Jude Kẻ Vô Danh

Lượt đọc: 349 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iv

❊ ❊ ❊

Phillotson thức rất khuya, như vẫn thường lệ, để cố gắng thu thập tài liệu cho sở thích nghiên cứu đồ cổ La Mã vốn đã bị bỏ bê bấy lâu. Lần đầu tiên kể từ khi khơi lại đề tài ấy, anh cảm thấy niềm hứng thú thuở nào quay trở lại. Anh quên cả thời gian lẫn không gian, và mãi đến khi sực nhớ ra rồi bước lên lầu nghỉ ngơi thì đồng hồ đã gần điểm hai giờ.

Do quá mải suy nghĩ, dẫu hiện tại đã dọn sang ngủ ở cánh bên kia ngôi nhà, anh vẫn theo thói quen bước nhầm về căn phòng mà anh và vợ từng ở khi anh mới thuê Old-Grove Place—nơi từ sau những bất hòa giữa anh và Sue đã hoàn toàn thuộc về cô. Anh bước vào và vô thức bắt đầu cởi áo quần.

Từ trên giường phát ra một tiếng kêu cùng một cử động bất ngờ. Trước khi người thầy giáo kịp nhận ra mình đang ở đâu, anh đã thấy Sue giật mình chồm dậy trong cơn ngái ngủ, trừng mắt nhìn đầy hoảng loạn, rồi lao vút xuống sàn về phía bên kia giường—hướng ra cửa sổ. Khu vực này hơi bị che khuất bởi màn trướng, và chỉ trong chớp mắt, anh nghe thấy tiếng cô đẩy mạnh khung cửa sổ lên. Chưa kịp hiểu cô định làm gì ngoài việc hít chút không khí trong lành, anh đã thấy cô leo lên bệ cửa và phóng mình ra ngoài. Cô biến mất vào màn đêm, và anh nghe tiếng cô rơi xuống mảnh đất phía dưới.

Hoảng sợ tột độ, Phillotson cắm cổ chạy xuống cầu thang, đến nỗi va mạnh người vào trụ gỗ vì quá vội vã. Vừa mở cánh cửa nặng nề, anh vừa bước qua vài bậc thềm để ra đến mặt đất, và ở đó, trên lớp sỏi trước mặt, là một đống trắng xóa. Phillotson vội lao đến ôm chầm lấy, đưa Sue vào sảnh rồi đặt cô ngồi lên một chiếc ghế, nơi anh ngập ngừng nhìn ngắm cô dưới ánh nếnập bùng mà anh vừa đặt ngay ngắn trong luồng gió lùa ở bậc thềm thấp nhất.

Cô chắc chắn không bị gãy cổ. Cô nhìn anh bằng đôi mắt dường như chẳng nhận thức nổi anh là ai; và dẫu bình thường không quá to, giờ đây chúng trông lại lớn đến vậy. Cô lấy tay ôm sườn rồi xoa cánh tay, như thể đang cảm nhận cơn đau; đoạn đứng dậy, quay mặt đi vì rõ ràng cảm thấy khó chịu trước cái nhìn của anh.

“Tạ ơn Chúa—em không sao! Dù không phải là không cố ý... Anh mong là em không bị thương nặng chứ?”

Thực ra, cú ngã không hề trầm trọng, có lẽ nhờ những căn phòng cổ có trần thấp và phần nền đất bên ngoài khá cao. Ngoài một vết trầy ở khuỷu tay và một cú va ở sườn, dường như cô không tổn hại gì đáng kể.

“Em nghĩ là mình vừa ngủ thiếp đi!” Sue cất lời, khuôn mặt tái nhợt vẫn quay đi chỗ khác. “Và có cái gì đó làm em hoảng sợ—một giấc mơ khủng khiếp—em tưởng mình nhìn thấy anh—” Những tình tiết thực tế dường như ùa về trong trí óc, khiến cô bỗng im bặt.

Chiếc áo choàng đang treo sau cánh cửa, và Phillotson tội nghiệp vội vã khoác lên người cô. “Anh dìu em lên lầu nhé?” anh hỏi với giọng chán chường; bởi ý nghĩa của toàn bộ sự việc này khiến anh phát ngấy chính mình và mọi thứ trên đời.

“Không, cảm ơn anh, Richard. Em chỉ bị thương chút xíu thôi. Em đi được.”

“Em đáng lẽ phải khóa cửa phòng lại chứ,” anh vô thức lên tiếng, tựa như đang khiển trách học sinh trên lớp. “Thế thì chẳng ai có thể xông vào dù là do vô ý.”

“Em đã thử—nhưng nó không khóa được. Tất cả các cánh cửa đều hỏng cả rồi.”

Tình hình chẳng mấy khá khẩm hơn qua lời thú nhận ấy. Cô chậm rãi bước lên cầu thang, ánh nến chập chờn soi bóng cô rọi sáng. Phillotson không đến gần, cũng chẳng định bước lên theo cho đến khi nghe tiếng cô đóng cửa phòng riêng. Đoạn, anh cài chặt cửa chính, quay lại rồi ngồi bệt xuống bậc thềm dưới cùng, một tay níu lấy cột trụ cầu thang, tay kia ôm cúi đầu vào mặt. Cứ thế anh ngồi lặng đi suốt một khoảng thời gian rất dài—một hình ảnh đủ đáng thương cho bất kỳ ai chứng kiến; cho đến khi ngẩng đầu lên và thở dài một tiếng nặng nhọc, tựa hồ muốn nói rằng công việc của cuộc đời anh vẫn phải tiếp tục dẫu có vợ hay không, anh cầm lấy cây nến và bước lên lầu về căn phòng cô độc ở phía bên kia hành lang.

Không có thêm sự cố nào liên quan đến giữa họ xảy ra cho đến chiều tối hôm sau, khi vừa tan lớp, Phillotson liền bước ra khỏi Shaston, bảo rằng mình không cần dùng trà và cũng chẳng thèm báo cho Sue biết anh đang đi đâu. Anh rỏi xuống khỏi cao nguyên bằng một con dốc đứng hướng Tây Bắc, tiếp tục đi xuống cho đến khi lớp đất trắng khô cằn nhường chỗ cho thứ đất sét nâu dai ngoách. Anh giờ đây đã đặt chân lên vùng phù sa thấp

Nơi Duncliffe làm dấu cho người lữ khách,

Và dòng Stour ngập tràn rêu phong cuộn chảy trong đêm.

Hơn một lần anh ngoái nhìn lại trong màn đêm chập choạng đang buông xuống. Nổi bật nền trời là Shaston, thấp thoáng hiện ra

Trên đỉnh núi bạc đầu

Của Paladore, khi ngày nhạt nhòa

Dần trôi…[1]

[1] William Barnes.

Ánh đèn mới thắp từ những ô cửa sổ hắt ra một thứ ánh sáng điềm tĩnh như đang dõi theo anh, và một trong những ô cửa đó chính là phòng anh. Phía trên nó, anh lờ mờ nhận ra ngọn tháp chóp nhọn của Nhà thờ Trinity. Không khí ở đây, được điều hòa bởi lớp đất sét giữ nước dày đặc, không còn trong lành như ở trên cao nữa mà trở nên oi bức và dễ làm dịu mệt mỏi, đến nỗi khi đi được dặm ba, anh đã phải dùng khăn tay lau mặt.

Bỏ lại đồi Duncliffe bên trái, anh cứ thế bước đi không chút do dự giữa bóng râm, tựa như dáng đi của một người, dù ngày hay đêm, trên vùng đất mà anh từng rong chơi khi còn là một đứa trẻ. Anh đã đi tổng cộng chừng bốn dặm rưỡi

Nơi dòng Stour đón nhận nguồn sức mạnh,

Nuôi dưỡng bởi sáu mạch nước trong veo,[2]

[2] Drayton.

thì vượt qua một nhánh sông nhỏ của sông Stour, và đến Leddenton—một thị trấn nhỏ chừng ba, bốn nghìn dân—rồi tiến thẳng đến trường học của đám trẻ, gõ cửa khu nhà ở của giáo viên.

Một học sinh kiêm trợ giảng ra mở cửa, và trước câu hỏi của Phillotson rằng ông Gillingham có nhà không, cậu ta đáp là có, rồi quay ngoắt đi về nhà riêng của mình, để mặc Phillotson tự tìm đường vào. Anh tìm thấy người bạn của mình đang cất dọn mấy cuốn sách mà anh vừa dùng để dạy học ban tối. Ánh đèn dầu hỏa rọi lên khuôn mặt Phillotson—trông xanh xao và tiều tụy hẳn đi khi đặt cạnh người bạn có vẻ ngoài điềm tĩnh, thực tế. Họ từng là bạn học thời niên thiếu, và là đồng môn tại Trường Sư phạm Wintoncester từ nhiều năm trước.

“Rất vui được gặp anh, Dick! Trông anh có vẻ không được khỏe đấy! Có chuyện gì thế?”

Phillotson tiến lại mà không đáp lời, Gillingham bèn khép tủ lại rồi kéo ghế ngồi sát bên vị khách.

“Sao anh lại không đến đây—để tao nhớ xem—từ hồi anh cưới vợ nhỉ? Tao có ghé qua đấy chứ, nhưng anh đi vắng; và thề có Chúa, đường leo lên đó sau khi trời tối mới vất vả làm sao, nên tao cứ đợi đến khi ngày dài hơn mới tính chuyện mò lên lại. Dù sao thì tao cũng mừng là anh đã không chờ.”

Dù đều là những giáo viên được đào tạo bài bản và thậm chí rất giỏi chuyên môn, thỉnh thoảng họ vẫn dùng một vài từ địa phương thời thơ ấu khi trò chuyện riêng với nhau.

“George, tôi đến đây để giải thích cho anh nghe lý do khiến tôi sắp sửa thực hiện một bước ngoặt, để ít ra anh cũng hiểu được động cơ của tôi nếu có ai đó thắc mắc vào bất cứ lúc nào—điều mà chắc chắn, và quả thực sẽ xảy ra... Nhưng làm gì cũng được còn hơn là cứ duy trì tình trạng như hiện nay. Cầu trời để anh không bao giờ phải trải qua một hoạn cảnh như tôi!”

“Ngồi xuống đi. Ý anh không lẽ là... có chuyện chẳng lành giữa anh và Mrs. Phillotson đấy chứ?”

“Đúng vậy... Ho cảnh khốn khổ của tôi là thế này: tôi có một người vợ mà tôi yêu thương, nhưng cô ấy không những không yêu tôi, mà còn—mà còn— Thôi, tôi chẳng muốn nói nữa. Tôi thừa biết cảm xúc của cô ấy! Thà rằng cô ấy căm ghét tôi còn hơn!”

“Suỵt!”

“Và điều đáng buồn là cô ấy không đáng trách bằng tôi. Như anh biết đấy, cô ấy từng là học viên tập sự dưới quyền tôi, và tôi đã lợi dụng sự non nớt của cô ấy, rủ rê cô ấy đi dạo, rồi ép cô ấy nhận lời đính ước dài lâu khi cô ấy còn chưa thực sự hiểu rõ lòng mình. Về sau, cô ấy gặp một người khác, nhưng cô ấy vẫn nhắm mắt tuân thủ hôn ước.”

“Vẫn yêu người kia ư?”

“Đúng thế; dường như với một sự quan tâm dịu dàng đến kỳ lạ—dẫu cho tình cảm chính xác của cô ấy dành cho hắn ta vẫn là một ẩn số đối với tôi—và cả với hắn ta nữa, tôi nghĩ vậy—có lẽ là ngay cả với chính cô ấy. Cô ấy là một trong những sinh vật kỳ lạ nhất mà tôi từng gặp. Dẫu vậy, tôi vẫn bị ấn tượng bởi hai điều này: sự đồng điệu hoặc tương đồng kỳ lạ giữa hai con người ấy. Hắn ta là anh họ của cô ấy, có lẽ phần nào lý giải được điều đó. Họ trông giống như một con người bị tách làm đôi vậy! Và với sự chán ghét không thể kìm nén của cô ấy đối với tôi trong vai trò người chồng—dù cô ấy có thể quý mến tôi như một người bạn—thì chừng đó là quá sức chịu đựng rồi. Cô ấy đã tận tâm đấu tranh chống lại cảm xúc ấy, nhưng vô ích. Tôi không thể chịu đựng nổi nữa—tôi không thể! Tôi chẳng thể phản bác lại lý lẽ của cô ấy—cô ấy đọc nhiều gấp mười lần tôi. Trí tuệ của cô ấy lấp lánh như kim cương, trong khi trí tuệ của tôi chỉ âm ỉ cháy như tờ giấy nâu... Cô ấy quá tài trí so với tôi!”

“Rồi cô ấy sẽ vượt qua thôi, phải thế không?”

“Không bao giờ! Chuyện là thế này—nhưng tôi không muốn đào sâu thêm—có những lý do khiến cô ấy không bao giờ vượt qua nổi. Cuối cùng, cô ấy điềm tĩnh và kiên quyết hỏi xem mình có được phép rời bỏ tôi để đến với hắn hay không. Đỉnh điểm là vào đêm qua, do tôi vô tình bước vào phòng cô ấy, cô ấy đã nhảy ra khỏi cửa sổ—nỗi khiếp sợ của cô ấy đối với tôi lớn đến nhường nào! Cô ấy ngụy biện rằng đó chỉ là một giấc mơ, nhưng cốt để xoa dịu tôi mà thôi. Giờ đây, khi một người phụ nữ dám nhảy qua cửa sổ mà chẳng màng đến chuyện có gãy cổ hay không, thì không thể nhầm lẫn vào đâu được; và vì thế nên tôi đã đi đến một kết luận: thật sai trái khi tiếp tục hành hạ một sinh mệnh đồng loại như thế; và tôi sẽ không đành lòng làm kẻ tàn nhẫn đến mức đó, dù phải trả giá đắt thế nào đi nữa!”

“Sao cơ—anh sẽ để cô ấy đi ư? Lại còn đi với nhân tình của cô ấy nữa chứ?”

“Đi với ai là chuyện của cô ấy. Tôi sẽ để cô ấy đi; chắc chắn là đi với hắn ta, nếu cô ấy muốn. Tôi biết mình có thể sai—tôi biết mình chẳng thể biện minh một cách hợp lý hay theo tôn giáo cho sự nhượng bộ của mình trước mong muốn ấy của cô ấy, hay dung hòa nó với những giáo lý mà tôi được dạy dỗ từ bé. Chỉ có một điều tôi biết: có cái gì đó thầm thì trong sâu thẳm bảo tôi rằng mình đang làm sai khi từ chối cô ấy. Tôi cũng như bao người đàn ông khác, ngoài miệng luôn lớn tiếng rằng nếu một người chồng nhận được cái yêu cầu có vẻ lố bịch như thế từ vợ mình, thì hành động duy nhất có thể coi là đúng đắn, phải phép và danh dự đối với anh ta là từ chối nó, nhốt vợ mình lại thật nghiêm ngặt, và có lẽ là giết luôn cả gã nhân tình. Nhưng liệu điều đó có thực sự đúng đắn, phải phép và danh dự không, hay chỉ là sự hèn hạ và ích kỷ đáng khinh? Tôi không dám phán xét. Tôi chỉ đơn giản là hành động theo bản năng, và mặc kệ những nguyên tắc muốn ra sao thì ra. Nếu một người vì mù quáng bước đầm lầy mà kêu cứu, tôi nghiêng về việc chìa tay giúp đỡ, nếu có thể.”

“Nhưng—anh thấy đấy, còn vấn đề xóm giềng và xã hội—điều gì sẽ xảy ra nếu ai nấy đều—”

“Ồ, tôi chẳng muốn làm tri gia gì nữa đâu! Tôi chỉ nhìn thấy những gì ngay trước mắt mình thôi.”

“Thôi được—tao không đồng ý với bản năng của anh đâu, Dick!” Gillingham nghiêm trang nói. “Nói thật là tao vô cùng kinh ngạc khi một gã điềm đạm, lầm lũi như anh lại có thể nuôi cái ý nghĩ điên rồ ấy dẫu chỉ trong một khoảnh khắc. Hồi tao ghé qua, anh bảo cô ấy khó hiểu và kỳ quặc: tao nghĩ chính anh mới là kẻ kỳ quặc đấy!”

“Anh đã bao giờ đứng trước một người phụ nữ mà anh thừa biết về bản chất là một người phụ nữ tốt, trong lúc cô ấy van xin được giải thoát—phải làm cái kẻ mà cô ấy quỳ gối nài nỉ sự khoan hồng chưa?”

“Tao rất mừng là chưa từng.”

“Vậy thì tôi không nghĩ anh đủ tư cách để đưa ra ý kiến. Tôi đã từng là kẻ đó, và nó tạo ra sự khác biệt lớn lao trên đời, nếu một người còn chút nam tính hay tinh thần hiệp sĩ trong huyết quản. Tôi hoàn toàn không thể ngờ tới—sống xa cách phụ nữ suốt bao nhiêu năm trời—rằng việc chỉ đơn thuần đưa một người phụ nữ đến nhà thờ và tròng chiếc nhẫn vào tay cô ấy lại có thể đẩy một con người vướng vào thứ bi kịch hằng ngày, liên miên như bi kịch mà cô ấy và tôi đang gánh chịu lúc này!”

“Ừ thì, tao có thể châm chước cho việc để cô ấy rời đi, với điều kiện cô ấy sống một mình. Đằng này lại đi cùng một tay hộ vệ—điều đó hoàn toàn khác chứ.”

“Chẳng khác chút nào cả. Giả sử, theo như tôi tin, cô ấy thà chịu đựng sự khốn khổ hiện tại còn hơn bị bắt buộc phải hứa là sẽ tránh xa hắn ta thì sao? Tất cả những điều đó là vấn đề riêng của bản chất cô ấy. Nó hoàn toàn không giống với sự phản bội của việc tiếp tục sống chung với chồng mà lại đi ăn nằm gian phu dâm phụ sau lưng anh ta... Dẫu vậy, cô ấy không nói rõ là sẽ sống chung với hắn như vợ chồng, dường như cô ấy có ý đó... Và theo sự hiểu biết tốt nhất của tôi, giữa họ không phải là thứ tình cảm tầm thường, thuần túy bản năng động vật: đó mới là điều tồi tệ nhất; bởi vì nó khiến tôi nghĩ rằng tình cảm của họ sẽ bền vững. Tôi không định thú nhận với anh rằng trong những tuần đầu ghen tuông của cuộc hôn nhân, trước khi tôi lấy lại được lý trí, tôi từng ẩn nấp trong trường học vào một buổi tối khi họ ở cùng nhau trong đó, và tôi đã nghe thấy những gì họ nói. Giờ đây tôi lấy làm hổ thẹn vì chuyện đó, dẫu cho tôi cho rằng lúc bấy giờ mình chỉ đang thực thi một quyền hợp pháp. Qua thái độ của họ, tôi nhận ra có một sự gắn kết hoặc sự đồng cảm phi thường xen lẫn trong tình cảm của họ, thứ mà cách nào đó đã gột sạch mọi nét dung tục. Khát khao tột đỉnh của họ là được ở bên nhau—để sẻ chia cho nhau mọi cảm xúc, những mộng tưởng và giấc mơ.”

“Thứ tình yêu thuần túy kiểu Platon!”

“Ồ không. Kiểu Shelley có lẽ đúng hơn. Họ làm tôi liên tưởng đến—tên họ là gì nhỉ—Laon và Cythna. Cả Paul và Virginia một chút nữa. Càng ngẫm nghĩ, tôi lại càng đứng về phía họ một cách trọn vẹn!”

“Nhưng nếu thiên hạ đều làm theo ý anh muốn, thì sẽ xảy ra một cuộc tan rã gia đình trên diện rộng đấy. Gia đình sẽ không còn là tế bào xã hội nữa.”

“Ừ—có lẽ tôi hồ đồ mất rồi!” Phillotson buồn bã nói. “Anh nhớ đấy, xưa nay tôi có bao giờ là một kẻ lập luận sắc sảo gì cho cam. … Thế mà, tôi vẫn không hiểu tại sao người phụ nữ và lũ trẻ lại không thể trở thành một tế bào độc lập mà không cần đến người đàn ông.”

“Lạy Chúa tôi!—Chế độ mẫu hệ à! … Cô ấy cũng nói thế luôn sao?”

“Ồ không. Cô ấy đời nào nghĩ rằng tôi đã vượt qua cả Sue trong chuyện này—tất cả chỉ diễn ra trong mười hai tiếng đồng hồ vừa qua!”

“Chuyện này sẽ làm đảo lộn mọi quan niệm xưa nay ở chốn này mất. Lạy Chúa—Shaston sẽ dị nghị thế nào đây!”

“Tôi đâu có bảo là nó sẽ không xảy ra. Tôi không biết—tôi không biết nữa! … Như tôi đã nói, tôi chỉ là một kẻ hành động theo cảm tính, chứ không phải nhà lý luận.”

“Nào,” Gillingham bảo, “chúng ta hãy bình tĩnh lại, làm ly gì đó để nhắm cho trôi câu chuyện này nào.” Anh luồn xuống dưới cầu thang, lấy ra một chai rượu táo, và mỗi người rót uống một cốc đầy. “Tao nghĩ anh đang quẫn trí và không còn là chính mình nữa,” anh tiếp lời. “Hãy quay về đi và quyết tâm chịu đựng vài thói dở chứng của cô ấy. Cứ giữ cô ấy lại. Tao nghe ngóng khắp nơi đều bảo cô ấy là một người trẻ tuổi rất có duyên.”

“À vâng! Đó mới chính là điều cay đắng nhất! Thôi, tôi không ở lại nữa. Tôi còn phải đi một quãng đường dài.”

Gillingham tiễn bạn đi một dặm đường, và lúc chia tay đã bày tỏ niềm hy vọng rằng buổi trò chuyện kỳ quặc về chủ đề này sẽ là sự khởi đầu cho tình đồng chí xưa cũ của họ. “Cố mà giữ lấy cô ấy!” là những lời cuối cùng của anh vọng vào màn đêm sau lưng Phillotson; từ trong bóng tối, người bạn vọng lại tiếng đáp “Ừ, biết rồi!”

Nhưng khi Phillotson đơn độc bước đi dưới bầu trời mây tụ, chẳng còn nghe thấy âm thanh nào ngoài tiếng róc rách của các phụ lưu sông Stour, anh lẩm bẩm: “Thế đấy Gillingham, bạn tôi ơi, anh chẳng có nổi một lý lẽ nào mạnh mẽ hơn thế để phản bác lại sao!”

“Tao nghĩ cô ấy phải bị cho ăn đòn và đánh thức cho tỉnh ngộ ra—ý tao là thế đấy!” Gillingham lầm bầm một mình trên đường quay trở về.

Sáng hôm sau đến, và trong bữa điểm tâm, Phillotson nói với Sue:

“Em có thể đi—với bất cứ ai em muốn. Anh hoàn toàn và vô điều kiện đồng ý.”

Một khi đã đi đến kết luận này, Phillotson càng lúc càng tin chắc đó là điều đúng đắn. Sự điềm tĩnh nhẹ nhõm khi cảm thấy mình đang làm tròn bổn phận với một người phụ nữ đang nằm ơn phước trong tay mình hầu như đã lấn át cả nỗi buồn vì phải buông tay cô.

Mấy ngày trôi qua, và buổi tối của bữa ăn cuối cùng bên nhau đã đến—một buổi tối nhiều mây kèm theo gió lớn—thứ hiếm khi vắng mặt ở vùng đất cao rễ này. Hình ảnh ấy khắc sâu mãi vào thị giác anh biết bao: cái dáng vẻ của cô khi lướt vào phòng khách dùng trà; một thân hình mảnh mai uyển chuyển; gương mặt hốc hác, không còn vẻ đầy đặn vốn có, hằn in sự nhợt nhạt của những ngày đêm thao thức, gợi lên những khả năng bi kịch hoàn toàn trái ngược với những khoảng thời gian sôi nổi của cô; sự đắn đo với miếng ăn này miếng ăn khác mà chẳng tài nào nuốt trôi thứ nào. Vẻ bồn chồn của cô, sinh ra từ nỗi sợ rằng anh sẽ bị tổn thương bởi hành động của mình, có thể bị một kẻ lạ mặt hiểu lầm là sự khó chịu vì Phillotson cứ săm soi hiện diện cùng cô trong vài phút ngắn ngủi còn lại.

“Em nên ăn một lát dăm bông hay quả trứng, hoặc thứ gì đó cùng với trà chứ? Em không thể đi xa chỉ với một ngụm bánh mì phết bơ đâu.”

Cô nhận lấy lát thức ăn anh gắp cho; và trong lúc ngồi, họ bàn luận về những chuyện vặt vãnh trong nhà, chẳng hạn như anh sẽ tìm chìa khóa của chiếc tủ này hay chiếc tủ kia ở đâu, những hóa đơn nhỏ nào đã được thanh toán, và những thứ tương tự.

“Anh vốn là một gã độc thân bẩm sinh, như em biết đấy, Sue,” anh nói, trong một nỗ lực đầy quả cảm để làm cô yên lòng. “Thế nên việc sống không có vợ thực ra sẽ chẳng hề phiền toái gì với anh, như với những gã đàn ông khác từng có vợ trong một thời gian ngắn. Hơn nữa, anh lại đang ấp ủ cái sở thích vĩ đại này trong đầu là viết cuốn ‘Cổ vật La Mã xứ Wessex,’ nó sẽ chiếm trọn những giờ rảnh rỗi của anh.”

“Nếu bất cứ lúc nào anh gửi cho em một ít bản thảo để sao chép, giống như trước đây, em sẽ rất vui lòng làm việc đó!” cô nói với sự ôn tồn dễ mến. “Em rất muốn tiếp tục có ích cho anh—với tư cách là một—ng-người bạn.”

Phillotson trầm ngâm, rồi cất lời: “Không, anh nghĩ chúng ta nên thực sự cắt đứt, nếu đã quyết định làm tới cùng. Và vì lý do này, anh không muốn hỏi em bất cứ điều gì, và đặc biệt mong em không cung cấp cho anh thông tin về hành tung của mình, hay thậm chí là địa chỉ... Giờ thì, em cần bao nhiêu tiền? Em phải có chút tiền chứ, em biết đấy.”

“Ồ, dĩ nhiên rồi Richard, em đời nào lại nghĩ đến chuyện cầm tiền của anh để bỏ đi chứ! Em cũng chẳng cần đồng nào đâu. Em có đủ tiền riêng để dùng trong một thời gian dài, và Jude sẽ cho em mượn—”

“Anh thà không biết gì về hắn ta, nếu em không phiền. Em hoàn toàn tự do; và con đường em đi là do em tự chọn.”

“Thôi được. Nhưng em chỉ muốn nói là em đã đóng gói một vài bộ quần áo cá nhân để thay đổi, cùng một hai món nhỏ khác thực sự là của riêng em. Em ước gì anh chịu kiểm tra chiếc rương của em trước khi nó bị khóa lại. Ngoài ra em chỉ có một gói đồ nhỏ có thể nhét vừa vào vali của Jude.”

“Dĩ nhiên là anh sẽ không đời nào làm cái trò kiểm tra hành lý của em! Anh muốn em mang theo ba phần tư số đồ đạc trong nhà. Anh không muốn bị làm phiền bởi chúng. Anh chỉ có chút tình cảm gắn bó với một vài món thuộc về bố mẹ quá cố của anh thôi. Còn lại thì em cứ thoải mái lấy bất cứ khi nào em muốn cho người đến chuyển đi.”

“Em sẽ không bao giờ làm thế đâu.”

“Em đi chuyến tàu sáu giờ rưỡi phải không? Bây giờ đã là sáu giờ kém mười lăm rồi.”

“Em... Trông anh hình như không buồn lắm khi em đi thì phải, Richard!”

“Ồ không—có lẽ thế.”

“Em rất quý anh vì cách ứng xử vừa qua của anh. Thật là một điều kỳ lạ là ngay khi em bắt đầu coi anh không phải là chồng mà là người thầy cũ của mình, em lại thấy quý anh. Em sẽ không làm hàng ra vẻ thấu đáo mà nói rằng em yêu anh, bởi anh thừa biết là em không yêu, ngoại trừ tình nghĩa bạn bè. Nhưng đối với em, anh thực sự là một người bạn như thế!”

Sue thoáng rưng rưng nước mắt trước những suy nghĩ ấy, và rồi chiếc xe buýt của nhà ga đã đến rước cô. Phillotson nhìn người ta khiêng hành lý của cô lên mui xe, dìu cô bước lên xe, và buộc phải làm cái động tác giả vờ hôn cô khi cất lời chào tạm biệt—điều mà cô hoàn toàn hiểu ý và làm theo. Nhìn thái độ vui vẻ lúc chia tay của họ, người lái xe buýt chẳng thể ngờ rằng cô chỉ đang đi thăm họ trong một chuyến ngắn ngày.

Khi Phillotson quay trở vào nhà, anh bước lên lầu và mở toang cửa sổ theo hướng chiếc xe buýt vừa rời bánh. Chẳng mấy chốc tiếng bánh xe lăn thưa dần rồi tắt hẳn. Bấy giờ anh mới bước xuống, khuôn mặt nhăn nhúm lại như của kẻ đang chịu đựng cơn đau; anh đội mũ lên đầu và bước ra ngoài, đi theo đúng con đường đó gần một dặm trời. Bỗng chốc quay gót, anh lủi thủi trở về nhà.

Vừa bước chân vào cửa, giọng nói của người bạn Gillingham đã cất lên chào anh từ căn phòng phía trước.

“Tao gọi mãi chẳng ai thưa; thế là thấy cửa mở sẵn nên tao cứ tự nhiên bước vào và ngồi cho thoải mái. Anh nhớ là tao có bảo sẽ ghé qua chứ.”

“Ừ. Tôi rất cảm ơn anh, Gillingham, đặc biệt vì đã đến vào tối nay.”

“Mrs... thế nào rồi?”

“Cô ấy hoàn toàn khỏe mạnh. Cô ấy đi rồi—vừa đi xong. Kia là chiếc tách trà mà cô ấy mới uống cách đây một tiếng đồng hồ. Và kìa là chiếc đĩa cô ấy—” Cổ họng Phillotson nghẹn đắng lại, chẳng tài nào nói tiếp được nữa. Anh quay người sang, đẩy mấy món đồ dùng trà ra một bên.

“Nhân tiện, anh đã dùng trà chưa?” lát sau anh hỏi lại với giọng đã hồi phục.

“Chưa—ừ—thôi khỏi đi,” Gillingham đáp, tâm trí đang bận suy nghĩ điều gì đó. “Anh bảo cô ấy đi rồi á?”

“Ừ... Tôi sẵn sàng chết vì cô ấy; nhưng tôi không muốn đối xử tàn nhẫn với cô ấy dướ danh nghĩa luật pháp. Theo tôi hiểu, cô ấy đi để đoàn tụ với người tình. Họ định làm gì thì tôi không rõ. Dù thế nào đi nữa, cô ấy có trọn vẹn sự đồng thuận của tôi.”

Sự vững chãi, kiên định trong lời tuyên bố của Phillotson đã kìm hãm những lời châm biếm của người bạn. “Tao có nên—rời đi không?” anh hỏi.

“Không, không. Anh đến đúng là ơn cứu độ cho tôi. Tôi có một vài món đồ cần sắp xếp và dọn dẹp. Anh giúp tôi một tay nhé?”

Gillingham gật đầu đồng ý; và khi lên đến các căn phòng trên lầu, người thầy giáo mở các ngăn kéo, bắt đầu lấy ra toàn bộ những thứ đồ đạc còn sót lại của Sue, xếp gọn vào một chiếc rương lớn. “Cô ấy không chịu mang đi hết những thứ tôi muốn,” anh tiếp tục. “Nhưng một khi tôi đã quyết định để cô ấy sống theo cách của mình, thì tôi đã dứt khoát đến cùng.”

“Nhiều kẻ khác chắc chỉ dừng lại ở mức thỏa thuận ly thân là cùng.”

“Tôi đã suy nghĩ kỹ về chuyện đó rồi, và chẳng muốn tranh cãi thêm nữa. Tôi đã và đang là gã cổ hủ nhất trên đời về vấn đề hôn nhân—thực ra tôi chưa bao giờ tư duy phản biện về mặt đạo đức của nó cả. Nhưng những sự thật cứ đập thẳng vào mặt, và tôi không thể cưỡng lại chúng.”

Họ tiếp tục công việc đóng gói trong im lặng. Khi mọi thứ hoàn tất, Phillotson khép nắp rương lại rồi xoay chìa khóa.

“Xong,” anh nói. “Để tô điểm trong mắt ai đó; chứ chẳng bao giờ trong mắt tôi nữa!”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.