Nhờ vào sự phát triển đường sắt của Đại Đường trong nhiều năm gần đây, nhóm người Ứng Dịch Khang xuất phát từ thành Kim Lăng, chỉ mất hai ngày đã đến được Trịnh Châu, đầu mối giao thông đường sắt của Trung Nguyên.
Sau khi đến Trịnh Châu, họ chuyển sang tàu hỏa của tuyến đường sắt Tây Bắc, rồi tiến về Lạc Dương.
Với việc các tuyến đường sắt dần hoàn thiện, đồng thời tàu hơi nước được phổ cập, việc bố trí quân đội của Đại Đường trong nước phần lớn cũng đã có những điều chỉnh tương ứng. Nguyên tắc cơ bản là các đơn vị tuyến một, tuyến hai sẽ tập trung đồn trú dọc theo các tuyến đường sắt, đường thủy nội địa, đường ven biển và những nơi giao thông thuận tiện.
Còn các sư đoàn phòng thủ địa phương ở mỗi tỉnh thì đóng quân tại các châu phủ và những nơi có giao thông không thuận tiện.
Cách bố trí binh lực như vậy giúp cho khi nổ ra bạo loạn ở những nơi xa xôi, sư đoàn phòng thủ tại địa phương có thể ngay lập tức phối hợp cùng dân binh các nơi để trấn áp. Nếu quy mô bạo loạn quá lớn, vượt quá khả năng ứng phó của sư đoàn phòng thủ và dân binh địa phương, thì có thể nhanh chóng điều động quân chủ lực thông qua đường sắt và tàu thủy để đến ứng cứu, trấn áp.
Cốt lõi của việc bố trí này chính là tận dụng giao thông thuận tiện để cắt giảm số lượng quân chủ lực trong thời bình, từ đó kiểm soát chi phí quân sự.
Nếu không có mạng lưới đường sắt quy mô lớn cùng hệ thống giao thông đường thủy nội địa và ven biển, thì thực ra với quân chủ lực hiện tại của Đế quốc Đại Đường, việc vừa duy trì các cuộc chiến tranh bên ngoài vừa giữ áp lực cao trong nước là điều hoàn toàn không thể.
Cho đến thời điểm hiện tại, số lượng quân chủ lực của Đế quốc Đại Đường, tức là những đơn vị có thể kéo ra chiến trường bất cứ lúc nào, thực ra cũng không nhiều.
Ít nhất là so với lãnh thổ rộng lớn cùng các thuộc địa hải ngoại của Đại Đường thì là vô cùng ít ỏi.
Trong đó, về phía Lục quân, các đơn vị duy trì quân số đầy đủ quanh năm, tức quân thường trực, bao gồm hai mươi sư đoàn bộ binh, mười hai sư đoàn kỵ binh, tám trung đoàn kỵ binh và chín lữ đoàn pháo binh, tổng cộng có khoảng ba mươi vạn quân bộ binh (bao gồm khoảng mười sáu ngàn kỵ binh, pháo binh, quân nhu, vận tải thuộc sư đoàn), sáu vạn kỵ binh độc lập (bao gồm pháo binh kỵ mã, quân nhu và các đơn vị phụ trợ khác). Các đơn vị pháo binh độc lập sở hữu khoảng bốn trăm khẩu pháo dã chiến, pháo nòng dài, lựu pháo hạng nặng với các cỡ nòng khác nhau như 9 cân, 14 cân, 18 cân, 24 cân, 32 cân, 48 cân cùng chiều dài nòng khác nhau.
Những đơn vị kể trên cũng chính là tinh hoa trong Lục quân!
Về phía Hải quân, dựa vào đặc tính đặc thù của mình, gần như toàn bộ các đơn vị đều có thể duy trì trạng thái thường trực. Nếu không tính chiến hạm cùng một bộ phận lính thủy đánh bộ theo tàu, chỉ tính riêng lực lượng lính thủy đánh bộ có khả năng độc lập lên bờ tác chiến, phát động chiến sự quy mô lớn, thì có tổng cộng tám trung đoàn, tổng binh lực khoảng hai vạn người, chủ yếu là bộ binh và pháo binh, cũng có một lượng nhỏ kỵ binh làm nhiệm vụ trinh sát. Mỗi một trung đoàn lính thủy đánh bộ đều có thể kéo ra ngoài độc lập tác chiến.
Tiếp đó là Cấm vệ quân, hầu hết các đơn vị của Cấm vệ quân đều ở trạng thái thường trực, hiện tại có tổng cộng ba sư đoàn bộ binh Cấm vệ quân, hai trung đoàn kỵ binh hạng nặng độc lập, một lữ đoàn pháo hạng nặng độc lập.
Trong đó bao gồm trung đoàn kỵ binh thương nổi danh là Trung đoàn Kỵ thương số 1 Cấm vệ quân và đơn vị được thành lập sau này là Trung đoàn Kỵ binh giáp ngực số 2 Cấm vệ quân. Hai trung đoàn kỵ binh này, bất kể là nhân lực, trang bị hay ngựa chiến, đều thuộc hàng đỉnh cao nhất trong toàn bộ Đại Đường.
Ngoài ra, hai đơn vị chuyên phụ trách canh gác hoàng cung, đảm nhận một phần nhiệm vụ an ninh kinh kỳ là Trung đoàn Thị tòng Cấm vệ quân, và đơn vị chuyên bảo vệ các yếu nhân quân chính, nhà khoa học... là Trung đoàn Cảnh vệ Cấm vệ quân, dù mang danh Cấm vệ quân nhưng thực chất là đơn vị an ninh chuyên trách. Khả năng tác chiến dã chiến chỉ ở mức bình thường, nói trắng ra là chỉ để làm cảnh, quyền chỉ huy cụ thể cũng không thuộc về Cấm vệ quân mà trực thuộc Thị tòng khoa của Hàn Lâm Viện.
Do đó, người ngoài thường cũng không liệt kê hai trung đoàn này vào hàng ngũ Cấm vệ quân, cho dù họ có mang danh hiệu đó.
Ba sư đoàn, hai trung đoàn kỵ binh hạng nặng và một lữ đoàn pháo hạng nặng của Cấm vệ quân, tổng binh lực cộng lại khoảng tám vạn người.
Lục quân, Hải quân và Cấm vệ quân kể trên cộng lại, lực lượng thường trực cũng chỉ khoảng năm mươi vạn người!
Năm mươi vạn người này trông thì có vẻ nhiều, nhưng lại phải phân tán đồn trú tại bản thổ, bản thổ hải ngoại và các thuộc địa hải ngoại. Ví dụ như tỉnh Bắc Hải, để trấn áp tình hình địa phương, quanh năm đều có một sư đoàn chủ lực đồn trú.
Lại như tỉnh Lữ Tống, tỉnh Vạn Đan, bang Mã Lục Giáp, Úc Châu và các khu vực Nam Dương khác, tuy phân tán đồn trú nhưng Lục quân cũng tổng cộng đóng quân hai sư đoàn chủ lực.
Lại còn khu vực Ấn Độ và Tây Á, cộng lại cũng có một sư đoàn rưỡi chủ lực.
Bắc Phi cũng có nửa sư đoàn.
Nam Phi cũng có một sư đoàn chủ lực.
Bắc Mỹ cũng có nửa sư đoàn quân.
Tổng cộng lại, Lục quân Đại Đường chỉ riêng ở các khu vực hải ngoại đã đồn trú tám sư đoàn thường trực!
Lục quân ở lại bản thổ thực ra chỉ còn lại mười hai sư đoàn thường trực mà thôi!
Đối với vùng kiểm soát rộng lớn của Đế quốc Đại Đường, số lượng quân thường trực hiện tại là còn thiếu xa, nhưng Đế quốc Đại Đường cũng không thể tăng quân số thường trực một cách vô độ được, chi phí cho những đơn vị thường trực này không hề nhỏ.
Tiền lương nhân viên, thay thế trang bị, chi phí huấn luyện đều là những con số vô cùng khổng lồ.
Ngân sách quân sự của Lục quân dù có nhiều đến đâu cũng không bao giờ là đủ, vì vậy mới có sự xuất hiện của các đơn vị tuyến hai. Cái gọi là đơn vị tuyến hai, chính là đặc chỉ những đơn vị duy trì biên chế khung trong thời bình, khi có chiến tranh thì tiến hành động viên, từ đó đạt tới quân số đầy đủ như quân chủ lực, rồi tiến thẳng ra tiền tuyến tham chiến.
Như vậy, Lục quân có thể dùng ngân sách hạn hẹp để duy trì cấu trúc quân đội lớn hơn. Khi chiến tranh ập đến, chỉ cần vài tháng ngắn ngủi là có thể tổ chức được một lượng lớn đơn vị có sức chiến đấu nhất định tham gia chiến đấu.
Còn trong thời bình, những đơn vị tuyến hai phổ thông chỉ duy trì biên chế khung này cũng có thể trấn áp địa phương, duy trì ổn định khu vực.
Sự linh hoạt trong nhiệm vụ là tương đối lớn.
Chính vì những ưu điểm này, Lục quân mới một hơi tổ chức tới tận bốn mươi sư đoàn, phần lớn được cải biên từ các sư đoàn phòng thủ hoặc các đơn vị độc lập vốn có sức chiến đấu khá tốt trước đây.
Tuy nhiên, bốn mươi sư đoàn này đều là đơn vị tuyến hai, nhưng ngay cả trong hàng ngũ tuyến hai cũng có mạnh có yếu. Ví dụ như các đơn vị tuyến hai ở phía Tây Bắc, nhân lực và trang bị đều mạnh hơn các đơn vị ở khu vực khác.
Sư đoàn bộ binh số 31 cũng là một đơn vị tuyến hai có sức chiến đấu khá tốt, nếu không đã không trở thành đơn vị đợt hai được điều đến Tây Bắc.
Khi Ứng Dịch Khang và những người khác đến Lạc Dương, việc đầu tiên là chạy thẳng đến nơi đóng quân của Sư đoàn bộ binh số 31. Sau khi Ứng Dịch Khang tiếp quản bộ đội, Tất Chí An cũng cùng ông tiếp quản đơn vị của mình: Tiểu đoàn 3, Trung đoàn bộ binh số 92.
Sau khi tiếp quản đơn vị, anh cũng tìm hiểu chi tiết tình hình chung của Tiểu đoàn 3.
Nhìn chung, tình hình Tiểu đoàn 3 không tính là tốt cũng không tính là tệ, coi như là mức trung bình trong các đơn vị tuyến hai. Quân số chỉ hơn một nửa so với biên chế đầy đủ, số lượng trang bị cũng không quá đầy đủ, nhưng sĩ quan tương đối dồi dào, đồng thời tỷ lệ hạ sĩ quan trong hàng ngũ binh sĩ khá cao.
Đây cũng là đặc tính của đơn vị tuyến hai, đó là ưu tiên đảm bảo số lượng sĩ quan và hạ sĩ quan, vì những người này mới là xương sống của đơn vị. Chỉ cần họ còn đó, thì bất cứ lúc nào cũng có thể bổ sung đầy đủ tân binh, huấn luyện vài tháng là có thể lên chiến trường.
Mà Tất Chí An cũng không đợi quá lâu, vì Sư đoàn bộ binh số 31 đã sớm được xác định là sẽ tăng viện cho Tây Bắc, nên trang bị và quân số đã sớm được chuẩn bị.
Ngày thứ ba sau khi Tất Chí An đến nhậm chức, anh tiếp nhận một đợt binh sĩ cũng như một bộ phận sĩ quan. Những binh sĩ này không hẳn toàn là tân binh, chỉ một nửa là tân binh, nửa còn lại là binh sĩ giải ngũ được tái ngũ. Về phía sĩ quan, cũng có một bộ phận là sĩ quan giải ngũ, hoặc sĩ quan tại ngũ điều từ đơn vị khác tới, cũng có một số là sĩ quan mới được phân bổ, cơ bản là đủ loại người.
Sau khi nhân lực được bổ sung đầy đủ, Tiểu đoàn 3 của anh từ chỗ chưa tới bảy trăm người lập tức trở thành một tiểu đoàn bộ binh đủ quân số, hơn một ngàn người.
Ngoài ra, họ còn tiếp nhận một loạt trang bị mới.
Đó chính là súng hỏa mai kiểu năm 26. Loại súng trường mới cỡ nòng 18mm này đã được xác định là súng trường chế thức thế hệ mới của Lục quân từ hai năm trước.
Tuy nhiên, sản lượng giai đoạn đầu có hạn, sản lượng súng trường mới lúc bắt đầu đều bị Cấm vệ quân lấy hết. Đợi đến khi Cấm vệ quân đổi trang bị hòm hòm rồi, thì năm ngoái mới đến lượt Lục quân.
Đã đến lượt Lục quân, nhưng quy mô Lục quân quá lớn, ngân sách lại có hạn, nên việc đổi trang bị cho bộ đội kéo dài khá lâu. Sản lượng giai đoạn đầu cơ bản đều ưu tiên đáp ứng cho các đơn vị tiền tuyến có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, ví dụ như các đơn vị ở Tây Bắc, và một bộ phận đơn vị đồn trú hải ngoại có nhiệm vụ tác chiến thường xuyên.
Còn Sư đoàn bộ binh số 31 vốn không có nhiệm vụ chiến đấu gì thì trước đó tự nhiên không thể có được loại súng trường mới này.
Nay Sư đoàn bộ binh số 31 sắp sửa tiến về Tây Bắc tác chiến, cấp trên tự nhiên cũng ưu tiên đổi trang bị súng trường mới cho đơn vị này.
Cầm khẩu súng kiểu năm 26 trên tay, dù không phải lần đầu tiên Tất Chí An đùa nghịch loại súng này, nhưng anh vẫn cảm thấy vô cùng hài lòng.
Trong điều kiện đảm bảo uy lực, còn có thể kiểm soát chặt chẽ trọng lượng, đạt được mức có thể sử dụng đơn lẻ, đây quả là điều vô cùng hiếm có.
So sánh với đó, súng trường 14mm và súng hỏa mai hạng nặng 18mm trước đây kém xa quá nhiều. Súng trường 14mm tuy trọng lượng nhẹ, độ chính xác cũng coi là khá, nhưng uy lực cao nhất chỉ được tính là mức trung bình, khi đối phó với các đơn vị mặc giáp nặng ở khoảng cách xa đôi khi cảm thấy lực bất tòng tâm, hơn nữa cỡ nòng khá nhỏ, nạp đạn cũng khá phiền phức.
Còn súng hỏa mai hạng nặng 18mm, uy lực thì có, độ chính xác cũng có, nhưng trọng lượng quá nặng, binh sĩ bình thường khá khó sử dụng, chỉ có những binh sĩ thân thể cường tráng mới dùng được.
Đây cũng là lý do tại sao trước đây Lục quân Đại Đường đều trang bị đồng thời cả hai loại súng trường này.
Mà giờ đây, có súng kiểu năm 26 rồi, có thể thống nhất trang bị, đơn giản hóa hậu cần.
Nửa tháng sau đó, Tất Chí An liên tục dẫn dắt bộ đội tiến hành huấn luyện chiến thuật, đồng thời làm quen với súng mới.
Dù sao thì tuy đều là súng hỏa mai, cấu tạo tổng thể không thay đổi nhiều, nhưng những khác biệt nhỏ vẫn có, nên cũng phải tiến hành huấn luyện thích nghi.
Sau nửa tháng huấn luyện như vậy, Tất Chí An chính thức nhận được mệnh lệnh của cấp trên, yêu cầu anh dẫn dắt bộ đội đi tới nhà ga, sau đó lên tàu quân sự tiến về tiền tuyến Tây Bắc.