Jude Kẻ Vô Danh

Lượt đọc: 321 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Vi

❊ ❊ ❊

Từ ngày đám cưới bị hoãn lại, cuộc sống vốn dĩ lặng thầm của cặp đôi bắt đầu lọt vào tầm ngắm và trở thành chủ đề bàn tán của những người khác ngoài Arabella. Xã hội ở Phố Spring nói riêng và vùng lân cận nói chung hoàn toàn không hiểu nổi, và có lẽ cũng chẳng tài nào hiểu nổi, những tâm tư, cảm xúc, hoàn cảnh cùng nỗi sợ thưa khuất của Sue và Jude. Việc bỗng nhiên xuất hiện một đứa trẻ gọi Jude là “Cha” và Sue là “Mẹ”, chuyện trắc trở trong một lễ cưới vốn định diễn ra thật kín đáo tại phòng đăng ký kết hôn, cùng với những lời đồn đại về các phiên tòa đơn phương – tất cả những điều đó chỉ mang lại một cách lý giải duy nhất đối với những bộ óc phàm tục.

Cậu bé Time nhỏ nhắn – bởi dù đã được đổi tên khai sinh thành “Jude”, cái biệt danh ứng nghiệm kia vẫn bám lấy cậu – cứ mỗi chiều đi học về lại lặp lại những câu hỏi và lờim chọc ghẹo mà tụi trẻ khác đã ném vào mình, gieo rắc vào lòng Sue, và cả Jude khi anh nghe thấy, biết bao đau đớn cùng buồn tủi.

Hệ quả là chẳng lâu sau lần mưu sự tại phòng đăng ký kết hôn, cả hai đã rời đi – người ta đoán là đến Luân Đôn – trong vài ngày, và thuê người chăm sóc cậu bé. Lúc trở về, họ ngầm cho thiên hạ hiểu, với một vẻ mặt hoàn toàn dửng dưng và chán chường, rằng cuối cùng họ đã chính thức kết hôn. Sue, người trước đây từng được gọi là bà Bridehead, giờ đây đường hoàng mang họ Fawley. Vẻ ngoài ủ rũ, sợ sệt và dờ dẫn của cô trong suốt mấy ngày liền dường như đã chứng thực cho tất cả những điều đó.

Thế nhưng, chính cái “sai lầm” (như người ta gọi) khi họ lén lút đi vắng để làm thủ tục ấy lại càng làm dubg thêm vẻ kỳ bí bủa vây cuộc đời họ; và họ nhận ra rằng mình chẳng hề tạo được thiện cảm với láng giềng như hằng mong đợi. Một bí ẩn sống động thì chẳng kém phần thú vị so với một vụ bê bối đã ngã ngũ.

Cậu giao bánh mỳ và cậu tiểu đồng tiệm tạp hóa, những kẻ thuở ban đầu từng hào hiệp ngả mũ chào Sue mỗi khi đến giao hàng, nay chẳng thèm bận tâm dành cho cô sự kính trọng ấy nữa, còn những người vợ của thợ thủ công trong xóm thì cứ nhìn thẳng băng về phía trước khi tình cờ chạm mặt cô.

Quả thật chẳng ai quấy rối họ; nhưng một bầu không khí ngột ngạt bắt đầu bao trùm lấy tâm hồn họ, nhất là sau chuyến đi xem hội, tựa như chuyến du ngoạn đó đã mang theo một thứ tà khí ảnh hưởng đến họ. Tính khí của họ lại đúng là kiểu dễ bị tổn thương bởi bầu không khí này, và chẳng mảy may muốn xua tan nó bằng những tuyên bố công khai, mạnh mẽ. Nỗ lực chuộc lỗi bề ngoài của họ đã đến quá muộn để có thể phát huy tác dụng.

Những đơn đặt hàng bia mộ và văn bia thưa dần; rồi hai, ba tháng sau, khi mùa thu tới, Jude nhận ra mình sẽ phải quay lại nghề thợ bạn, một diễn biến càng trớ trêu hơn vào lúc này khi anh vẫn chưa thanh toán xong khoản nợ bất đắc dĩ phải gánh chịu để lo án phí vào năm ngoái.

Một buổi tối, anh ngồi xuống chia sẻ bữa ăn đạm bạc với Sue và đứa trẻ như thường lệ. “Anh đang nghĩ thế này,” anh nói với cô, “rằng chúng ta sẽ không trụ lại đây nữa đâu. Cuộc sống ở đây tất nhiên cũng hợp với chúng ta; nhưng nếu dời chân đến một nơi mà chẳng ai biết mặt đặt tên, lòng dạ chúng ta sẽ nhẹ nhõm hơn, và cơ hội cũng rộng mở hơn. Thế nên, anh e là chúng ta buộc phải chấm dứt ở đây thôi, dù có hơi bất tiện cho em, tội nghiệp em quá!”

Sue vốn rất dễ xúc động mỗi khi thấy mình được đặt vào hoàn cảnh đáng thương, và cô đâm ra buồn bã.

“Ừ thì… em cũng chẳng tiếc nuối gì,” cô đáp sau một thoáng im lặng. “Em rất chán nản với cách họ nhìn ngó mình ở cái xứ này. Hơn nữa, anh cứ phải gánh gồng căn nhà và đám đồ đạc này hoàn toàn vì em và thằng bé! Bản thân anh chẳng cần đến chúng, và khoản chi phí ấy thật vô ích. Nhưng dù chúng ta làm gì, đi đâu đi nữa, anh cũng sẽ không tước đoạt thằng bé khỏi tay em chứ, Jude yêu dấu? Bây giờ em không thể để nó đi được! Đám mây mù đè nặng lên tâm trí non nớt khiến nó thật đáng thương trong mắt em; em rất hy vọng có ngày sẽ xua tan được nó! Và nó yêu em biết bao. Anh sẽ không bắt nó rời xa em chứ?”

“Chắc chắn là không rồi, cô bé ngoan của anh! Chúng ta sẽ tìm những căn phòng trọ thật đàng hoàng, bất kể đi đến đâu đi nữa. Có lẽ anh sẽ phải di chuyển liên tục – nhận việc nay ở đây, mai ở đó.”

“Đương nhiên là em cũng sẽ làm gì đó chứ, cho đến khi… cho đến khi… Thôi nào, giờ đây khi không còn phụ trách việc khắc chữ được nữa, em buộc phải xoay sở sang nghề khác thôi.”

“Đừng vội vã tìm việc làm làm gì,” anh tiếc nuối nói. “Anh không muốn em phải làm thế. Anh ước gì em đừng làm vậy, Sue ạ. Chăm sóc thằng bé và bản thân em thôi cũng đã đủ mệt rồi.”

Có tiếng gõ cửa, và Jude ra mở. Sue có thể nghe rõ cuộc trò chuyện ngoài đó:

“Anh Fawley có nhà không? … Biles và Willis, bên nhà thầu xây dựng, sai tôi đến hỏi xem anh có nhận khắc lại Mười điều răn ở một ngôi nhà thờ nhỏ mà họ gần đây đang trùng tu tại vùng quê quanh đây không.”

Jude trầm ngâm suy nghĩ rồi đáp rằng anh có thể nhận việc.

“Đó không phải là một công việc đòi hỏi nghệ thuật cao lắm đâu,” người đưa thư nói tiếp. “Vị linh mục là một lão già cổ hủ, và ông ấy nhất quyết không cho phép làm gì thêm với nhà thờ ngoài việc dọn dẹp và sửa chữa.”

“Một ông lão tuyệt vời làm sao!” Sue thầm nghĩ, người vốn có ác cảm đầy cảm tính với những thảm họa trùng tu thái quá.

“Mười điều răn được gắn ở gian cuối phía Đông,” người truyền đạt nói tiếp, “và họ muốn làm mới chúng cùng với phần tường còn lại ở đó, vì ông ấy không chịu đem vứt chúng đi như những vật liệu cũ thuộc quyền sở hữu của nhà thầu theo lề lối thông thường trong nghề.”

Thỏa thuận về thù lao được chốt lại, và Jude bước vào nhà. “Thấy chưa em,” anh vui vẻ nói. “Dù sao thì cũng có thêm một mối làm ăn nữa, và em có thể phụ giúp – ít ra là em có thể thử sức. Chúng ta sẽ có cả ngôi nhà thờ để riêng mình, vì phần việc còn lại đã hoàn tất rồi.”

Hôm sau, Jude đến nhà thờ, nơi chỉ cách đó chừng hai dặm. Anh thấy những gì nhân viên của nhà thầu nói hoàn toàn đúng sự thật. Những tấm bảng ghi luật pháp Do Thái sừng sững uy nghiêm áp đảo các vật dụng thánh hiếu kính của Cơ Đốc giáo, đóng vai trò là vật trang trí chính ở khu cung thánh, mang phong cách khô khan tinh tế của thế kỷ trước. Và vì khung của chúng được làm bằng thạch cao trang trí nên không thể tháo xuống để sửa chữa. Một mảng bị ẩm mốc, mục nát cần được thay mới; và khi việc này hoàn tất, cùng lúc toàn bộ được làm sạch, anh bắt đầu tân trang lại phần chữ viết. Sáng hôm sau, Sue đến để xem mình có thể gò lưng phụ giúp được gì, phần vì họ thích được ở bên nhau.

Sự tĩnh mịch và vắng lặng của ngôi nhà thờ mang lại cho cô sự tự tin, và khi đứng trên một chiếc bệ thấp an toàn do Jude dựng sẵn – thứ mà cô vẫn còn hơi rụt rè khi trèo lên – cô bắt đầu tô vẽ lại những chữ cái của Tấm bảng thứ nhất trong lúc anh loay hoay vá lại một phần của Tấm bảng thứ hai. Cô vô cùng hài lòng với khả năng của mình; cô đã thuần thục những kỹ năng ấy từ thời còn vẽ các đoạn kinh thánh được minh họa cho xưởng đồ dùng nhà thờ ở Christminster. Dường như chẳng có ai lai vãng đến làm phiền họ; tiếng chim hót ríu rít dễ chịu cùng tiếng lá thu xào xạc lùa qua khung cửa sổ để ngỏ, hòa quyện vào câu chuyện giữa hai người.

Tuy nhiên, họ chẳng thể tận hưởng sự ấm cúng và yên bình ấy được lâu. Khoảng mười hai giờ rưỡi, có tiếng bước chân trên lối đi rải sỏi bên ngoài. Vị mục sư già và viên thanh tra nhà thờ bước vào, và khi tiến lại gần để xem công việc đang tiến hành, họ có vẻ ngạc nhiên khi phát hiện ra một phụ nữ trẻ đang phụ giúp. Họ đi tiếp vào một lối đi bên hông, đúng lúc ấy cánh cửa lại bật mở và một bóng người nữa bước vào – một thân hình nhỏ thó, chính là cậu bé Time đang khóc nức nở. Sue đã dặn trước thằng bé nơi có thể tìm thấy mình giữa giờ tan học nếu muốn. Cô bèn trèo xuống khỏi chiếc bệ và hỏi: “Có chuyện gì thế con yêu?”

“Con không thể ở lại trường ăn trưa, bởi vì chúng nó nói…” Cậu bé miêu tả lại việc một vài đứa trẻ đã lăng mạ mình ra sao về người mẹ hờ, và Sue, đầy đau xót, liền phàn nàn bày tỏ sự phẫn nộ với Jude đang ở trên cao. Đứa trẻ đi ra nghĩa địa nhà thờ, còn Sue quay lại với công việc. Trong khi đó, cánh cửa lại mở ra lần nữa, và lê lết bước vào với vẻ bận rộn là người phụ nữ mặc tạp dề trắng làm nghề dọn dẹp nhà thờ. Sue nhận ra mụ ta là người có họ hàng bên Phố Spring mà cô từng ghé thăm. Mụ lao công nhìn Sue, há hốc miệng và chắp tay kinh ngạc; rõ ràng mụ đã nhận ra người bạn đồng hành của Jude cũng giống như cách Sue nhận ra mụ. Tiếp theo là hai vị phu nhân, và sau khi trò chuyện với người phụ nữ dọn dẹp, họ cũng tiến lên phía trước, rồi khi Sue kiễng chân với tay lên cao, họ đứng quan sát đôi tay cô đang miết theo từng nét chữ, đồng thời soi xét đầy tính phán xét dáng người cô nổi bật trên nền tường trắng, cho đến khi cô trở nên căng thẳng đến mức run lẩy bẩy.

Họ quay trở lại chỗ những người khác đang đứng, thì thầm to nhỏ với nhau; và một người cất tiếng – Sue không nghe rõ là ai: “Cô ta là vợ hắn ta phải không nhỉ?”

“Người bảo Có, kẻ bảo Không,” người lao công đáp lời.

“Không á? Thế thì cô ta phải là thế, hoặc của ai đó chứ – rõ mười mươi còn gì!”

“Họ mới cưới nhau được vỏn vẹn vài tuần nay thôi, dù thế nào đi nữa.”

“Đúng là một cặp đôi kỳ quặc đi tô vẽ cho Hai Bảng Răn! Ta không hiểu sao Biles và Willis lại có thể nghĩ ra chuyện thuê mướn những kẻ đó cơ chứ!”

Viên thanh tra nhà thờ đoán rằng Biles và Willis chẳng hay biết gì về uẩn khúc nào sai trái cả, và rồi người kia, nãy giờ vẫn đang trò chuyện với mụ già, liền giải thích ý cô ta khi gọi họ là những kẻ kỳ quặc.

Ý đồ dễ đoán của đoạn hội thoại thì thầm diễn ra sau đó được phơi bày rõ ràng khi viên thanh tra nhà thờ xen vào một câu chuyện cười, với chất giọng mà bất kỳ ai trong nhà thờ cũng có thể nghe thấy, dẫu rõ ràng nó gợi nhắc từ tình huống hiện tại:

“À mà, thật là một chuyện lạ lùng, ông nội tôi từng kể cho tôi nghe một câu chuyện kỳ quái về một vụ việc vô đạo đức xảy ra trong một lần tô vẽ lại Mười Điều Răn ở một nhà thờ ngoài vùng Gaymead – nơi cũng nằm trong phạm vi đi bộ tới được từ đây. Vào thời đó, Mười Điều Răn hầu như được làm bằng chữ mạ vàng trên nền đen, và chúng vốn là như vậy ở cái xứ mà tôi đang nói đến, trước khi ngôi nhà thờ cổ được xây dựng lại. Chắc là cách đây khoảng một trăm năm, khi ấy Mười Điều Răn cần được tu sửa lại y như nhà thờ của chúng ta ở đây, và họ phải thuê thợ tận Aldbrickham đến làm. Lúc bấy giờ, vì muốn hoàn thành công việc trước một ngày Chủ nhật nhất định, đám thợ buộc phải làm việc đến tận khuộn tối thứ Bảy, trái với ý muốn của họ, bởi vì thợ làm thêm giờ hồi đó không được trả công như bây giờ. Tôn giáo chân chính khi ấy chẳng có là bao ở chốn thôn quê, từ các ông mục sư, thư ký cho đến dân làng, và để thúc đẩy đám thợ hoàn thành công việc, vị mục sư đành phải để họ uống rượu thỏa thuê suốt buổi chiều hôm đó. Khi chiều dần buông, họ lại tự tống cổ người đi mua thêm; tính ra toàn là rượu rum. Càng về khuya, họ càng say khướt, cho đến tận lúc họ nghễu ngện đặt chai rum và ly uống rượu lên bàn thờ thánh, rồi kéo vài chiếc giá gỗ ra ngồi quây quần thoải mái cụng ly uống cạn những chén rượu đầy đặn. Chẳng ngờ vừa mới tống khơi hết mấy ly rượu vào bụng thì, theo lời truyền miệng, tất cả bọn họ đều ngã lăn ra bất tỉnh nhân sự, chẳng sót một mống. Họ nằm bất động như thế bao lâu thì chẳng ai rõ, nhưng khi tỉnh dậy thì một trận cuồng phong sấm sét dữ dội đang hoành hành, và trong màn đêm mờ ảo, họ dường như nhìn thấy một bóng đen với đôi chân gầy guộc cùng bàn chân kỳ dị đang đứng trên chiếc thang, hoàn thiện nốt phần việc dở dang của họ. Đến lúc trời hửng sáng, họ có thể thấy rõ ràng công việc đã hoàn tất mỹ mãn, và bản thân họ thì chẳng tài nào nhớ nổi mình đã làm xong nó ra sao. Họ lủi thủi đi về nhà, và điều tiếp theo họ nghe được là một vụ bê bối lớn đã bùng nổ tại nhà thờ vào sáng Chủ nhật hôm đó, bởi vì khi dân chúng kéo đến và buổi lễ bắt đầu, tất cả đều nhận ra Mười Điều Răn được sơn với các chữ ‘không’ bị bỏ sót mất tiêu. Những người lương thiện đã chẳng thèm bước chân đến dự lễ ở đó suốt một thời gian dài, và vị Giám mục phải thân hành đến để làm lễ thánh hiến lại nhà thờ. Câu chuyện truyền miệng từ thời thơ ấu tôi vẫn thường nghe là thế đấy. Anh cứ coi nó đúng với giá trị thực của nó đi, nhưng vụ việc ngày hôm nay lại gợi cho tôi nhớ về nó, đúng như tôi vừa nói đấy.”

Những vị khách liếc nhìn thêm một lần nữa, tựa hồ muốn kiểm tra xem liệu Jude và Sue có bỏ sót các chữ “không” hay không, rồi lần lượt rời khỏi nhà thờ, cuối cùng là cả mụ già. Sue và Jude, những người từ nãy đến giờ vẫn không ngừng tay làm việc, bèn giục cậu bé quay lại trường học, và cứ thế lặng im chẳng nói năng gì; cho đến khi nhìn kỹ lại, anh phát hiện ra cô đã khóc nghẹn ngào từ lúc nào.

“Đừng bận tâm nữa, người bạn đồng hành của anh!” anh cất lời. “Anh hiểu chuyện gì đang xảy ra mà!”

“Em không tài nào chịu nổi việc họ, và tất cả mọi người, lại nghĩ con người ta là đồi bại chỉ vì họ chọn sống theo cách riêng của mình! Chính những định kiến này mới là thứ biến những kẻ có thiện chí nhất trở nên liều lĩnh, và thực sự trở thành vô đạo đức đấy!”

“Đừng có nản lòng thế chứ! Suy cho cùng đó chỉ là một câu chuyện cười thôi mà.”

“À, nhưng mà chính chúng ta đã gợi lên câu chuyện đó đấy chứ! Em sợ rằng sự xuất hiện của mình chẳng giúp gì được cho anh, Jude ạ, mà chỉ đem lại rắc rối thêm thôi!”

Việc khơi gợi ra một câu chuyện như thế quả thật chẳng lấy gì làm phấn khởi cho cam, nếu nhìn nhận một cách nghiêm túc về hoàn cảnh của họ. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, Sue dường như nhận ra rằng tình cảnh sáng nay của họ cũng có mặt buồn cười, và vừa lau nước mắt, cô vừa phì cười.

“Nghĩ lại thì cũng thật nực cười,” cô nói, “khi hai chúng ta, trong số tất cả mọi người, lại mang một quá khứ oái oăm như thế mà tình cờ lại có mặt ở đây để tô vẽ Mười Điều Răn! Anh thì là một kẻ đồi bại, còn em thì… trong cái hoàn cảnh này của em… Ôi trời!” … Và lấy tay che mắt, cô lại tiếp tục cười lặng lẽ từng hồi cho đến khi kiệt cả sức.

“Thế có phải tốt hơn không,” Jude vui vẻ nói. “Giờ thì chúng ta lại ổn cả rồi, phải không nào, cô bé của anh!”

“Ơ nhưng mà chuyện này vẫn rất nghiêm túc đấy nhé!” cô thở dài khi cầm lại cọ vẽ và đứng thẳng người lên. “Nhưng anh có thấy là họ không nghĩ chúng ta đã kết hôn không? Họ chẳng đời nào tin điều đó cả! Thật là kỳ lạ hết sức!”

“Anh mặc kệ thiên hạ nghĩ thế nào thì nghĩ,” Jude đáp. “Anh chẳng buồn nhọc công đi thanh minh với họ nữa đâu.”

Họ ngồi xuống ăn trưa – món ăn họ mang theo sẵn để khỏi mất thời gian – và sau khi dùng xong, vừa định quay lại làm việc thì một người đàn ông bước vào nhà thờ, và Jude nhận ra đó chính là nhà thầu Willis. Ông ta ra hiệu gọi Jude và nói chuyện riêng với anh.

“Này anh – tôi vừa nhận được một lời phàn nàn về chuyện này,” ông ta lên tiếng với vẻ ngượng ngùng đến hụt hơi. “Tôi không muốn soi mói sâu vào vấn đề này – vì dĩ nhiên tôi nào có hay biết chuyện gì đang diễn ra đâu – nhưng e là tôi phải đề nghị anh và cô ấy dừng tay, và để người khác làm nốt phần việc này! Tốt nhất là nên tránh mọi phiền phức không đáng có. Dù sao thì tôi vẫn sẽ trả đủ tiền công tuần này cho anh.”

Jude vốn là kẻ kiêu hãnh nên chẳng buồn đôi co làm ầm lên; nhà thầu trả tiền công cho anh rồi bỏ đi. Jude thu dọn đồ nghề, còn Sue rửa sạch chiếc cọ vẽ. Rồi ánh mắt họ chạm vào nhau.

“Sao chúng ta lại ngây thơ đến mức nghĩ rằng mình có thể làm việc này cơ chứ!” cô thốt lên, giọng chùng xuống đầy vẻ bi kịch. “Đương nhiên là chúng ta không nên… em không nên có mặt ở đây mới phải!”

“Anh nào có ngờ sẽ có kẻ tọc mạch bén mảng đến một nơi vắng vẻ thế này để săm soi chúng ta chứ!” Jude đáp lời. “Thôi đành chịu vậy, em yêu; và dĩ nhiên là anh chẳng muốn vì ở lại mà làm ảnh hưởng đến mối làm ăn của Willis.” Họ ngồi thừ người ra một lát trong sự cam chịu, rồi bước ra khỏi nhà thờ, rảo bước đuổi theo cậu bé để trở về Aldbrickham với nỗi niềm ngổn ngang.

Fawley vẫn giữ một ngọn lửa nhiệt tình đáng kể đối với sự nghiệp giáo dục, và như một lẽ dĩ nhiên từ những trải nghiệm của chính mình, anh rất tích cực thúc đẩy “sự bình đẳng cơ hội” bằng bất kỳ phương tiện khiêm tốn nào nằm trong tầm tay. Anh đã gia nhập Hiệp hội Cải thiện Tương hỗ của Giới thợ thủ công được thành lập tại thị trấn vào khoảng thời gian anh vừa đặt chân đến đây; các thành viên của hội là những thanh niên thuộc mọi tín ngưỡng và giáo phái, bao gồm cả tín đồ Anh giáo, Giáo hội Độc lập, Baptist, Nhất vị luận, Thực chứng luận và nhiều phái khác – thời đó người ta hầu như chưa hề nghe nói đến những kẻ theo chủ nghĩa Bất khả tri – mong muốn chung duy nhất của họ là mở mang trí tuệ đã tạo nên một sợi dây liên kết đủ khăng khít. Hội phí thì ít ỏi, phòng họp lại đơn sơ; và sự nhiệt tình, kiến thức uyên bác khác thường của Jude, trên hết là trực giác kỳ lạ của anh về những gì nên đọc và cách thức tiếp cận ra sao – thứ được tôi luyện qua những năm tháng chống chọi với nghịch cảnh – đã đưa anh vào ban chấp hành.

Vài buổi tối sau khi bị sa thải khỏi công trình trùng tu nhà thờ, và trước khi tìm được bất kỳ công việc nào khác để làm, anh đến tham dự một cuộc họp của ban chấp hành kể trên. Lúc anh đến thì trời đã muộn; tất cả mọi người đều đã có mặt, và khi anh bước vào, họ nhìn anh đầy ngờ vực, hầu như chẳng thốt nổi một lời chào hỏi. Anh lờ mờ đoán rằng có điều gì đó liên quan đến bản thân mình đã được đem ra bàn tán hoặc hé lộ. Một số công việc thường lệ được giải quyết xong xuôi, và người ta tiết lộ rằng số lượng tiền đóng hội phí đã sụt giảm đột ngột trong quý đó. Một thành viên – một con người thực sự ngay thẳng và có thiện chí – bắt đầu cất lời bằng những ẩn ý về một số nguyên nhân khả dĩ: rằng họ cần phải xem xét lại thật kỹ nền tảng của tổ chức; bởi vì nếu ban chấp hành không còn được kính trọng, và không giữ được một chuẩn mực chung tối thiểu về hạnh kiểm giữa những bất đồng, họ sẽ tự tay đánh sập tổ chức này xuống đất. Chẳng có thêm lời nào được thốt ra trước mặt Jude, nhưng anh thừa hiểu điều đó có nghĩa là gì; liền quay người về phía bàn viết một mảnh giấy xin từ chức ngay tại chỗ.

Cứ thế, cặp đôi quá đỗi nhạy cảm ấy càng lúc càng bị dồn ép phải rời đi. Và rồi các hóa đơn được gửi tới, đặt ra câu hỏi hóc búa rằng Jude sẽ phải làm gì với đống đồ đạc cũ kỹ nặng nề của người bà cô, nếu anh rời thị trấn này để lang thang đến một nơi nào đó mà chính anh cũng chẳng biết? Điều này, cùng với sự túng thiếu tiền mặt trước mắt, buộc anh phải đi đến quyết định tổ chức một phiên đấu giá, dù trong thâm tâm anh thích giữ lại những món đồ cổ kính ấy biết bao.

Ngày bán đấu giá cuối cùng cũng đến; và Sue lần cuối cùng tự tay chuẩn bị bữa sáng cho cô, cho đứa trẻ và cho Jude trong căn nhà nhỏ do chính tay anh trang hoàng sắm sửa. Trớ trêu thay hôm đó lại là một ngày mưa gió; hơn nữa Sue lại đang mệt, và vì không muốn bỏ mặc tội nghiệp Jude trong hoàn cảnh ảm đạm như thế – bởi anh buộc phải ở lại thêm một lúc – cô nghe theo lời khuyên của nhân viên nhà đấu giá, lui vào một căn phòng trên lầu đã được dọn sạch đồ đạc để đóng kín cửa tránh những kẻ đến trả giá. Tại đây Jude đã tìm thấy cô; và cùng với đứa trẻ, mấy chiếc rương nhỏ, giỏ xách, bọc hành lý cùng hai chiếc ghế và một cái bàn không nằm trong danh sách đem bán, cả ba ngồi quây quần trò chuyện trong trầm ngâm.

Tiếng bước chân bắt đầu nện rầm rập lên cầu thang trống hoác, những kẻ ghé qua săm soi hàng hóa, trong đó có những món mang kiểu dáng cổ xưa và kỳ lạ đến mức có thêm giá trị ngẫu nhiên như những tác phẩm nghệ thuật. Cánh cửa phòng họ bị thử mở một hai lần, và để phòng ngừa việc bị làm phiền, Jude liền viết chữ “Riêng tư” lên một mẩu giấy nhỏ rồi dán lên tấm pa-nô cửa.

Chẳng mấy chốc họ nhận ra rằng, thay vì bàn tán về đồ đạc, chính lịch sử cá nhân và hành vi quá khứ của họ mới là thứ đang bị những kẻ mua hàng đem ra mổ xẻ bàn tán ở mức độ bất ngờ và không tài nào chịu nổi. Phải đến tận lúc này họ mới thực sự nhận ra cái thiên đường ngu ngốc gồm toàn sự ngơ ngác giả tạo mà bấy lâu nay họ cứ đinh ninh sống trong đó. Sue lặng lẽ nắm lấy tay người bạn đời, và với ánh mắt hướng về nhau, họ lắng nghe những lời bàn tán thoảng qua tai ấy – trong đó nhân vật kỳ lạ và bí ẩn là Cha Time trở thành một chủ đề chiếm phần lớn trong những lời bóng gió xa gần. Cuối cùng, cuộc đấu giá cũng chính thức bắt đầu ở căn phòng phía dưới, từ đó họ có thể nghe rõ tiếng búa gõ xuống cho từng món đồ quen thuộc, những món được trân sùng thì bán với giá rẻ mạt, còn những thứ bị xem nhẹ lại bay đi với mức giá không thể ngờ.

“Người ta chẳng hiểu chúng ta gì cả,” anh thở dài nặng nhọc. “Anh thấy mừng vì chúng ta đã quyết định đi.”

“Vấn đề là đi đâu cơ chứ?”

“Lẽ ra phải đến Luân Đôn. Ở đó người ta muốn sống thế nào cũng được.”

“Không – không phải Luân Đôn đâu anh yêu! Em rành chỗ đó lắm. Chúng ta sẽ chẳng thể hạnh phúc nổi ở đó đâu.”

“Tại sao?”

“Em không nghĩ ra sao?”

“Vì Arabella ở đó phỏng?”

“Đó là lý do chính.”

“Nhưng ở vùng quê thì anh sẽ luôn thấp thỏm lo âu kẻo lại vướng phải những chuyện tương tự như vừa rồi. Hơn nữa, anh cũng chẳng mặn mà gì với việc đi giải thích lôi thôi, đơn cử như mọi chuyện về quá khứ của thằng bé chẳng hạn. Để cắt đứt nó khỏi quá khứ, anh đã quyết định giữ im lặng. Bây giờ thì anh ngán tận cổ mấy cái công việc liên quan đến nhà thờ lắm rồi; và nếu có ai ngỏ lời trao cho chắc gì anh đã nhận!”

“Lẽ ra anh nên học văn hóa cổ điển. Xét cho cùng, phong cách Gothic chỉ là một thứ nghệ thuật rợn ngợp dã man. Pugin đã sai, còn Wren mới đúng. Hãy nhớ lại nội thất của Nhà thờ lớn Christminster – hầu như là nơi đầu tiên chúng ta nhìn vào mắt nhau. Ẩn sau vẻ đẹp nên thơ của những chi tiết kiến trúc kiểu Norman ấy, người ta có thể nhận ra sự ngớ ngẩn lố bịch của những con người thô kệch đang cố gắng bắt chước các hình mẫu La Mã đã lụi tàn, thứ chỉ còn lưu giữ qua những lời đồn đại mờ nhạt.”

“Ừ – em đã phần nào thuyết phục được anh theo quan điểm đó bằng những gì em từng nói trước đây. Nhưng người ta vẫn có thể làm việc và khinh bỉ chính những gì mình làm mà. Anh buộc phải làm một cái gì đó, nếu không phải là kiến trúc Gothic nhà thờ.”

“Ước gì cả hai chúng ta có thể theo đuổi một nghề nghiệp nào mà trong đó hoàn cảnh cá nhân không hề bị đem ra đong đếm,” cô ngước lên mỉm cười đầy đăm chiêu nói. “Em cũng không đủ tư cách để đi dạy học y như anh không hợp với nghệ thuật nhà thờ vậy. Anh phải quay về với những thứ như nhà ga, cầu cống, nhà hát, phòng trà ca nhạc, khách sạn – bất cứ thứ gì chẳng dính dáng gì đến đạo đức hạnh kiểm.”

“Anh có thành thạo mấy thứ đó đâu… Chắc anh phải quay lại nghề làm bánh mỳ thôi. Em biết đấy, anh lớn lên trong cái nghề làm bánh cùng với dì cơ mà. Nhưng ngay cả một thợ làm bánh thì cũng phải tuân theo lề lối thông thường mới mong có khách hàng chứ.”

“Trừ khi anh ta mở một quầy bán bánh ngọt và bánh gừng tại các khu chợ hoặc hội chợ, nơi thiên hạ hoàn toàn dửng dưng với mọi thứ ngoại trừ chất lượng của hàng hóa.”

Mạch suy nghĩ của họ bị cắt ngang bởi tiếng gã đấu giá viên: “Nào, tiếp theo là chiếc ghế bành cổ bằng gỗ sồi này – một bảo vật độc nhất vô nhị của đồ nội thất nước Anh xưa, rất xứng đáng thu hút sự chú ý của mọi nhà sưu tầm!”

“Đó là của cố ngoại tôi,” Jude nói. “Ước gì chúng ta có thể giữ lại món đồ tội nghiệp cổ kính ấy!”

Từng món đồ cứ thế ra đi, và buổi chiều dần trôi về cuối. Jude cùng hai người kia bắt đầu mệt mỏi và đói lả, nhưng sau những gì vừa nghe thấy, họ đâm ra ngại ngùng chẳng dám bước ra ngoài khi những người mua hàng vẫn còn lai vãng trên lối đi. Dù vậy, những lô hàng cuối cùng cũng sắp điểm tên, và họ buộc phải nhanh chóng bước ra cơn mưa để chuyển đồ đạc của Sue đến phòng trọ tạm thời.

“Nào lô hàng tiếp theo: hai cặp bồ câu, còn sống nhăn và mập mạp – một chiếc bánh nướng tuyệt hảo cho bữa tối Chủ nhật tuần tới của ai đó đây!”

Việc sắp sửa phải bán đi mấy con chim này chính là thử thách gây thót tim và căng thẳng nhất trong suốt cả buổi chiều. Chúng là thú cưng của Sue, và khi nhận ra không cách nào giữ lại được chúng, nỗi buồn lớn hơn cả lúc phải chia tay toàn bộ đồ đạc trong nhà đã ùa về. Sue cố gắng tự gạt nước mắt khi nghe cái giá rẻ mạt mà người ta gán cho những vật cưng bé bỏng của cô được nâng lên qua từng mức giá nhỏ giọt cho đến lúc chiếc búa giáng xuống. Người mua lại chúng là một kẻ bán gia cầm ở xóm bên, và rõ ràng chúng cầm chắc cái chết trước phiên chợ tuần tới.

Nhận ra nỗi buồn đang cố giấu giếm, Jude hôn lên trán cô và bảo đã đến lúc phải đi kiểm tra xem nhà trọ đã sẵn sàng chưa. Anh sẽ đi trước cùng thằng bé và quay lại đón cô sớm.

Khi chỉ còn lại một mình, cô kiên nhẫn chờ đợi, nhưng Jude mãi chẳng thấy quay lại. Cuối cùng, khi thấy đường sá đã quang quẻ, cô bước đi, và khi đi ngang qua cửa hàng bán gia cầm cách đó không xa, cô nhìn thấy những chú bồ câu của mình đang nằm trong một chiếc giỏ đan sát cửa. Cảm xúc trào dâng khi trông thấy chúng, cộng với khung cảnh chập choạng tối của buổi chiều tà, đã khiến cô hành động theo bản năng, và sau khi nhanh chóng liếc mắt nhìn quanh, cô giật tung cái chốt gài nắp giỏ rồi cứ thế bước tiếp. Chiếc nắp bật mở từ phía bên trong, và đàn bồ câu vỗ cánh bay vụt lên trời với tiếng động phần phật khiến gã chủ tiệm gia cầm tức tối tru tréo chửi thề chạy ra cửa.

Sue đến phòng trọ trong cơn run lẩy bẩy, và tìm thấy Jude cùng cậu bé đang chuẩn bị chỗ nghỉ ngơi ấm cúng cho cô. “Người ta trả tiền trước khi khiêng đồ đi phải không anh?” cô hỏi dồn, giọng hụt hơi.

“Ừ, anh nghĩ là thế. Sao thế em?”

“Bởi vì, thế thì… em vừa làm một chuyện tồi tệ quá!” Và cô liền thú nhận trong sự ăn năn cay đắng.

“Anh sẽ phải đền tiền cho gã bán gia cầm vậy, nếu hắn không tóm lại được chúng,” Jude nói. “Nhưng thôi kệ đi. Đừng dằn vặt bản thân vì chuyện đó nữa em yêu.”

“Sao mà em ngốc nghếch thế cơ chứ! Ồ, cớ sao quy luật của Tự nhiên lại cứ phải là cuộc tàn sát lẫn nhau chứ hả!”

“Thế ra là vậy hả Mẹ?” thằng bé ngây thơ hỏi.

“Ừ!” Sue nghẹn ngào đáp.

“Thôi thì giờ chúng đành phải phó mặc cho số phận vậy, những sinh tội nghiệp,” Jude nói. “Ngay khi sổ sách đấu giá được thanh toán xong xuôi và các hóa đơn được trả hết, chúng ta sẽ lên đường.”

“Chúng ta đi đâu vậy hả Cha?” cậu bé hồi hộp cất tiếng hỏi.

“Chúng ta phải giương buồm ra khơi theo những chỉ thị tuyệt mật, để chẳng ai có thể lần ra dấu vết… Chúng ta không được phép đến Alfredston, hay Melchester, hay Shaston, hay Christminster. Ngoại trừ những nơi đó ra, chúng ta muốn đi đâu cũng được.”

“Tại sao chúng ta lại không được đến đó hả Cha?”

“Bởi vì một đám mây mù đã vần vũ bao trùm lấy chúng ta; dẫu cho ‘chúng ta chẳng hề làm hại bất kỳ ai, chẳng hủ hóa bất kỳ ai, chẳng lừa lọc bất kỳ ai!’ Dẫu cho có lẽ chúng ta đã ‘làm những điều vốn dĩ ngay thẳng trong chính mắt mình.’”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.