Atri là tên của một thị trấn nhỏ ở Ý. Đây là một thị trấn rất cổ kính, được xây dựng lưng chừng sườn một ngọn đồi dốc.
Từ rất lâu về trước, nhà vua xứ Atri đã mua một chiếc chuông lớn và đẹp, rồi cho treo nó lên một ngọn tháp ở nơi quảng trường. Một sợi dây thừng dài thả gần chạm tới mặt đất được buộc vào chiếc chuông. Ngay cả đứa trẻ nhỏ nhất cũng có thể giật chuông bằng cách kéo sợi dây này.
“Đó là chiếc chuông công lý,” nhà vua phán.
Cuối cùng, khi mọi việc đã hoàn tất, người dân Atri mở một ngày hội lớn. Tất cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em đều đổ ra quảng trường để ngắm nhìn chiếc chuông công lý. Đó là một chiếc chuông vô cùng đẹp đẽ, được đánh bóng đến mức trông sáng chói và vàng óng gần như mặt trời.
“Chúng ta mong được nghe tiếng chuông kêu biết bao!” họ nói.
Bấy giờ, nhà vua đi tới dọc con đường.
“Biết đâu ngài sẽ giật chuông,” người dân bảo nhau; và ai nấy đều đứng lặng im, chờ xem ngài sẽ làm gì.
Nhưng ngài không giật chuông. Ngài thậm chí còn chẳng cầm lấy sợi dây. Khi đến chân tháp, ngài dừng lại và giơ tay lên.
“Hỡi thần dân của ta,” ngài nói, “các ngươi có thấy chiếc chuông tuyệt đẹp này không? Đây là chiếc chuông của các ngươi; nhưng tuyệt đối không được giật nó trừ khi có việc khẩn cấp. Nếu bất cứ ai trong số các ngươi bị đối xử bất công vào bất cứ lúc nào, người đó có thể đến và giật chuông; rồi các quan tòa sẽ tề tựu ngay lập tức, xét xử vụ việc và mang lại công lý cho người ấy. Giàu hay nghèo, già hay trẻ, tất cả đều có quyền đến; nhưng không ai được chạm vào sợi dây trừ khi biết chắc mình đã chịu điều oan ức.”
Nhiều năm trôi qua kể từ đó. Đã bao nhiêu lần chiếc chuông nơi quảng trường ngân lên để triệu tập các quan tòa. Bao nhiêu nỗi oan khiên được giải tỏa, bao nhiêu kẻ gian ác bị trừng trị. Cuối cùng, sợi dây thừng bằng gai dầu cũng gần như mục nát. Đoạn dưới của nó bị tơi ra; một vài tao thừng đứt hẳn; sợi dây ngắn lại đến mức chỉ những người cao lớn mới với tới.
“Thế này thì không ổn chút nào,” các quan tòa bàn với nhau một ngày nọ. “Lỡ có đứa trẻ nào bị oan uổng thì sao? Nó sẽ chẳng thể giật chuông để cho chúng ta hay biết.”
Họ ra lệnh phải thay ngay cho chiếc chuông một sợi dây mới — một sợi dây buông thòng xuống tận mặt đất để đứa trẻ nhỏ nhất cũng có thể với tới. Thế nhưng, khắp cả xứ Atri lại chẳng tìm đâu ra một sợi dây thừng nào. Họ buộc phải cử người đi mua qua bên kia núi, và phải mất nhiều ngày nữa nó mới được đưa về. Lỡ như có một điều bất công tày trời nào đó xảy ra trước khi sợi dây kịp đến thì sao? Làm thế nào các quan tòa có thể hay biết, nếu như người bị hại không thể với tới chiếc dây cũ?
“Hãy để tôi sửa nó cho các ngài,” một người đứng gần đó lên tiếng.
Anh ta chạy vội ra khu vườn cách đó không xa, và chẳng mấy chốc đã quay lại với một đoạn dây nho dài trong tay.
“Cái này dùng làm dây chuông được đấy chứ,” anh ta nói; rồi trèo lên, buộc nó vào chiếc chuông. Nhành dây mảnh dẻ, hãy còn nguyên cả lá và nhữngμ tua cuốn, rủ thòng xuống tận mặt đất.
“Được đấy,” các quan tòa phán, “đây là một sợi dây rất tốt. Cứ để nó như vậy đi.”
Lại nói, trên sườn đồi phía trên ngôi làng, có một kẻ từng là một hiệp sĩ dũng cảm. Thời trẻ, ông ta đã rong rủi qua bao xứ sở và chiến đấu trong không biết bao nhiêu trận mạc. Người bạn đồng hành thân thiết nhất của ông suốt những năm tháng ấy chính là con ngựa chiến — một chiến mã cường tráng, cao quý đã đưa ông vượt qua an toàn qua bao hiểm nguy.
Nhưng khi tuổi đã cao, viên hiệp sĩ chẳng còn thiết tha ra trận; ông ta không còn màng tới những chiến công dũng mãnh; trong đầu ông chẳng có gì ngoài vàng bạc; ông đã trở thành một kẻ keo kiệt, bủn xỉn. Cuối cùng, ông ta bán sạch mọi thứ mình có, ngoại trừ con ngựa, rồi đến sống trong một căn lều nhỏ trên sườn đồi. Ngày qua ngày, ông ngồi bên những túi tiền của mình, mưu tính cách kiếm thêm thật nhiều vàng; và ngày qua ngày, con ngựa của ông đứng trong chuồng trống hoác, nửa đói nửa no, run rẩy vì lạnh.
“Giữ lại con chiến mã lười biếng ấy làm gì cơ chứ?” lão hà tiện tự nhủ vào một buổi sáng. “Mỗi tuần tốn kém cho nó còn hơn cả giá trị của nó. Ta có thể bán quách đi; nhưng chẳng có ma nào thèm mua. Ta thậm chí còn chẳng đem cho không ai nổi. Ta cứ thả nó ra để nó tự bươn chải, gặm cỏ bên vệ đường. Nếu nó có chết đói thì lại càng hay.”
Thế là con ngựa già dũng cảm bị đuổi ra ngoài để tự kiếm ăn giữa những mỏm đá trên sườn đồi cằn cỗi. Què quặt và bệnh tật, nó thẫn thờ đi dọc những con đường bụi bặm, mừng rỡ khi tìm được một ngọn cỏ hay cành cây ké. Bọn trẻ ném đá vào nó, lũ chó sủa vang lên đuổi theo nó, và trên cõi đời này chẳng có lấy một ai thương hại nó.
Vào một buổi chiều oi ả, khi chẳng có bóng người trên đường phố, con ngựa tình cờ lang thang đi vào quảng trường. Không một bóng người lớn hay trẻ em ở đó, bởi cái nóng như thiêu đốt của mặt trời đã đẩy tất cả vào trong nhà. Cổng mở toang; con vật khốn khổ muốn đi đâu tùy thích. Nó nhìn thấy sợi dây nho buông thòng xuống từ chiếc chuông công lý. Những chiếc lá và tua cuốn trên dây vẫn còn tươi xanh, bởi nó chưa được treo ở đó bao lâu. Quả là một bữa ăn tuyệt vời làm sao cho một con ngựa đang chết đói!
Nó vươn cái cổ gầy guộc, ngoạm lấy một mảng mồi ngon lành. Thật khó để dứt nó ra khỏi thân dây. Nó giật mạnh, và chiếc chuông lớn phía trên bắt đầu ngân lên. Tất cả người dân ở Atri đều nghe thấy. Tiếng chuông vang lên tựa hồ đang nói,—
Có ai đối xử bất công với tôi!
Có ai đối xử bất công với tôi!
Ôi! Hãy đến phân xử vụ của tôi!
Ôi! Hãy đến phân xử vụ của tôi!
Bởi tôi đã bị oan khiên!
Các quan tòa đã nghe thấy tiếng chuông. Họ khoác áo choàng, rảo bước qua những con đường nóng bức để ra quảng trường. Họ tự hỏi không biết là ai lại đi giật chuông vào cái giờ này. Khi bước qua cổng, họ nhìn thấy con ngựa già đang gặm nhấm dây nho.
“Ha!” một người kêu lên, “đó là con chiến mã của lão hà tiện. Nó đến để đòi lại công lý; bởi như ai cũng biết, chủ nhân của nó đã đối xử với nó một cách vô cùng tàn nhẫn.”
“Nó đang biện hộ cho nỗi oan của mình tốt như bất cứ loài vật câm lặng nào có thể,” người thứ hai nói.
“Và nó sẽ nhận được công lý!” người thứ ba tuyên bố.
Trong khi đó, một đám đông đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã đổ xô ra quảng trường, háo hức muốn biết các quan tòa chuẩn bị xét xử vụ kiện gì. Khi nhìn thấy con ngựa, tất cả đều ngạc nhiên đứng lặng. Rồi ai nấy đều sẵn sàng kể lại chuyện họ từng bắt gặp nó lang thang trên những ngọn đồi ra sao, không được cho ăn, không được chăm sóc, trong khi chủ nhân của nó ngồi ở nhà đếm những túi vàng.
“Hãy đi dẫn lão hà tiện đến đây trước mặt chúng ta,” các quan tòa ra lệnh.
“Có ai đã đối xử bất công với tôi!”
Và khi lão đến, họ bảo lão hãy đứng nghe phán quyết.
“Con ngựa này đã tận tụy phục vụ ngươi suốt bao năm qua,” họ nói. “Nó đã cứu ngươi khỏi biết bao hiểm nguy. Nó đã giúp ngươi gầy dựng cơ đồ. Do đó, chúng ta ra lệnh phải trích ra một nửa số vàng của ngươi để mua cho nó thức ăn và nơi trú ẩn, một đồng cỏ xanh mướt để nó thỏa sức gặm cỏ, và một cái chuồng ấm áp để sưởi ấm cho quãng đời xế bóng của nó.”
Lão hà tiện cúi gằm đầu, đau xót khôn nguôi vì mất đi số vàng; nhưng người dân thì hò reo vui sướng, và con ngựa được dẫn về chuồng mới của mình cùng một bữa ăn ngon lành mà đã từ lâu lắm rồi nó chưa từng được nếm lại.
