Sue ngồi nhìn xuống sàn căn phòng trống hoác, ngôi nhà vốn chẳng khác gì một căn lều cũ kỹ nằm lọt thỏm trong khuôn viên trường, rồi cô hướng ánh nhìn ra khung cửa sổ không rèm che. Cách đó một khoảng, những bức tường bên ngoài của Sarcophagus College – trầm mặc, đen đúa và không một ô cửa – trút cả bốn thế kỷ ủ dột, cố chấp và mục rữa vào căn phòng nhỏ bé mà cô đang ở, chặn đứng ánh trăng về đêm và ánh mặt trời ban ngày. Người ta cũng có thể lờ mờ nhận ra bóng dáng của Rubric College ở phía xa hơn, và ngọn tháp của một ngôi trường thứ ba ở tận đẩu tận đâu. Cô nghĩ về sự vận hành kỳ lạ của một niềm đam mê đến mụ mẫm ở một người đàn ông đơn thuần, khi nó lại xui khiến Jude – người vốn yêu thương cô và bọn trẻ vô cùng dịu dàng – đưa mẹ con họ đến cái xóm nghèo ngột ngạt này, chỉ vì anh vẫn mãi bị ám ảnh bởi giấc mơ của mình. Ngay cả lúc này, anh vẫn chưa thực sự thấm thía cái lời từ chối lạnh lùng mà những bức tường học viện ấy từng dội lại khát vọng của anh.
Việc không tìm được chỗ ở nào khác, cộng thêm căn nhà này không còn đủ không gian cho cha anh, đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng đứa trẻ – một nỗi kinh hoàng lầm lì, câm lặng dường như đã bủa vây lấy nó. Sự im lặng bị phá vỡ khi thằng bé cất lời: “Mẹ ơi, ngày mai chúng ta sẽ làm gì đây ạ!”
“Mẹ không biết nữa!” Sue chán nản đáp. “Mẹ sợ điều này sẽ làm cha con phiền lòng mất.”
“Con ước gì cha hoàn toàn khỏe mạnh, và ở đây có đủ chỗ cho cha! Thế thì mọi chuyện đã chẳng đến nỗi nào! Tội nghiệp cha quá!”
“Đúng thế!”
“Con có thể giúp gì được không ạ?”
“Không con ạ! Chỉ toàn là rắc rối, nghịch cảnh và khổ đau thôi!”
“Cha đã bỏ đi để nhường chỗ cho chúng con phải không mẹ?”
“Một phần là thế.”
“Thà không có mặt trên đời này còn hơn là sống ở đời phải không mẹ?”
“Gần như thế đấy, con yêu ạ.”
“Cũng tại chúng con nữa phải không mẹ, nên mẹ mới không thể tìm được một chỗ trọ tử tế?”
“À thì… đôi khi người ta cũng kỳ thị trẻ con.”
“Vậy nếu bọn trẻ gây ra lắm rắc rối đến thế, sao người ta còn sinh ra chúng làm gì ạ?”
“Ồ… vì đó là quy luật của tự nhiên.”
“Nhưng tụi con có xin được sinh ra đâu ạ?”
“Đúng thế thật.”
“Và điều làm con thấy tệ hơn nữa là mẹ không phải mẹ ruột của con, và đáng lẽ mẹ chẳng cần phải sinh ra con nếu mẹ không thích. Lẽ ra con không nên đến tìm hai người – đó mới là sự thật! Con từng gây phiền toái cho họ ở Australia, và giờ con lại làm phiền mọi người ở đây. Ước gì con chưa từng được sinh ra!”
“Con đâu thể chọn được điều đó, con yêu.”
“Con nghĩ bất cứ đứa trẻ nào sinh ra mà không được mong đợi thì nên bị giết quách đi, trước khi chúng kịp có linh hồn, chứ không nên để chúng lớn lên rồi đi lại khắp nơi!”
Sue không đáp. Cô hoang mang tự hỏi làm thế nào để đối phó với đứa trẻ quá ư suy tư này.
Cuối cùng, cô kết luận rằng, trong giới hạn hoàn cảnh cho phép, cô sẽ thật thà và cởi mở với một sinh linh đang thấu hiểu những nỗi truân chuyên của cô chẳng khác nào một người bạn lớn tuổi.
“Sắp có thêm một thành viên nữa trong gia đình chúng ta đấy,” cô ngập ngừng lên tiếng.
“Sao cơ ạ?”
“Sắp có một em bé nữa.”
“Gì chứ!” Thằng bé giật nảy mình. “Ôi Chúa ơi, mẹ lại vừa mang thai nữa á; trong khi nuôi mấy đứa hiện giờ đã đủ khổ sở rồi cơ mà!”
“Ừ, mẹ đành chịu vậy!” Sue thì thầm, khóe mắt lấp lánh những giọt nước mắt chực trào.
Thằng bé oà khóc nức nở. “Ôi mẹ chẳng màng gì đến chúng con cả, mẹ chẳng màng gì sất!” Nó gào lên đầy oán hận. “Sao mẹ có thể độc ác và nhẫn tâm đến thế hả mẹ, khi mà đáng lẽ mẹ có thể đợi đến lúc gia đình khá giả hơn và cha khỏe lại rồi hẵng hay! Lại đẩy tất cả vào thêm khốn đốn! Chỗ ở thì không có, cha bị buộc phải bỏ đi, ngày mai thì bị đuổi cổ ra đường; vậy mà mẹ sắp đẻ thêm đứa nữa cho bằng được! … Mẹ cố tình làm thế! – chính thế! – chính thế đấy!” Nó vừa đi qua đi lại vừa nấc nghẹn.
“X-xin con hãy tha thứ cho mẹ, Jude nhỏ bé!” cô nài nỉ, lồng ngực lúc này cũng phập phồng đau đớn chẳng kém gì thằng bé. “Mẹ không thể giải thích được – lớn lên con sẽ hiểu. Trông có vẻ như… như thể mẹ cố tình làm vậy thật, ngay giữa lúc chúng ta khốn cùng thế này! Mẹ không thể giải thích nổi đâu con ơi! Nhưng mà… chuyện đó không hoàn toàn là cố ý đâu – mẹ cũng chẳng tài nào tránh được!”
“Không, chính là cố ý – chắc chắn là thế! Vì chẳng ai lại đi gây khó dễ cho chúng ta như vậy trừ phi có sự đồng ý của mẹ! Con sẽ không bao giờ, không bao giờ tha thứ cho mẹ đâu! Con sẽ chẳng bao giờ tin là mẹ còn thương con, thương cha hay bất cứ ai trong nhà nữa!”
Nó đứng dậy, bước vào cái tủ quần áo thông với phòng cô, nơi người ta đã trải sẵn một chiếc giường dưới sàn. Ở đó, cô nghe thấy nó lầm bầm: “Giá mà tụi con chết hết đi thì chẳng còn chút rắc rối nào nữa!”
“Đừng nghĩ quẩn thế con,” cô hét lên, giọng có phần nghiêm khắc. “Đi ngủ đi mau!”
Sáng hôm sau, cô thức dậy khi vừa qua sáu giờ một chút, rồi quyết định đứng dậy chạy sang quán trọ – nơi Jude đã dặn là chỗ ở tạm của anh – trước bữa sáng, để báo cho anh biết mọi chuyện trước khi anh đi ra ngoài. Cô rón rén đứng dậy để tránh làm thức giấc bọn trẻ, vì cô biết chắc chúng đã vô cùng mệt mỏi sau những chặng đường vất vả ngày hôm qua.
Cô tìm thấy Jude đang ăn sáng trong quán rượu tồi tàn mà anh chọn để tiết kiệm chi phí phòng ốc cho cô; và cô kể cho anh nghe về cảnh không nhà không cửa của mình. Anh bảo suốt đêm qua anh đã lo lắng cho cô biết bao. Không hiểu sao, lúc trời đã sáng thế này, lời yêu cầu trả lại phòng trọ xem ra không còn là một cú sốc nặng nề như cảm giác của đêm hôm trước, và ngay cả việc cô không tìm được chỗ ở mới cũng không khiến cô đau đớn sâu sắc như ban đầu nữa. Jude đồng ý với cô rằng việc cố chấp đòi ở lại cho đủ một tuần là không đáng, thà là dọn đi ngay lập tức còn hơn.
“Tất cả em hãy đến quán trọ này trong một hoặc hai ngày nhé,” anh nói. “Đây là một nơi xập xệ, không được thoải mái cho lắm đối với bọn trẻ, nhưng chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để tìm nghía chỗ khác. Có rất nhiều nhà trọ ở vùng ngoại ô – ngay khu Beersheba cũ của anh ấy. Ăn sáng cùng anh đi, cô chim nhỏ của anh. Em chắc là mình vẫn khỏe chứ? Vẫn còn dư dả thời gian để em về chuẩn bị bữa ăn cho bọn trẻ trước khi chúng thức giấc. Thực ra, anh sẽ đi cùng em.”
Cô cùng Jude ăn vội bữa sáng, và chỉ mười lăm phút sau, hai người xuất phát, quyết định dọn sạch đồ đạc khỏi căn phòng trọ vốn quá ư đáng kính của Sue ngay lập tức. Khi về đến nơi và bước lên gác, cô thấy trong phòng bọn trẻ mọi thứ vẫn hoàn toàn yên ắng, liền cất giọng e de gọi bà chủ nhà mang lên giúp ấm trà cùng ít đồ ăn sáng. Công việc đó được thực hiện một cách qua quýt, và cô lấy ra hai quả trứng mang theo bỏ vào ấm nước đang sôi, rồi gọi Jude canh chừng hộ cho lũ trẻ trong lúc cô đi gọi chúng dậy, bấy giờ đã khoảng tám giờ rưỡi.
Jude đứng cúi lom khom bên ấm nước, tay cầm đồng hồ để áng chừng thời gian luộc trứng, thành ra lưng anh quay về phía căn phòng nhỏ bên trong nơi bọn trẻ đang nằm. Một tiếng thét gót của Sue bất thình lình khiến anh giật mình quay phắt lại. Anh thấy cánh cửa phòng – hay đúng hơn là chiếc tủ quần áo – vốn có vẻ kêu cót két nặng nề khi cô đẩy ra, nay đang mở toang, và Sue đã ngã gục xuống sàn ngay sát ngưỡng cửa. Vội vã lao tới đỡ cô dậy, anh hướng mắt về phía chiếc giường nhỏ trải trên sàn ván; chẳng có đứa trẻ nào ở đó cả. Anh hoang mang đảo mắt nhìn quanh phòng. Phía sau cánh cửa có đóng hai chiếc mắc áo để treo quần áo, và từ đó, thân hình của hai đứa trẻ nhỏ nhất đang lủng lẳng treo lơ lửng, mỗi đứa bị siết một đoạn dây buộc kiện hàng quanh cổ, trong khi cách đó vài thước, thi thể của bé Jude cũng đang treo lủng lẳng theo cách tương tự từ một chiếc đinh đóng trên tường. Một chiếc ghế bị lật nhào nằm gần đứa con lớn, và đôi mắt đục ngầu của nó trợn ngược vào trong phòng; nhưng mắt của bé gái và đứa em út thì đã nhắm nghiền.
Chết lặng vì nỗi kinh hoàng kỳ lạ và tột cùng của cảnh tượng trước mắt, anh cứ để mặc Sue nằm đó, dùng dao bỏ túi cắt đứt những sợi dây rồi ném ba đứa trẻ lên giường; thế nhưng cảm giác va chạm từ thân thể chúng trong khoảnh khắc chạm vào ấy dường như đã nói lên rằng chúng đều đã chết. Anh chộp lấy Sue – người đang ngất lịm – rồi đặt cô lên chiếc giường ở căn phòng bên cạnh, sau đó thở không ra hơi gọi bà chủ nhà và lao ra ngoài tìm bác sĩ.
Khi anh quay lại, Sue đã tỉnh lại, và hai người phụ nữ bất lực đang cúi mình bên xác lũ trẻ trong những nỗ lực cuống cuồng nhằm cứu sống chúng, cùng với bộ ba thi thể bé nhỏ, đã tạo nên một cảnh tượng đánh gục hoàn toàn sự tự chủ của anh. Vị bác sĩ ở gần đó bước vào, nhưng như Jude đã đoán trước, sự hiện diện của ông là thừa thãi. Bọn trẻ đã qua đời từ lâu không thể cứu vãn, vì mặc dù thân thể chúng vẫn còn hơi ấm nhưng người ta phỏng đoán chúng đã bị treo cổ hơn một tiếng đồng hồ. Điều mà hai vợ chồng suy luận ra sau đó, khi họ đã có thể tĩnh táo suy xét sự việc, là đứa con lớn khi thức dậy đã ngó tìm Sue ở căn phòng bên ngoài, và khi thấy cô vắng mặt, nó đã rơi vào một cơn trầm cảm nặng nề vốn đã sẵn có trong tâm tính bệnh hoạn của nó từ những sự kiện và thông tin của tối hôm trước. Hơn nữa, người ta còn tìm thấy một mẩu giấy trên sàn nhà, trên đó nguệch ngoạc dòng chữ bằng mẩu bút chì mà thằng bé vẫn mang theo:
Chết vì chúng tôi quá đông.
Nhìn thấy dòng chữ này, hệ thần kinh của Sue hoàn toàn sụp đổ; một niềm xác tín kinh hoàng rằng chính cuộc trò chuyện của cô với đứa trẻ là nguyên nhân chính dẫn đến thảm kịch đã đẩy cô vào một cơn quằn quại dữ dội không dứt. Họ khiêng cô ra khỏi căn phòng đó, bất chấp ý muốn của cô, đưa xuống một căn phòng ở tầng dưới; và cô nằm đó, thân hình mảnh khảnh rung lên bần bật theo từng nhịp thở dốc, đôi mắt trân trân nhìn lên trần nhà trong khi chủ nhà vô vọng tìm cách vỗ về cô.
Từ căn phòng này, họ có thể nghe tiếng chân người đi lại ở tầng trên, và cô nài nỉ xin được quay trở lại đó, nhưng chỉ nhận được lời cản trở rằng nếu còn chút hy vọng nào thì sự hiện diện của cô chỉ làm hỏng việc thêm, cùng với lời nhắc nhở rằng cô phải biết giữ gìn sức khỏe kẻo gây nguy hại đến sinh linh đang hình thành trong bụng. Những câu hỏi của cô cứ liên tiếp dồn dập, và cuối cùng Jude cũng xuống dưới để báo cho cô biết là không còn hy vọng gì nữa. Ngay khi có thể cất lời, cô kể cho anh nghe những gì cô đã nói với thằng bé, và lý do vì sao cô nghĩ chính mình là thủ phạm.
“Không đâu,” Jude nói. “Bản tính nó vốn đã muốn làm thế rồi. Bác sĩ bảo rằng dạo này đang xuất hiện những đứa trẻ như vậy giữa chúng ta – những đứa trẻ thuộc tuýp người mà thế hệ trước chưa từng biết đến – là hệ quả của những quan điểm sống mới mẻ. Chúng dường như nhìn thấy trước mọi nỗi kinh hoàng của cuộc đời từ khi còn quá nhỏ để có đủ sức chịu đựng mà chống chọi lại. Ông ấy bảo đó là khởi điểm của cái mong ước muốn từ bỏ sự sống đang lan rộng sắp tới. Bác sĩ là một người có tư tưởng tiến bộ: nhưng ông ấy chẳng thể đem lại sự an ủi nào cho—”
Jude đã kìm nén nỗi đau của riêng mình vì cô; nhưng giờ đây anh cũng suy sụp hoàn toàn; và điều đó lại thôi thúc Sue trỗi dậy niềm đồng cảm, phần nào kéo cô ra khỏi sự dằn vặt bản thân cay đắng. Khi mọi người đã đi khuất, cô được phép vào nhìn mặt bọn trẻ.
Khuôn mặt của thằng bé gói gọn toàn bộ câu chuyện về hoàn cảnh bi đát của họ. Hội tụ trên sinh linh bé nhỏ ấy là tất cả những điều bất hạnh và bóng tối từng bao trùm lên cuộc hôn nhân đầu tiên của Jude, cùng với mọi sự trớ trêu, lầm lỡ, nỗi sợ hãi và sai lầm của chặng đường sau. Nó chính là giao điểm, là tâm chấn, là sự thể hiện cô đọng nhất của họ trong một hình hài duy nhất. Nó đã oằn mình quằn quại vì sự liều lĩnh của đôi vợ chồng ấy, đã run rẩy trước sự lệch lạc của họ, và cuối cùng đã chết vì những bất hạnh của họ.
Khi ngôi nhà chìm trong tĩnh lặng, và họ chẳng thể làm gì ngoài việc chờ đợi cuộc điều tra của viên pháp quan, một giọng trầm, vang và thấp từ đằng sau những bức tường dày phía sau lan tỏa vào bầu không khí trong phòng.
“Âm thanh gì thế?” Sue hỏi, nhịp thở đứt quãng của cô khựng lại.
“Tiếng đàn đại phong cầm ở nhà nguyện trường đại học. Chắc là nghệ sĩ đang tập đàn. Đó là bài thánh ca trích từ Thi thiên thứ bảy mươi ba; ‘Quả thật Chúa rất nhân ái với Israel.’”
Cô lại nấc lên. “Ôi, ôi những đứa con bé bỏng của tôi! Chúng có tội tình gì đâu! Cớ sao người ta lại cướp đi mạng sống của chúng, chứ không phải tôi!”
Lại một khoảng lặng bao trùm – rồi cuối cùng bị phá vỡ bởi tiếng trò chuyện của hai kẻ nào đó ở bên ngoài.
“Chắc hẳn bọn chúng đang bàn tán về chúng ta!” Sue rên rỉ. “‘Chúng ta đã trở thành một trò cười cho thiên hạ, cho các thiên thần và cho cả loài người!’”
Jude lắng nghe – “Không – họ không nói về chúng ta,” anh nói. “Họ là hai mục sư có quan điểm khác nhau, đang tranh cãi về tư thế quay mặt về hướng Đông. Chúa ơi – tư thế hướng Đông, trong khi cả cạn khôn này đang rên siết!”
Rồi lại một khoảng lặng nữa, cho đến khi cô bị cơn đau buồn không tài nào kìm chế được quật ngã. “Có một thế lực ngoại tại nào đó cứ gào lên với chúng ta rằng: ‘Chúng mày không được phép!’ Thoạt đầu nó bảo: ‘Chúng mày không được học hành!’ Kế đến nó bảo: ‘Chúng mày không được lao động!’ Giờ thì nó lại bảo: ‘Chúng mày không được yêu đương!’”
Anh tìm cách dỗ dành cô bằng lời lẽ: “Em cay đắng quá đấy, mình ạ.”
“Nhưng đó là sự thật!”
Cứ thế họ chờ đợi, và rồi cô lại quay về phòng mình. Chiếc áo đầm, đôi giày và đôi tất của đứa bé út vốn nằm trên chiếc ghế vào thời điểm nó qua đời, giờ đây cô quyết không cho ai dọn đi, dù Jude rất muốn cất chúng khuất mắt cô. Nhưng bất cứ khi nào anh chạm vào chúng, cô lại van xin anh hãy để nguyên đấy, và suýt nữa thì nổi khùng lên với bà chủ nhà khi người này cũng hòng dọn dẹp chúng đi.
Jude còn sợ những khoảng lặng vô hồn, dửng dưng của cô hơn cả những cơn cuồng nộ. “Sao anh không nói chuyện với em, Jude?” cô thét lên sau một hồi im lặng như thế. “Đừng quay mặt đi chỗ khác! Em không tài nào chịu nổi sự cô đơn khi không được nhìn thấy anh nữa!”
“Nào em yêu; anh đây mà,” anh nói, áp sát khuôn mặt mình vào mặt cô.
“Đúng thế… Ôi, người đồng chí của em, sự hòa hợp tuyệt đối của chúng ta – thể xác làm một của chúng ta – giờ đã vấy máu rồi!”
“Bị cái chết phủ bóng lên thôi – chỉ vậy thôi mà.”
“À; nhưng chính em mới là kẻ đã xúi giục nó thực sự, dù em chẳng hề hay biết mình đang làm gì! Em đã nói chuyện với đứa trẻ như thể chỉ nên nói với những người đã trưởng thành. Em bảo rằng thế giới này đang chống lại chúng ta, rằng thà chết đi còn hơn sống ở đời với cái giá này; và nó đã hiểu theo nghĩa đen. Lại thêm việc em nói với nó rằng em sắp có đứa con nữa. Điều đó đã làm nó suy sụp. Ôi, nó đã oán trách em cay đắng làm sao!”
“Sao em lại nói những điều đó, Sue?”
“Em chịu. Chỉ là em muốn được thành thật. Em không thể chịu được việc lừa dối nó về những sự thật của cuộc đời. Thế mà em lại chẳng hề thành thật chút nào, vì với sự e ấp sai lầm, em đã nói với nó quá mập mờ. – Tại sao em lại khôn hơn những người phụ nữ khác có một nửa? Mà lại không khôn hơn cho trọn vẹn! Tại sao em không thèm bịa ra những lời nói dối êm tai, thay vì những nửa sự thật? Đó là vì em thiếu tự chủ, nên chẳng thể giấu giếm điều gì mà cũng chẳng thể bộc lộ cho rõ ràng!”
“Kế hoạch của em có lẽ đã đúng trong phần lớn các trường hợp; chỉ là trong hoàn cảnh trớ trêu của chúng ta thì nó lại phản tác dụng thôi. Trước sau gì nó cũng phải biết.”
“Và em đang tính may cho đứa con bé bỏng của em một chiếc áo mới; thế mà giờ đây em sẽ chẳng bao giờ được nhìn thấy nó mặc chiếc áo đó, và chẳng bao giờ được trò chuyện với nó nữa rồi! … Mắt em sưng húp cả lên chẳng còn nhìn rõ gì nữa; thế mà chỉ hơn một năm trước thôi em còn tự nhận mình là kẻ hạnh phúc! Chúng ta đã sống bên nhau với tình yêu quá đỗi cuồng nhiệt – tự nuông chiều bản thân đến mức ích kỷ tột cùng với đối phương! Chúng ta từng nói – anh còn nhớ không? – rằng chúng ta sẽ biến niềm vui thành một thứ đạo đức. Em đã bảo rằng đó là ý định của Tự nhiên, là quy luật và lẽ sống của Tự nhiên để chúng ta được sung sướng trong những bản năng mà người ban cho – những bản năng mà nền văn minh đã tự tiện ra tay bóp nghẹt. Em đã thốt ra những lời lẽ khủng khiếp làm sao! Và giờ đây Định mệnh đã giáng cho chúng ta một nhát dao sau lưng vì cái tội ngu ngốc dám đem lời Tự nhiên ra mà thực hiện!”
Cô chìm vào một nỗi trầm tư tĩnh lặng, cho đến khi cất lời: “Có lẽ… để chúng ra đi là tốt nhất. – Vâng – em thấy đúng là thế! Thà rằng chúng bị ngắt đi khi hãy còn tươi non còn hơn là ở lại để rồi héo mòn một cách thảm hại!”
“Đúng vậy,” Jude đáp lời. “Người ta bảo rằng các bậc sinh thành nên vui mừng khi con cái họ chết đi từ thủa lọt lòng.”
“Nhưng họ nào có thấu! … Ôi những đứa con của tôi ơi, các con ơi, ước gì giờ này các con vẫn còn sống! Anh có thể bảo rằng thằng bé muốn chết, bằng không thì nó đã chẳng làm thế. Chuyện nó chết không phải là vô lý: đó là một phần trong bản tính buồn bã không thể cứu chữa của nó, tội nghiệp thằng bé! Nhưng còn những đứa khác thì sao – những đứa con của chính em và anh!”
Sue lại nhìn chiếc áo đầm nhỏ treo lủng lẳng cùng đôi tất và đôi giày; và thân hình cô run lên bần bật như một sợi dây đàn. “Tôi quả là một sinh vật đáng thương,” cô nói, “chẳng còn chút tích sự gì cho cả cõi đời lẫn thiên đàng nữa! Đầu óc tôi phát điên lên vì mọi chuyện mất rồi! Phải làm sao đây hả giời?” Cô trân trân nhìn Jude, và nắm chặt lấy bàn tay anh.
“Chẳng có gì thay đổi được nữa đâu,” anh đáp. “Mọi sự vốn dĩ thế nào thì sẽ phải đi đến kết cục đã được định sẵn của nó.”
Cô khựng lại. “Đúng vậy! Ai đã nói câu đó thế?” cô hỏi với giọng nặng nề.
“Nó xuất hiện trong đoạn đồng ca của vở Agamemnon. Cứ văng vẳng trong đầu anh từ khi tai họa này xảy ra.”
“Tội nghiệp Jude của em – anh đã phải chịu đựng biết bao thiệt thòi! – anh chịu nhiều hơn em, bởi vì rốt cuộc em đã có được anh! Nghĩ đến việc anh có thể biết được điều đó hoàn toàn nhờ tự đọc sách, thế mà vẫn phải sống trong cảnh nghèo túng và tuyệt vọng!”
Sau những phút giây phân tâm chốc lát ấy, nỗi đau đớn lại ập về trong cô như từng đợt sóng dữ.
Bồi thẩm đoàn đúng hẹn tới xem xét thi thể, cuộc điều tra tử thi được tiến hành; rồi buổi sáng tang lễ ảm đạm cũng đến. Những mẩu tin trên báo chí đã thu hút tới hiện trường đám tò mò rỗi hơi, những kẻ đứng ngẩn ngơ như thể đang đếm từng ô cửa sổ và từng viên gạch trên tường. Sự hoài nghi về mối quan hệ thực sự của cặp đôi càng làm gia tăng thêm sự tò mò của chúng. Sue từng tuyên bố rằng cô sẽ tiễn đưa hai đứa nhỏ đến nơi an nghỉ cuối cùng, nhưng vào phút chót cô lại gục ngã, và những cỗ quan tài lặng lẽ được khiêng ra khỏi nhà trong lúc cô đang nằm nghỉ. Jude bước lên xe, và chiếc xe lăn bánh đi mất, để lại sự nhẹ nhõm khôn tả cho người chủ nhà – người giờ đây chỉ còn phải bận tâm mỗi Sue và đống hành lý sót lại của cô, và hắn mong mỏi sẽ sớm tống khứ nốt chúng đi trong ngày để tẩy sạch cái tiếng tăm tai quái mà ngôi nhà vừa vác phải trong suốt tuần lễ qua chỉ vì sự lỡ miệng dại dột của vợ hắn khi nhận cho mấy kẻ xa lạ này thuê trọ. Đến buổi chiều, hắn lén bàn bạc với chủ nhà, và họ đồng ý rằng nếu có bất kỳ điều tiếng gì phát sinh từ thảm kịch vừa xảy ra nơi đây, họ sẽ tìm cách đổi số nhà đi.
Khi Jude đã thấy hai chiếc quan tài nhỏ – một chiếc đựng bé Jude, và chiếc kia đựng hai đứa nhỏ nhất – được hạ thổ, anh vội vã quay về với Sue. Cô vẫn đang ở trong phòng nên anh không làm phiền cô lúc ấy. Tuy nhiên, vì thấy lo lắng, khoảng bốn giờ chiều anh lại lên thăm. Bà chủ nhà tưởng cô vẫn đang nằm nghỉ, nhưng trở ra báo với anh rằng rốt cuộc cô không hề có trong phòng ngủ. Cả mũ và áo khoác của cô cũng biến mất: cô đã đi rồi. Jude hớt hải chạy ra quán rượu nơi anh trọ. Cô không có ở đó. Đoán trước những khả năng có thể xảy ra, anh rảo bước dọc con đường dẫn đến nghĩa trang, bước vào trong và tiến thẳng đến khu vực vừa diễn ra các vụ an táng. Đám tò mò kéo đến vì vụ thảm kịch giờ đã tản đi hết cả. Một người đàn ông đang cầm xẻng trên tay toan lấp đất lên ngôi mộ chung của ba đứa trẻ, nhưng tay hắn đã bị một người phụ nữ đang đứng lọt thỏm trong cái huyệt vừa lấp một nửa chặn lại. Đó chính là Sue; bộ trang phục sặc sỡ mà cô chưa từng nghĩ đến việc thay bằng đồ tang mà anh đã mua, càng gợi lên hình ảnh một nỗi đau xé lòng sâu sắc hơn cả những bộ tang phục tang chế thông thường.
“Hắn đang lấp đất lên mộ, và hắn không được phép làm thế cho đến khi tôi được nhìn lại mấy đứa nhỏ nhà tôi một lần nữa!” cô gào lên điên cuồng khi trông thấy Jude. “Tôi muốn được nhìn thấy chúng thêm một lần nữa. Ôi Jude – làm ơn đi Jude – em muốn gặp chúng! Em cứ tưởng anh sẽ để em nhìn thấy chúng trước khi đóng nắp quan tài chứ; thế mà anh đã không làm thế, lại còn đem chúng đi mất! Ôi Jude, anh cũng tàn nhẫn với em lắm!”
“Cô ta cứ nài nỉ tôi đào cái huyệt lên lại để cho cô ta sờ vào quan tài,” người đàn ông cầm xẻng nói. “Trông bộ dạng này chắc phải đưa cô ta về nhà thôi. Tội nghiệp, có vẻ như cô ta chẳng còn làm chủ được thần trí nữa rồi. Giờ thì không thể đào lên lại được đâu thưa cô. Cô hãy về nhà với chồng đi, bình tĩnh lại, và tạ ơn Chúa vì chẳng mấy chốc nữa sẽ có thêm một sinh linh khác ra đời để xoa dịu nỗi đau của cô.”
Nhưng Sue vẫn van nài thống thiết: “Em không thể nhìn thấy chúng một lần nữa sao – chỉ một lần thôi! Không được sao? Chỉ một phút ngắn ngủi thôi mà anh Jude? Sẽ nhanh lắm thôi! Và em sẽ vui biết bao, Jude ạ! Em sẽ ngoan ngoãn, không bao giờ dám trái lời anh nữa, nếu anh chịu để em gặp chúng! Chút nữa em sẽ lủi thủi đi về nhà ngoan ngoãn, và sẽ không đòi gặp chúng nữa đâu! Em không thể gặp sao? Tại sao lại không cơ chứ?”
Cứ thế cô lải nhải không ngừng. Jude đau đớn tột cùng, suýt nữa thì anh đã định thuyết phục gã đàn ông kia chìu theo ý cô. Nhưng làm vậy chẳng ích gì, thậm chí còn khiến tình trạng của cô tồi tệ hơn; và anh nhận ra điều cấp bách lúc này là phải đưa cô về nhà ngay lập tức. Thế là anh dỗ dành, thì thầm những lời dịu dàng, và vòng tay ôm lấy cô để dìu đi; cho đến khi cô buông xuôi trong bất lực và chịu rời khỏi nghĩa trang.
Anh muốn kiếm một chiếc xe ngựa để chở cô về, nhưng vì sự túng thiếu đang đè nặng nên cô can ngăn, thế là hai người lầm lũi bước đi chậm chạp – Jude mặc tang phục đen thẫm, còn cô diện bộ đồ màu nâu đỏ. Lẽ ra chiều hôm đó họ phải chuyển đến chỗ trọ mới, nhưng Jude thấy điều đó là bất khả thi, và cuối cùng họ cũng bước chân trở lại ngôi nhà mà giờ đây cả hai căm ghét. Sue ngay lập tức được đưa lên giường, và bác sĩ được mời tới.
Jude thẫn thờ đợi suốt buổi tối ở tầng dưới. Mãi đến khuya muộn, tin dữ mới được báo xuống rằng đứa trẻ đã bị sinh non, và cũng giống như những đứa khác, nó đã là một cái xác không hồn.