giường chẳng mấy êm ái trong vài tiếng ngắn ngủi, quá ít ỏi để khi tỉnh dậy không cảm thấy mệt mỏi hơn trước, rồi lại tiếp tục lao đầu vào cỗ máy xay thịt bất tận của đời sống thức tỉnh. Có những kẻ chìm vào giấc ngủ gục đầu trên những cuốn sách mà họ đã quá mệt mỏi để nghiên cứu, dẫu cho tâm trí vẫn đang gào thét đòi hỏi thức ăn sau một ngày dài lao động thể xác. Có những kẻ ngủ gục với bàn tay vẫn đặt trên cần ga của đầu máy xe lửa, sau hai mươi sáu giờ làm việc liên tục, và – rầm! – họ đã có đủ giấc ngủ cho cả đời!

Có những kẻ dùng cơ bắp: họ dùng chúng để đấm bao cát, và đấm vào bụng những quý ông khác khi cái đầu đã ngập tràn hơi men. Có những kẻ dùng cơ bắp để vác gậy gộc đập đầu những người đàn ông và phụ nữ khác, với mức lương 2,5 đô la một ngày. Có những kẻ vắt kiệt cơ bắp để hàn những thanh sắt, hoặc dệt những tấm vải len, mười hay mười một tiếng mỗi ngày. Và có những kẻ trở nên teo tóp vì ngồi lì bên bàn làm việc cho đến khi chỉ còn là những cái bóng vật vờ của nam giới và nữ giới.

Có những kẻ yêu đương; và sự dâm dục trong tình yêu của họ là vô bờ bến, bởi mọi biểu hiện tự nhiên đã phai nhạt hương vị do sự lạm dụng quá đà. Có những kẻ yêu đương, rồi chứng kiến tình yêu của mình bị thử thách, bào mòn đến xơ xác, chỉ còn là bộ xương khô của tình yêu, bởi tính thực tế của cuộc sống luôn hiện hữu ở đó để bóp nghẹt những cảm xúc thuần túy. Có những kẻ bị tước đoạt sức khỏe, bị tước đi năng lực cảm nhận đến mức chẳng bao giờ biết yêu là gì.

Và có những kẻ mơ mộng, suy tư, sáng tạo; và thế giới ngập tràn vinh quang từ những giấc mơ của họ. Nhưng mấy ai thấu hiểu vinh quang của một giấc mơ chưa bao giờ kịp chào đời, đã chết yểu, lấp vùi đâu đó dưới những mái nhà nơi bộ não tinh tế bị hủy hoại bởi sức nặng của cuộc mưu sinh? Thế còn những giấc mơ hóa thành điên loạn và tàn phá chính thứ mà họ yêu quý nhất thì sao?

Đó chính là những thứ nhào nặn nên tội phạm, là những năng lực bị bẻ cong của con người, bị lệch hướng bởi chế độ tư hữu tài sản – thứ tai họa xã hội khổng lồ nhất thời đại ngày nay. Chính luật pháp của các người đã ngăn cản con người sử dụng các nguồn lực và phương tiện sản xuất của cải trừ phi họ chịu nộp cống vật cho kẻ khác; chính điều này, chứ không phải thứ gì khác, là thủ phạm chịu trách nhiệm cho toàn bộ nhóm tội phạm thứ hai cùng tất cả những vụ án mạng bạo lực vô tình xảy ra trong quá trình thực hiện cướp bóc. Cho phép tôi được trích dẫn ở đây một bài xã luận vô cùng thực tế và thích đáng từng xuất hiện trên tờ Philadelphia North American, bàn về đề xuất của một gã mục sư ngốc nghếch nào đó đòi giới hạn quyền sinh sản của các gia đình giàu có:

"Trái đất này được kiến tạo, làm cho có thể sinh sống được, và được lấp đầy dân cư mà chẳng cần đến lời khuyên nhủ nào từ một ủy ban gồm những kẻ tự cho mình là bề trên, và cho đến khi họ xuất hiện rồi bắt đầu xía mũi vào công việc thiên hạ, đặt ra luật lệ và tự xưng là chúa tể, thì nghèo đói cùng những hệ lụy tai hại của nó vốn là những thứ xa lạ với nhân loại. Khi nào khoa học xã hội tìm ra được cách thức để dẹp bỏ những vật cản ngáng trở sự vận hành của luật tự nhiên cùng sự phân phối công bằng các thành quả lao động, thì khi đó nghèo đói sẽ chấm dứt việc đóng vai trò là tình trạng chung của đại đa số quần chúng, đồng thời khốn khổ, Tội ác và những bài toán dân số cũng sẽ biến mất."

Và chúng sẽ chẳng bao giờ biến mất chừng nào điều đó chưa xảy ra. Mọi cuộc truy lùng con người, mọi hình phạt, rốt cuộc chỉ là những nỗ lực vô ích nhằm dùng chổi để quét ngược dòng thủy triều. Thủy triều sẽ hất văng các người, kèm theo cả cây chổi, đập nát vào những bức tường vô dụng mà các người dựng lên để rào chặn nó. Hãy tự tay giật sập những bức tường ấy đi, bằng không biển cả sẽ tự tay san bằng chúng thay cho các người.

Các người đã bao giờ đứng ngắm đại dương cuồn cuộn kéo vào bờ chưa? Khi cơn gió gầm rú tuôn ra từ lớp sương mù và một tiếng gầm thét vang dội dội lên từ mặt nước? Các người đã bao giờ nhìn thấy những con sư tử trắng đuổi bắt nhau lao vào bức tường đá, rồi tung mình nhảy dựng lên với cơn giận dữ ngập tràn bọt trắng khi va đập, rồi xoay ngoắt lại đuổi theo nhau dọc theo những thanh chắn đen kỵ của chiếc lồng giam trong cơn cuồng nộ muốn nuốt chửng lấy nhau? Rồi rút lui? Rồi lại lao vào? Có bao giờ giữa khung cảnh hỗn loạn ấy, các người tự hỏi giọt nước cụ thể nào sẽ là kẻ đập đầu vào bức tường kia không? Nếu ai đó nắm rõ mọi nhân tố, họ có thể tính toán được cả điều đó. Nhưng làm sao ai có thể tường tận tất cả? Chỉ có một điều duy nhất chúng ta chắc chắn: thế nào cũng sẽ có những giọt nước phải đập vào đó.

Chúng chính là những tên tội phạm, những giọt nước đang lao đầu vào bức tường ngốc nghếch ấy để rồi vỡ vụn. Tại sao lại là những giọt nước cụ thể ấy ư, chúng ta chẳng thể nào biết được; nhưng thế nên thế dẫu sao vẫn có những kẻ phải gục ngã. Xin đừng nguyền rủa họ nữa; các người đã phỉ báng họ đủ lắm rồi. Hãy trả lại tự do cho con người.

Có một nhóm tội phạm bạo lực phát sinh từ một tập hợp các nguyên nhân khác chứ không phải nô lệ kinh tế – những hành vi là hệ quả từ một quan niệm đạo đức cổ hủ về mối quan hệ đích thực giữa nam và nữ. Đó chính là Nemesis của chế độ tư hữu trong tình yêu. Nếu mỗi người đều học được rằng giới hạn của quyền đòi hỏi một cách ứng xử nhất định trong các mối quan hệ tình dục chính là bản thân họ; rằng mối quan hệ giữa người mình yêu với những kẻ khác không phải là chuyện để mình quản thúc, cũng hệt như mối quan hệ của những người mà mình không yêu; nếu quyền tự do của mỗi cá nhân là bất khả xâm phạm, và bất kỳ sự khắt khe đạo đức nào được áp đặt thì chỉ nên áp đặt lên chính bản thân mình; nếu nguyên tắc này được chấp nhận và tuân thủ, những vụ án mạng do ghen tuông sẽ chấm dứt. Thế nhưng các tôn giáo và chính phủ lại luôn hậu thuẫn chế độ này, không ngừng nuôi dưỡng tinh thần sở hữu, kèm theo tất cả những hệ lụy gớm ghiếc của nó.

À, các người sẽ nói, có lẽ điều đó là đúng; có lẽ khi điều kiện xã hội tốt đẹp hơn này thành hình, cùng với tinh thần xã hội tự do hơn ấy, chúng ta sẽ rũ bỏ được tội ác – ít nhất là chín phần mười trong số đó. Nhưng trong lúc chờ đợi, chẳng lẽ chúng ta không buộc phải trừng phạt để tự bảo vệ mình sao?

Sự bảo vệ ấy chẳng bảo vệ được ai cả. Kẻ bạo lực bao giờ cũng giấu kín ý đồ của mình; khi hắn thực hiện nó, hoặc mưu toan thực hiện, thì phần lớn thời gian, chính những người dân thường vô danh chứ chẳng phải ai khác đã túm lấy hoặc ngăn chặn hắn. Nếu hắn là tội phạm bẩm sinh, hay nói cách khác là một kẻ tâm thần, tôi xin nhắc lại lần nữa, hắn cần phải được đối xử như một bệnh nhân – không trừng phạt, không bắt chịu đựng đớn đau. Nếu hắn là một trong những tội phạm ngẫu nhiên, hành vi đó sẽ không lặp lại; sự trừng phạt sẽ mãi mãi khắc sâu trong tâm can hắn. Nếu hắn thuộc tầng lớp trung lưu, hình phạt của các người sẽ chẳng thể cải tạo nổi hắn, nó chỉ làm hắn thêm chai sạn; và nó cũng chẳng răn đe được ai khác.

Còn về trộm cắp, kẻ trộm vĩ đại luôn lách luật hoặc bỏ tiền ra mua chuộc luật pháp; còn đối với kẻ trộm cắp vặt, hãy nhìn xem các người đang làm gì kìa! Để bảo vệ mình khỏi hắn, các người nuôi dưỡng một lũ người tuyên thệ phục vụ cho cây gậy cui và khẩu súng lục; một bầy mật thám; một bộ máy mà công việc thường nhật là giao du với những con người bất hạnh ấy, những kẻ đôi khi nhờ thế mà mềm lòng đôi chút, nhưng phần lớn lại trở nên chai lì với công việc của mình hệt như những tên đồ tể với con dao mổ; một bộ máy có nhiệm vụ quản lý xà lim, khóa ổ và chìa khóa; và cuối cùng, thứ đê tiện nhất trong mọi sự đê tiện, đao phủ. Liệu có ai muốn bắt tay với hắn, cái bàn tay giết người vì tiền công không?

Giờ thì đứng trước tất cả những con người ấy xét theo cá nhân, chẳng có gì để trách cứ: rất có thể họ từng là những kẻ vô cùng nhân đạo, có thiện chí khi mới bắt đầu công việc; nhưng cái kết của tất cả những thứ này chỉ là sự tha hóa. Một tờ nhật báo của chúng ta gần đây từng nhận xét rằng: "Những kẻ nắm quyền quản lý nhà tù quá thường xuyên lại chính là những kẻ đáng lẽ phải ngồi tù." Người theo chủ nghĩa Anarchist không đồng tình với điều đó. Hắn sẽ dẹp bỏ hoàn toàn các nhà tù. Nhưng tôi dám chắc rằng nếu chính vị chủ biên tờ báo đó được đặt vào vị trí của kẻ quản ngục, ông ta rồi cũng sẽ trở nên chai đá. Và cơ hội lạm quyền của một quan chức tội phạm còn lớn hơn nhiều so với kẻ phạm tội ngoài xã hội. Dù từng là một luật sư kiêm quan chức chính phủ, Ingersoll vẫn phải thừa nhận rằng: "Thật an toàn khi khẳng định rằng các chính phủ đã gây ra nhiều tội ác hơn gấp bội so với những gì họ ngăn chặn được." Vậy thì tại sao lại phải tạo ra một tầng lớp ký sinh trùng thứ hai còn tồi tệ hơn cả tầng lớp thứ nhất? Sao không chấp nhận sống chung với kẻ nguyên bản luôn cho rồi?

Hơn nữa, các người còn phải cân nhắc một vấn đề khác ngoài bài toán đơn giản về sự bất công giáng lên đầu một kẻ có tội. Đã bao nhiêu lần những kẻ vô tội bị kết án oan khuất! Tôi nhớ có trường hợp của một người đàn ông bị kết án tử hình vì tội sát nhân ở bang Michigan. Hắn đã thụ án hai mươi bảy năm tại nhà tù Jackson (bởi Michigan không phải là bang áp dụng án treo cổ) thì tên sát nhân thực sự lâm bệnh nặng và thú tội. Và Nhà nước đã ân xá cho kẻ vô tội đó! Chỉ vì đó là cách giải quyết nhanh gọn nhất theo đường lối pháp lý để tống cổ hắn ra ngoài! Tôi chỉ mong hắn có thể rộng lòng ân xá lại cho Nhà nước.

Cách đây chưa lâu, một gã đàn ông đã bị treo cổ ngay tại thành phố này. Hắn đã sát hại viên giám thị của mình. Một vài bác sĩ cho rằng hắn bị tâm thần; trong khi các chuyên gia của chính phủ thì khẳng định không phải. Họ bảo hắn đang giả điên khi tuyên bố mình chính là Chúa Jesus Christ. Và hắn đã bị treo cổ. Về sau, các bác sĩ phát hiện ra hai khối u nang trong bộ não của hắn. Tiểu bang Pennsylvania đã tước đoạt mạng sống của một bệnh nhân! Và chừng nào hình phạt vẫn còn tồn tại, những sai lầm ấy sẽ còn tiếp diễn. Nếu các người chấp nhận nguyên tắc này dù chỉ một chút, các người buộc phải gánh chịu cả tội ác đẫm máu trên tay những kẻ vô tội.

Không chỉ vậy, các người còn phải gánh vác trách nhiệm cho toàn bộ nỗi thống khổ giáng xuống những người khác có cuộc sống gắn liền với phạm nhân, bởi ngay cả hắn cũng được yêu thương bởi ai đó, có lẽ là được yêu thương rất nhiều. Thật là một hành động ngu ngốc khi đẩy một gia đình đầy trẻ nhỏ ra đường, để rồi sau đó chúng cũng nối gót trở thành tội phạm, chỉ nhằm mục đích dọa dẫm một tên tội phạm vô định trong tương lai thông qua việc làm gương bằng cha hoặc mẹ chúng. Thế nhưng chuyện đó đã lặp đi lặp lại biết bao nhiêu lần!

Và tôi đang nói điều này dưới góc nhìn thực tế và ích kỷ của vấn đề. Vẫn còn một góc nhìn khác, một góc nhìn mà tôi tha thiết muốn hướng đến các người, và là nơi mà xét cho cùng, tôi tin các người cũng muốn được kêu gọi tới. Hãy tự hỏi chính mình, mỗi người trong số các người, rằng liệu bản thân có chắc chắn mình có đủ cảm xúc, đủ sự thấu hiểu, và đã trải qua đủ cay đắng để có thể cân đo đong đếm mạng sống hay quyền tự do của một con người khác, bất kể hắn đã làm gì đi nữa? Và nếu bản thân bạn không có khả năng đó, liệu bạn có thể ủy quyền cái quyền năng mà chính bạn không có ấy cho bất kỳ vị thẩm phán nào không? Nhà văn tiểu thuyết vĩ đại người Nga, Dostoyevsky, trong nghiên cứu tâm lý học về chính chủ đề này, đã phác họa lại những dằn vặt của một gã đàn ông từng gây ra một vụ sát nhân rợn người; toàn bộ thể xác và tâm trí hắn liên tục là mồi ngon cho sự tra tấn. Hắn đã ra đầu thú, tìm kiếm sự giải thoát qua lời thú tội. Hắn vào tù, bởi vì nước Nga dã man ấy còn chưa có sự dã man của hình phạt tử hình đối với tội phạm sát nhân, trừ những kẻ phạm tội chính trị. Thế nhưng hắn chẳng tìm thấy chút giải thoát nào. Hắn chìm đắm suốt một năm trời trong sự cay đắng, phẫn hận, là nạn nhân của mọi thứ cảm xúc thảm hại nhất. Nhưng cuối cùng hắn đã được đánh thức bởi tình yêu – một thứ tình yêu thầm lặng, khiêm nhường, chiến thắng tất cả từ một con người thấu hiểu trọn vẹn và tha thứ trọn vẹn. Và hành trình tái sinh trong tâm hồn hắn đã bắt đầu.

"Kẻ tội phạm đã tước đoạt mạng sống," Tolstoy nói: "vậy các người có trở nên tốt đẹp hơn khi tước đoạt mạng sống của hắn không? Hắn đã cướp đi sự tự do của người khác; và liệu việc các người cướp đi sự tự do của hắn có phải là con đường đúng đắn không? Bạo lực không bao giờ là câu trả lời cho bạo lực."

"Hãy mang lòng nhân ái

Đến với mọi sinh linh, buông bỏ mọi bất hòa,

Và tham lam cùng giận dữ; để cuộc đời trôi qua

Nhẹ nhàng tựa ngọn gió thoảng."

Đó là lời của Đức Phật, Ánh sáng Châu Á.

Và một bậc hiền triết khác từng dạy rằng: "Các ngươi từng nghe luật dạy rằng 'mắt đền mắt, răng đền răng'; nhưng ta bảo các ngươi, đừng chống lại kẻ dữ."

Thế nhưng, sự trả thù mà nhà tâm lý học vĩ đại từng nhìn thấy là một sự vô nghĩa, thứ bạo lực mà nhà giáo dục tôn giáo vĩ đại nhất còn sống và những bậc vĩ nhân đã khuất từng khuyên can con người không được thực hiện, thứ bạo lực ấy vẫn đang được diễn ra hàng ngày, hàng giờ bởi mỗi tên công tố viên tiểu nhân kiếm tiền công theo ngày, bởi mỗi gã thẩm phán cùi bắp mua chuộc ghế quyền bằng những mưu mẹo chính trị rẻ tiền và buôn bán mạng sống lẫn tự do con người hệt như một thương nhân buôn kim băng, bởi mỗi thành viên mang tâm hồn đạo đức giả mạo và rẻ tiền thuộc giáo phái "unco guid" – những kẻ có châm ngôn đạo đức bày hàng bán giảm giá ngoài chợ trời hém chi phối nổi những trận cuồng phong và giông bão đang lay chuyển ý chí con người, hệt như chiếc găng tay lụa của một tiểu thư phất lên trước cơn bão lớn. Những kẻ chưa từng nếm trải đau khổ thì không tài nào hiểu được cách trừng phạt; còn những kẻ có sự thấu hiểu thì sẽ từ chối trừng phạt.

Ngay từ đầu tôi đã nói và giờ xin nhắc lại, tôi tin rằng trong sâu thẳm mỗi chúng ta đều ẩn chứa mầm mống của vạn vật: trong cả thẩm phán, công tố viên và gã quản trại, thậm chí trong cả những tâm hồn đạo đức chật hẹp luôn đóng khung một khuôn mẫu duy nhất bắt mọi người phải rập theo, ngay cả trong họ cũng tồn tại mầm mống của dục vọng, tội ác, sự đồng cảm và lòng vị tha. Và sẽ có một ngày, những điều đó sẽ cựa quậy trong họ, lên tiếng cáo buộc và đánh thức họ dậy. Và sự thức tỉnh ấy sẽ ập đến khi bất chợt vào một ngày nọ, họ bừng tỉnh trước sức mạnh nhận thức về sự hòa quyện của vạn vật, về mối dây liên kết không thể chối cãi giữa thánh nhân và tội đồ, giữa thẩm phán và kẻ phạm tội; rằng mọi nhân cách đều đan cài vào nhau và đang cùng lao đầu về chung một vực thẳm định mệnh. Có một lần trong đời, tôi đã được ban ơn chứng kiến biểu hiện bên ngoài của sự hòa hợp ấy. Đó là vào năm 1897. Chúng tôi đứng dưới chân tượng đài Nelson ở quảng trường Trafalgar. Bên dưới là mười nghìn con người chen chúc kề vai với những gương mặt ngẩng cao hướng về phía trước. Họ tụ tập để lắng nghe và chiêm ngưỡng những người đàn ông và phụ nữ mà da thịt cùng chân tay chi chít những vết sẹo do bàn ủi nung đỏ trong ngục tối Montjuich. Chỉ vì tội ác của một kẻ vô danh, hai mươi tám con người đàn ông và phụ nữ ấy, cùng bốn trăm người khác, đã bị tống vào cái hang ổ khủng khiếp đó và bị tra tấn bằng những cực hình ghê tởm của tòa án dị giáo nhằm ép họ phải khai ra những điều mà họ hoàn toàn không biết. Sau một năm chịu đựng những đớn đau khiến trái tim người lương thiện quặn thắt chỉ khi nghĩ tới, chẳng có chút bằng chứng nào chống lại họ, thậm chí một số người còn chẳng qua xét xử, họ đột ngột được phóng thích kèm theo lệnh phải rời khỏi đất nước trong vòng hai mươi bốn giờ. Họ đã có mặt ở quảng trường Trafalgar lúc bấy giờ, và xin được ca ngợi nước England cổ kính, dù mụ ta có là con đĩ hay mẹ của những con đĩ đi nữa, bởi chẳng có quốc gia nào khác trên thế giới này chịu mở cửa đón nhận hai mươi tám con người vô tội ấy. Vì họ là những kẻ khốn cùng bị bần cùng hóa bởi nhà nước Tây Ban Nha tàn ác trong trận chiến khốc liệt vì tự do của chính họ; họ sẽ chẳng đời nào được đặt chân vào nước Mỹ tự do. Khi Francesco Gana, cất lên những lời bằng một thứ ngôn ngữ mà phần lớn họ chẳng hiểu nổi, giơ đôi bàn tay nghèo khổ và chằng chịt vết sẹo của mình lên, gương mặt của mười nghìn con người ấy đồng loạt chuyển động hệt như những chiếc lá trong rừng trước gió. Họ nhấp nhô ngả nghiêng, họ dâng trào rồi hạ xuống; cái hữu hình dao động trong hơi thở của vô hình. Đó chính là sự mặc khải về sự vận hành của Vô thức, là sự thống nhất định mệnh của con người.

Đôi khi, ngay cả lúc này khi tôi đang nhìn ngắm các ngươi, tôi có cảm giác những thân xác mà tôi đang thấy giống như những chiếc bong bóng trong suốt có dòng máu đỏ đang sục sôi và tuôn chảy xuyên qua, một dòng chảy cuồn cuộn đang khuấy động, tung bọt và nhảy múa, còn phía sau chúng ta cùng thế hệ chúng ta, lùi rất xa về phía sau, xa tít tắp đến vô tận, nơi mọi chiếc bong bóng đều đã vỡ tan và chẳng còn sót lại một gợn sóng, chính là dòng chảy lặng lẽ của Dòng Sông Đỏ Vĩ Đại, dòng sông sâu thẳm không tài nào dò đáy – ngược dòng qua khu rừng nguyên sinh và những đồng hoang chưa từng được cày xới, ngược dòng qua thế giới hoang dã và động vật đã lùi vào quên lãng, ngược về đâu đó tận những cội nguồn tăm tối trong Đại dương Thẳm sâu và Đêm Đen Cổ Đại, dòng Sông Máu cuồn cuộn chảy – chẳng phải tưởng tượng đâu – là máu thật sự, hữu hình, dòng máu đang rần rật chảy trong huyết quản các ngươi trong lúc tôi đang nói đây, mang theo cả những lời nguyền lẫn những phước lành từ Quá khứ. Dòng sông ấy đã cuộn trào qua biết bao lớp bóng tối vô tận! Nó đã tràn qua biết bao vùng hoang mạc tiêu điều! Nó đã bị ép phải vượt qua biết bao ngã rẽ tuyệt vọng! Sức mạnh nào, sức mạnh vô địch nhường nào đang ẩn chứa trong dòng chảy nóng bỏng ấy! Các ngươi chỉ là những chiếc bong bóng nổi trên đỉnh sóng của nó; dòng chảy sẽ hất các ngươi trôi về đâu trước khi các ngươi ngã xuống? Vào khoảnh khắc nào thì những tạp chất dữ dội mang theo từ quá khứ u ám và tối tăm của nó sẽ bùng nổ bên trong các ngươi? Lúc đó các ngươi có gào thét đòi trừng phạt nếu những thứ ấy bùng lên ở một kẻ khác không? Nếu như bị hất văng vào những vách đá vô tình của dòng chảy, trong lúc các ngươi vẫn đang bơi lội nhàn nhã giữa dòng, họ ngã quỵ và làm tổn thương những chiếc bong bóng khác?

Các ngươi có thể cảm nhận được rằng

"Con người là nhịp đập tim Nhân loại, là chiếc lông vũ trùm cánh chim,

Tơi tả vì bão tố từ thuở tạo thiên lập địa cùng cuồng phong sấm sét.

Vạn vật thật tàn nhẫn và mù quáng; sức mạnh của chúng kìm hãm và bóp méo.

Và đôi cánh mỏi mệt của tâm trí vẫn đập ngược dòng giông bão ấy.

Vẫn như kẻ bơi ngược dòng, họ quẫy đạp mù lòa giữa cuồng phong,

Giữa sấm sét của khải tượng và mộng mơ, cùng chớp giật của tương lai và quá khứ.

Chúng ta ngỡ ngàng và bị cuốn vào dòng chảy, bầm dập trên những gờ đá cạn:

Hệt như đám cỏ dại hay lau sậy trong dòng lũ vạn vật là những tâm hồn rung rẩy trước gió.

Từng linh hồn lần lượt chìm xuống, bọt bèo tan vỡ của hơi thở,

Phồng lên rồi vỡ tan tành nhưng chẳng thể làm mờ chiếc gương của Tử thần."

Chẳng lẽ việc "vạn vật tàn nhẫn và mù quáng" vẫn chưa đủ sao? Chẳng lẽ chúng ta cũng phải tàn nhẫn và mù quáng nữa ư? Khi mọi thứ chung quy lại cũng chỉ phù du đến thế, chúng ta lại còn muốn làm nó thêm đắng cay, muốn vùi dập và bóp nghẹt những thứ chẳng mấy chốc sẽ bị vùi dập và bóp nghẹt bằng mọi cách hay sao? Chúng ta có thể nào, khi đã thấu triệt những tàn tích của sự sống đã chết đuối và trôi nổi bên trong chúng ta, đang ám ảnh tâm trí chúng ta bằng những hồn ma của hành động cũ và những cảnh tượng bạo lực, chúng ta có thể nào học cách tha thứ cho người anh em của mình – những kẻ mà đối với họ những bóng ma ấy hiện thực hơn, những kẻ phải gánh chịu áp lực lớn lao hơn? Chúng ta có thể nào, khi hồi tưởng lại tất cả những điều tồi tệ mà chúng ta từng làm, hoặc bỏ dở chẳng làm chỉ vì một sức nặng mỏng manh vô hình nào đó đè nặng lên chiếc cân, hay vì một lời nói tử tế bất chợt đến với chúng ta giữa lúc cay đắng nhất để cho thấy thế giới này không toàn là những điều căm ghét; chúng ta có thể nào thấu hiểu cho kẻ mà chiếc cân ấy không chịu ngả xuống, và lời nói tử tế ấy chẳng bao giờ được cất lên? Tin tôi đi, sự tha thứ tốt đẹp hơn sự giận dữ rất nhiều – tốt hơn cho kẻ có tội, bởi hắn sẽ được chạm đến và tái sinh nhờ nó, và tốt hơn cho chính bạn. Và bạn đã sai lầm khi nghĩ rằng điều đó thật khó khăn: nó rất dễ dàng, dễ hơn việc căm hận rất nhiều. Nghe có vẻ nghịch lý, nhưng vết thương càng lớn thì sự tha thứ lại càng dễ dàng hơn.

Hãy chấm dứt cái tư tưởng man rợ về sự trừng phạt vốn chẳng mang chút khôn ngoan nào này đi. Hãy cùng nhau hành động vì sự tự do của con người thoát khỏi những áp bức sinh ra tội phạm, và vì sự đối xử mang tính khai sáng đối với mọi bệnh nhân. Và dẫu cho chúng ta có thể chẳng bao giờ nhìn thấy thành quả của nó, chúng ta vẫn có thể yên tâm rằng dòng triết lưu vĩ đại của tư tưởng đang xuôi về phía chúng ta, và rằng

"Trong khi con sóng mệt mỏi, vỗ về trong vô vọng,

Dường như chẳng thể giành nổi dù chỉ một tấc đớn đau,

Từ tận sâu những lạch nguồn và góc biển xa xôi,

Đại dương ngoài kia vẫn lặng thầm dâng trào lũ lượt."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.