Jude Kẻ Vô Danh

Lượt đọc: 349 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Xi

❊ ❊ ❊

Những trang cuối cùng mà người chép lại cuộc đời này muốn hướng sự chú ý của độc giả xoay quanh khung cảnh trong và ngoài căn phòng ngủ của Jude khi mùa hè lá rậm lại trở về.

Khuôn mặt anh lúc ấy gầy hòm đến nỗi những người bạn cũ chắc khó lòng nhận ra. Buổi chiều, Arabella đang đứng trước gương uốn tóc, công việc mà cô thực hiện bằng cách hơ nóng một thanh gọng ô ngọn lửa của ngọn nến đã thắp sáng rồi uốn những lọn tóc buông xõa. Khi đã hoàn tất việc này, tập tạo một lúm đồng tiền và diện trang phục xong xuôi, cô liếc mắt nhìn Jude. Anh có vẻ như đang ngủ, dẫu tư thế khá cao do chứng bệnh không cho phép anh nằm xuống.

Arabella đã đội mũ, đeo găng và chuẩn bị sẵn sàng, bèn ngồi xuống chờ đợi, cứ như thể đang mong có ai đó đến thay cô làm người chăm sóc.

Một vài âm thanh từ bên ngoài vọng vào cho thấy thị trấn đang có lễ hội, dẫu chẳng thấy được mấy phần lễ hội ấy ở nơi này. Tiếng chuông bắt đầu đổ, những âm thanh lọt qua khung cửa sổ mở toang, vo ve quanh đầu Jude. Chúng làm côâm ỉ bứt rứt, và cuối cùng cô tự lẩm bẩm: “Sao mãi mà Cha vẫn chưa tới nhỉ?”

Cô lại nhìn Jude, đánh giá một cách săm soi sự sống đang cạn dần của anh, như cô đã làm bao lần trong những tháng gần đây, rồi liếc nhìn chiếc đồng hồ treo tường, đứng dậy vẻ thiếu kiên nhẫn. Anh vẫn ngủ, và sau khi đưa ra quyết định, cô lẻn khỏi phòng, khép cửa không tiếng động và bước xuống cầu thang. Căn nhà vắng tanh. Sức hút lôi kéo Arabella ra ngoài rõ ràng đã rủ rê những người khác đi từ lâu lắm rồi.

Đó là một ngày ấm áp, không mây và đầy mời gọi. Cô đóng cửa trước, rảo bước vòng ra Phố Chief, và khi đến gần nhà hát thì có thể nghe thấy tiếng đàn ống, buổi tổng duyệt cho buổi hòa nhạc sắp tới đang diễn ra. Cô bước vào dưới vòm cổng của Cao đẳng Oldgate, nơi người ta đang dựng những tấm bạt che quanh khoảng sân tứ giác để chuẩn bị cho buổi vũ hội tại sảnh lớn vào tối hôm đó. Những người từ vùng quê lên chơi trong ngày đang bày tiệc dã ngoại trên thảm cỏ, còn Arabella thung thung bước đi trên những lối đi rải sỏi và dưới bóng những tán đoạn cổ thụ. Nhưng thấy nơi này có vẻ tẻ nhạt, cô quay lại đường phố, ngắm nhìn những cỗ xe đang đỗ lại dự buổi hòa nhạc, rất nhiều vị giáo sư cùng phu nhân, và các sinh viên đi cùng những bạn nữ xúng xính cũng đang chen chúc tới. Khi cửa đóng lại và buổi hòa nhạc bắt đầu, cô bước tiếp.

Những âm thanh mạnh mẽ từ buổi hòa nhạc ấy vang vọng qua những tấm rèm vàng chao đảo nơi khung cửa sổ mở, vượt qua các mái nhà và hòa vào bầu không khí tĩnh lặng của những con hẻm. Chúng vươn đến tận căn phòng nơi Jude đang nằm; và chính vào khoảng thời gian này, những cơn ho của anh lại tái phát và đánh thức anh dậy.

Ngay khi có thể cất lời, anh thì thào, đôi mắt vẫn nhắm nghiền: “Làm ơn cho một chút nước.”

Chẳng có gì ngoài căn phòng vắng ngắt đáp lại lời kêu gọi của anh, và anh lại ho đến kiệt sức — nói còn yếu ớt hơn: “Nước — một ít nước — Sue — Arabella!”

Căn phòng vẫn tĩnh lặng như trước. Chợt anh lại thở dốc: “Cổ họng — nước — Sue — cưng ơi — một giọt nước — làm ơn — xin hãy làm ơn!”

Không có giọt nước nào mang đến, và tiếng đàn ống, mờ ảo như tiếng ong vo ve, lại vang vào như trước.

Trong lúc anh nằm đó, nét mặt biến đổi, những tiếng hò reo cổ vũ phát ra từ hướng bờ sông.

“À — vâng! Các trận đấu Remembrance,” anh lẩm bẩm. “Còn tôi ở đây. Và Sue thì bị vấy bẩn!”

Tiếng hò reo lặp lại, át đi cả tiếng đàn ống mờ nhạt. Khuôn mặt Jude càng biến đổi hơn: anh thì thầm chậm rãi, đôi môi khô khốc hầu như không động đậy:

“Hãy tiêu diệt cái ngày tôi ra đời, và đêm đã nói rằng: Một nam nhi đã được thụ thai.”

(“Hoan hô!”)

“Nguyện ngày ấy thành tối tăm; chớ để Đức Chúa Trời đoái đến từ trên cao, và ánh sáng cũng đừng chiếu rọi vào nó. Kìa, nguyện đêm ấy hãy hiu quạnh, chớ có tiếng reo vui nào cất lên trong đó.”

(“Hoan hô!”)

“Sao tôi không chết từ trong lòng mẹ? Sao tôi không trút hơi thở khi vừa ra khỏi bụng? … Vì bấy giờ tôi đã được nằm yên và tĩnh lặng. Tôi đã được ngủ: khi ấy tôi đã được nghỉ ngơi!”

(“Hoan hô!”)

“Ở đó những kẻ bị giam cầm cùng nghỉ ngơi; chúng không nghe thấy tiếng của kẻ áp bức… Kẻ nhỏ và người lớn đều ở đó, và tôi tớ được giải thoát khỏi chủ mình. Cớ sao ánh sáng lại ban cho kẻ khốn khổ, và sự sống cho những ai cay đắng trong tâm hồn?”

Trong khi ấy, Arabella trên hành trình khám phá xem chuyện gì đang diễn ra, đã đi tắt qua một con hẻm nhỏ và một góc khuất để vào khoảng sân của Cardinal. Nơi đây tấp nập nhộn nhịp, rực rỡ dưới ánh mặt trời với hoa tươi và các công tác chuẩn bị khác cho một buổi vũ hội cũng được tổ chức ở đây. Một thợ mộc gật đầu chào cô, người từng là đồng nghiệp của Jude trước kia. Một hành lang đang được dựng lên từ lối ra vào đến cầu thang sảnh, bằng vải nỉ đỏ và vàng cam rực rỡ. Những chiếc xe chở đầy các thùng đựng cây tươi đang nở rộ được đặt quanh đó, và chiếc cầu thang lớn được phủ vải đỏ. Cô gật đầu chào người thợ này đến người thợ khác, và nhờ quen biết nên bước lên sảnh lớn, nơi họ đang lát sàn mới và trang hoàng cho buổi khiêu vũ.

Chuông nhà thờ gần đó đang đổ dồn cho buổi cầu lễ lúc năm giờ.

“Tôi chẳng ngại nhảy một trận ở đây với vòng tay của một anh chàng ôm lấy eo mình,” cô nói với một trong những người thợ. “Nhưng lạy Chúa, tôi phải mau về thôi — còn khối việc phải làm. Chẳng có khiêu vũ gì cho tôi cả!”

Khi về đến nhà, cô chạm mặt Stagg cùng một hai người thợ đá đồng nghiệp của Jude ngay cửa. “Bọn anh chuẩn bị ra sông đây,” người kia nói, “để xem đua thuyền va chạm. Nhưng bọn anh ghé qua trên đường đi để hỏi xem chồng cô thế nào rồi.”

“Anh ấy vẫn ngủ ngon lắm, cảm ơn các anh,” Arabella đáp.

“Thế thì tốt. Này, cô không thể dành ra nửa tiếng thư giãn sao, bà Fawley, rồi đi cùng bọn anh nhỉ? Sẽ tốt cho cô đấy.”

“Tôi cũng muốn đi lắm,” cô nói. “Tôi chưa bao giờ xem đua thuyền, và nghe nói vui lắm.”

“Đi thôi!”

“Ước gì tôi đi được!” Cô ngước nhìn dọc con phố với vẻ thèm thuồng. “Đợi một lát nhé. Tôi chạy lên xem bây giờ anh ấy thế nào đã. Bố tôi đang ở với anh ấy, tôi nghĩ vậy; nên chắc là tôi đi được.”

Họ đợi, còn cô bước vào. Dưới nhà những người thuê trọ đều vắng mặt như trước, thực ra họ đã kéo nhau ra sông nơi đoàn thuyền sắp đi qua. Khi lên đến phòng ngủ, cô phát hiện bố mình thậm chí còn chưa đến.

“Sao ông ấy không có mặt ở đây cơ chứ!” cô nói đầy vẻ thiếu kiên nhẫn. “Ông ấy muốn tự mình đi xem thuyền — chuyện là thế đấy!”

Tuy nhiên, khi nhìn quanh chiếc giường, cô thấy nhẹ nhõm hẳn, vì thấy Jude hình như đang ngủ, dẫu anh không nằm ở tư thế nửa ngồi quen thuộc do cơn ho bức bách. Anh đã trượt xuống và nằm phẳng lì. Cái nhìn thứ hai khiến cô giật mình, và cô bước lại gần giường. Khuôn mặt anh hoàn toàn tái nhợt, và đang dần cứng đờ. Cô chạm vào những ngón tay anh; chúng đã lạnh ngắt, dù thân thể anh vẫn còn ấm. Cô áp tai nghe ngực anh. Mọi thứ bên trong đều tĩnh lặng. Nhịp đập suốt gần ba mươi năm đã ngừng hẳn.

Sau nỗi bàng hoàng ban đầu trước những gì vừa xảy ra, những âm thanh yếu ớt của một ban nhạc kèn đồng hay ban nhạc nào đó từ phía bờ sông vọng đến tai cô; và với giọng điệu bực bội, cô thốt lên: “Lại chết đúng vào lúc này cơ chứ! Sao anh ấy lại chết đúng lúc này!” Rồi trầm ngâm suy nghĩ thêm một hai phút, cô bước ra cửa, khép nhẹ lại như trước, rồi lại xuống cầu thang.

“Cô ấy đây rồi!” một trong những người thợ kêu lên. “Bọn anh cứ tự hỏi không biết rốt cuộc cô có đi không đấy. Đi thôi; chúng ta phải nhanh chân lên mới kiếm được chỗ đẹp… Thế nào rồi? Anh ấy vẫn ngủ ngon chứ? Dĩ nhiên, bọn anh không muốn kéo cô đi nếu—”

“À vâng — ngủ say lắm. Anh ấy chưa dậy đâu,” cô nói một cách vội vã.

Họ cùng đám đông đi xuống phố Cardinal, chẳng mấy chốc đã đến cây cầu, và những chiếc sà lan rực rỡ đập vào mắt họ. Từ đó họ rẽ qua một khe nhỏ đi xuống con đường ven sông — giờ đây đang bụi bặm, nóng bức và đông nghẹt người. Gần như vừa đến nơi thì đoàn thuyền diễu hành bắt đầu; những cây dầm khua nước phát ra tiếng động lớn như một nụ hôn vang lên trên mặt dòng sông khi chúng được hạ từ tư thế thẳng đứng xuống.

“Ôi trời — vui quá cơ! Tôi mừng vì đã đến,” Arabella nói. “Và — việc tôi vắng nhà chẳng thể làm hại gì đến chồng tôi được.”

Bên phía bờ sông đối diện, trên những chiếc sà lan đông đúc, là những bó hoa rực rỡ của phái đẹp, ăn mặc thời trang với các màu xanh lá, hồng, xanh dương và trắng. Lá cờ xanh của câu lạc bộ chèo thuyền biểu thị cho tâm điểm của sự chú ý, bên dưới là một ban nhạc mặc đồng phục đỏ đang tấu lên những giai điệu mà cô vừa nghe thấy trong căn phòng có người chết. Đủ các loại sinh viên, ngồi xuồng cùng các tiểu thư, đang dán mắt tìm kiếm chiếc thuyền “của chúng ta”, vút qua vút lại. Trong lúc cô đang ngắm nhìn khung cảnh sinh động ấy, ai đó chọc vào mạn sườn Arabella, và khi quay lại, cô nhìn thấy Vilbert.

“Bùa yêu ấy đang phát huy tác dụng rồi đấy nhé!” hắn nói với một nụ cười nham nhở. “Xấu hổ cho cô chưa khi nỡ phá nát một cõi lòng như vậy!”

“Hôm nay tôi không muốn nói chuyện tình yêu.”

“Sao lại không? Hôm nay là ngày lễ chung mà.”

Cô không đáp lời. Cánh tay Vilbert luồn qua eo cô, hành động này có thể thực hiện mà không ai chú ý giữa chốn đông người. Một vẻ mặt tinh quái thoáng hiện trên khuôn mặt Arabella khi cảm nhận được vòng tay ấy, nhưng cô vẫn dán mắt vào dòng sông ra điều không hay biết gì về cái ôm.

Đám đông cuồn cuộn dâng trào, đẩy Arabella và bạn bè đôi lúc suýt ngã xuống sông, và cô đã cười hả hê trước những trò đùa giỡn thô lỗ tiếp theo đó, nếu như ấn tượng trong tâm trí về một gương mặt tái nhợt, đẹp như tạc tượng mà cô vừa ngắm nhìn lúc nãy không làm cô tỉnh táo lại đôi chút.

Trò vui trên mặt nước đạt đến đỉnh điểm của sự phấn khích; có những cú ngã nhào xuống nước, có những tiếng hò reo: cuộc đua đã ngã ngũ, những vị tiểu thư váy áo hồng, xanh dương và vàng rời khỏi các sà lan, và những người theo dõi bắt đầu tản ra.

“Thế là — tuyệt quá đi mất,” Arabella kêu lên. “Nhưng chắc tôi phải về với người đàn ông tội nghiệp của mình thôi. Bố tôi ở đó, theo như tôi biết; nhưng tốt hơn là tôi nên về.”

“Vội gì thế?”

“Thì, tôi phải đi… Trời ơi, rắc rối thế này đây!”

Tại lối đi hẹp nơi mọi người leo từ đường ven sông lên cầu, đám đông thực sự bị dồn ứ lại thành một khối nóng hầm hập — Arabella và Vilbert cùng những người khác; và họ cứ đứng đó bất động, Arabella ngày càng thốt lên những câu “Trời ơi, trời ơi!” đầy thiếu kiên nhẫn; bởi cô chợt nhận ra rằng nếu Jude được phát hiện là đã chết một mình thì một cuộc điều tra tử thi có thể sẽ được cho là cần thiết.

“Em đúng là hay bồn chồn thật đấy, tình yêu của anh,” vị thầy thuốc nói, vì bị đám đông ép sát vào cô nên chẳng cần tốn chút sức lực cá nhân nào để tiếp cận. “Cứ kiên nhẫn đi thôi: có thoát đi được đâu lúc này!”

Phải mất gần mười phút đám đông chen chúc ấy mới dịch chuyển đủ để họ có thể chen qua. Ngay khi lên đến phố, Arabella vội vã rảo bước, cấm vị thầy thuốc không được đi theo cô nữa trong ngày hôm nay. Cô không đi thẳng về nhà mình; mà đến nhà của một người phụ nữ chuyên làm những công việc khâm liệm cần thiết cuối cùng cho người chết nghèo khó; và cô gõ cửa.

“Chồng tôi vừa mới đi rồi, tội nghiệp anh ấy,” cô nói. “Bà có thể đến khâm liệm giúp tôi được không?”

Arabella chờ đợi vài phút; rồi hai người phụ nữ cùng đi, luồn lách khuỷu tay qua dòng người thời trang đang tuôn ra từ bãi cỏ Cardinal, và suýt bị xe ngựa tông ngã.

“Tôi còn phải ghé qua nhà người giữ mộ để bàn về tiếng chuông nữa,” Arabella nói. “Nó ngay quanh đây thôi phải không? Tôi sẽ gặp bà ở cửa nhà tôi nhé.”

Đến mười giờ đêm hôm ấy, Jude đang nằm trên chiếc giường ở phòng trọ, được phủ một tấm vải trắng và thẳng tắp như mũi tên. Qua khung cửa sổ hé mở, nhịp điệu rộn ràng của một bản waltz từ phòng khiêu vũ ở Cardinal vọng vào.

Hai ngày sau, khi bầu trời cũng không một gợn mây và bầu không khí cũng tĩnh lặng như thế, hai người đứng bên chiếc quan tài mở nắp của Jude trong cùng căn phòng ngủ nhỏ ấy. Một bên là Arabella, bên kia là Góa phụ Edlin. Cả hai đang nhìn khuôn mặt Jude, đôi mi đã hằn sâu tuổi tác của bà Edlin đỏ hoe.

“Anh ấy mới đẹp làm sao!” bà nói.

“Vâng. Anh ấy là một cái xác đẹp mã,” Arabella nói.

Cửa sổ vẫn mở để thông thoáng phòng, và vì đang là tầm trưa nên bầu không khí trong trẻo bên ngoài hoàn toàn đứng gió và yên tĩnh. Từ đằng xa vọng lại những tiếng nói; và tiếng động lộc cộc của mọi người đang dậm chân.

“Cái gì thế kia?” bà cụ lẩm bẩm.

“À, đó là các vị Tiến sĩ trong nhà hát, đang trao bằng Tiến sĩ danh dự cho Công tước xứ Hamptonshire cùng một đám quý ông lừng lẫy kiểu đó. Đang là Tuần lễ Remembrance mà, mẹ biết đấy. Tiếng hoan hô phát ra từ đám thanh niên.”

“Ừ; trẻ tuổi và phổi khỏe thật! Nào giống như cậu trai tội nghiệp nhà chúng ta đây.”

Một vài từ rời rạc, tựa như ai đó đang đọc diễn văn, trôi dạt từ những ô cửa sổ mở của nhà hát sang góc nhỏ yên tĩnh này, dường như làm xuất hiện một nụ cười nào đó trên những nét mặt bằng đá của Jude; trong khi những cuốn sách cũ rích, đã lỗi thời chứa các bản in Delphin của Virgil và Horace, cùng cuốn Tân Ước tiếng Hy Lạp quăn mép trên chiếc kệ gần đó, và vài cuốn sách hiếm hoi khác mà anh chưa đem bán, bị phủ một lớp bụi đá nhám ráp ở những chỗ anh thường với lấy trong chốc lát giữa những giờ làm việc lao nhọc, dường như tái mét đi thành một sắc thái ốm yếu trước những âm thanh ấy. Tiếng chuông rộn rã cất lên; và những âm hưởng của chúng lan tỏa vòng quanh căn phòng ngủ.

Ánh mắt Arabella rời khỏi Jude để chuyển sang bà Edlin. “Bà có nghĩ cô ấy sẽ đến không?” cô hỏi.

“Tôi không thể nói được. Nó đã thề là không bao giờ gặp lại anh ta nữa cơ mà.”

“Trông cô ấy thế nào?”

“Mệt mỏi và thảm hại, tội nghiệp. Già đi cả chục tuổi so với lần cô gặp nó lần cuối. Giờ trông già dặn và tàn tạ lắm rồi. Chính là vì người đàn ông ấy — cho đến tận bây giờ nó vẫn không tài nào nuốt trôi được!”

“Nếu Jude còn sống để nhìn thấy cô ấy, có lẽ anh ấy cũng chẳng màng gì đến cô ấy nữa ấy chứ.”

“Đó là điều chúng ta không thể biết… Cậu ấy chưa từng giục cô cho gọi nó sao, từ khi cậu ấy đến gặp con mụ kỳ quặc ấy à?”

“Không. Hoàn toàn ngược lại. Tôi đề nghị đi gọi, nhưng anh ấy bảo tôi không được để cô ấy biết anh ấy ốm nặng thế nào.”

“Cậu ấy có tha thứ cho cô ấy không?”

“Tôi không biết.”

“Thôi thì — tội nghiệp con bé, có thể tin rằng nó đã tìm thấy sự tha thứ ở đâu đó! Nó bảo nó đã tìm thấy sự bình yên!”

“Nó có quỳ gối thề trước cây thánh giá trên chiếc dây chuyền cho đến khản cả cổ đi chăng nữa thì cũng chẳng đời nào là sự thật!” Arabella nói. “Nó chưa từng tìm thấy sự bình yên kể từ khi rời khỏi vòng tay anh ấy, và sẽ chẳng bao giờ tìm lại được cho đến khi nó cũng nằm xuống như anh ấy lúc này!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.