Jude Kẻ Vô Danh

Lượt đọc: 321 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ix

❊ ❊ ❊

Khoảng hai tháng sau trong năm, và đôi trẻ đã gặp nhau liên tục trong suốt khoảng thời gian ấy. Arabella tỏ ra bất mãn; nàng luôn tưởng tượng, chờ đợi và băn khoăn.

Một hôm, nàng gặp gã lang thang Vilbert. Nàng, cũng như mọi dân làng quanh vùng, thừa biết tay bịp bợm ấy, liền bắt đầu kể cho hắn nghe về những rắc rối của mình. Arabella vốn ủ rũ, nhưng trước khi hắn rời đi, nét mặt nàng đã tươi tỉnh hơn. Tối hôm đó, nàng có cuộc hẹn với Jude, người trông có vẻ buồn bã.

“Anh sắp đi đây,” anh nói với nàng. “Anh nghĩ mình nên đi. Anh nghĩ điều đó sẽ tốt hơn cho cả em và anh. Ước gì mọi chuyện đừng bao giờ bắt đầu! Anh biết mình đã rất sai lầm. Nhưng sửa sai thì không bao giờ là quá muộn.”

Arabella bật khóc. “Sao anh biết là chưa quá muộn?” nàng nói. “Nói thì dễ lắm! Em còn chưa kể cho anh nghe cơ mà!” và nàng nhìn thẳng vào mặt anh với đôi mắt đầm đìa lệ.

“Gì cơ?” anh hỏi, mặt tái đi. “Không lẽ…”

“Phải! Và em phải làm sao nếu anh ruồng bỏ em?”

“Ồ, Arabella—sao em lại nói thế, mình ơi! Em thừa biết anh sẽ không bao giờ ruồng bỏ em mà!”

“Thế thì—”

“Em biết đấy, tiền công của anh gần như chẳng có là bao, bằng không thì anh đã phải tính đến chuyện này từ trước… Nhưng, dĩ nhiên nếu sự thể đã thế, chúng ta phải cưới nhau thôi! Em nghĩ anh còn có thể mơ làm gì khác được cơ chứ?”

“Em tưởng—em tưởng, mình ạ, vì chuyện đó mà anh lại càng muốn đi quách cho rồi, để mặc em phải đối mặt với nó một mình!”

“Em thừa hiểu là không! Dĩ nhiên sáu tháng trước, hay thậm chí ba tháng trước, anh chưa bao giờ mơ đến chuyện kết hôn. Đây là một sự sụp đổ hoàn toàn đối với những dự tính của anh—ý anh là những dự tính trước khi quen em, em yêu ạ. Nhưng rốt cuộc chúng có là gì chứ? Những giấc mơ về sách vở, về văn bằng, về những học bổng viển vông, và đại loại thế. Chắc chắn chúng ta sẽ cưới: bắt buộc phải thế!”

Đêm đó, anh bước ra ngoài một mình, lang thang trong bóng tối và tự dằn vặt chính mình. Anh thừa biết, thừa hiểu tận sâu thẳm tâm can rằng Arabella chẳng đáng giá là bao nếu xét về mặt phẩm chất của một người phụ nữ. Thế nhưng, theo đúng tập tục ở chốn thôn quê đối với những thanh niên hào hiệp đã lỡ dấn thân vào mối quan hệ quá mức thân mật với một phụ nữ như anh không may đã vướng phải, anh sẵn sàng chịu trách nhiệm về lời mình nói và gánh lấy hậu quả. Để tự xoa dịu bản thân, anh vẫn cố duy trì một niềm tin giả tạo vào nàng. Hình ảnh của nàng trong tâm trí anh mới là điều quan trọng nhất, chứ bản thân Arabella thì không, thỉnh thoảng anh tha thẩn tự nhủ như vậy.

Ngay Chủ nhật tuần tiếp theo, rao hôn phối đã được tiến hành. Mọi người trong giáo xứ đều bàn tán rằng chàng thanh niên Fawley mới khờ khạo làm sao. Toàn bộ sách vở anh đọc rốt cuộc chỉ dẫn đến kết quả là anh sẽ phải bán cả sách đi để mua nồi niêu xoong chảo. Những ai đoán trước được sự tình, trong đó có bố mẹ Arabella, thì tuyên bố rằng đó chính là cách hành xử mà họ trông đợi ở một chàng trai chính trực như Jude nhằm đền bù cho lỗi lầm anh đã gây ra với người yêu ngây thơ của mình. Vị mục sư làm lễ cưới cho họ hình như cũng thấy điều đó thật thỏa đáng. Và thế là, đứng trước vị chủ hôn vừa kể, hai người đã thề rằng trong mọi khoảng thời gian còn lại của cuộc đời cho đến khi cái chết chia lìa, họ chắc chắn sẽ tin tưởng, cảm nhận và mong muốn y hệt như những gì họ đã tin, đã cảm và đã muốn trong vài tuần qua. Điều kỳ lạ chẳng kém gì chính lời thề ấy là dường như chẳng có ai mảy may ngạc nhiên trước những điều họ vừa thề nguyền.

Vì dì của Fawley làm nghề làm bánh, bà đã làm cho anh một chiếc bánh cưới, vừa nói trong cay đắng rằng đó là điều cuối cùng bà có thể làm cho hắn, cái đồ ngốc nghếch tội nghiệp; và rằng giá như hắn đừng sống để làm khổ bà mà thay vào đó, hắn đã xuống âm ti từ nhiều năm trước cùng bố mẹ mình thì còn hơn biết mấy. Từ chiếc bánh này, Arabella cắt lấy vài lát, bọc trong giấy viết thư màu trắng, rồi gửi cho những cô bạn làm chung trong nghề lọc thịt heo là Anny và Sarah, trên mỗi gói đều dán nhãn “Để tưởng nhớ những lời khuyên nhủ chân tình.”

Triển vọng của đôi vợ chồng trẻ quả thật chẳng mấy sáng sủa ngay cả đối với những tâm hồn lạc quan nhất. Anh, một thợ đập đá học việc mới mười chín tuổi, chỉ được trả nửa tiền công cho đến khi hết hạn học việc. Vợ anh hoàn toàn vô dụng ở một căn phòng trọ trong thị trấn, nơi ban đầu anh nghĩ họ sẽ phải sống. Nhưng nhu cầu bức thiết phải kiếm thêm chút ít thu nhập đã khiến anh thuê một ngôi nhà tranh hiu hắt bên vệ đường giữa Brown House và Marygreen, để anh có thể tận dụng lợi nhuận từ khu vườn rau và phát huy kinh nghiệm cũ của vợ bằng cách cho cô ấy nuôi một con lợn. Nhưng đó không phải là kiểu cuộc sống mà anh từng mong đợi, lại phải đi bộ một đoạn đường dài đến Alfredston và ngược lại mỗi ngày. Tuy nhiên, Arabella cảm thấy tất cả những sự xoay sở tạm bợ này rồi cũng qua đi; cô đã có được một chồng; đó mới là điều quan trọng—một người chồng có khả năng kiếm ra nhiều tiền để mua cho cô váy vóc và mũ nón khi anh bắt đầu thấy sợ vợ đôi chút, chịu khó bám lấy nghề nghiệp của mình và vứt xó những cuốn sách ngớ ngẩn kia để làm ăn thực tế.

Thế là vào buổi tối ngày cưới, anh đưa cô về ngôi nhà tranh đó, từ bỏ căn phòng cũ tại nhà người dì—nơi anh từng vùi đầu vào bao lao nhọc với tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh.

Một chút lạnh lẽo bao trùm lấy anh ngay lúc cô cởi y phục lần đầu tiên. Một búi tóc dài, thứ mà Arabella vẫn thường xoắn lại thành một cục chăn búi tà lỏn ở đằng sau đầu, đã được thong thả tháo ra, chải suốt và treo lên chiếc gương soi mà anh đã mua cho cô.

“Ủa—đó không phải tóc thật của em à?” anh nói, bỗng cảm thấy ghê sợ cô.

“Ồ không—bây giờ tầng lớp khá giả ai mà dùng tóc thật.”

“Nói nhảm! Ở thành phố thì có thể thế. Nhưng ở nông thôn người ta quan niệm khác chứ. Hơn nữa, chắc chắn là em cũng có đủ tóc của mình cơ mà?”

“Vâng, đủ theo quan niệm ở quê thôi. Nhưng ở thành phố thì đàn ông người ta đòi hỏi cao hơn, và hồi em làm tiếp viên quán rượu ở Aldbrickham—”

“Tiếp viên quán rượu ở Aldbrickham?”

“À, không hẳn là tiếp viên—em đứng rót đồ uống ở một quán rượu ở đó thôi—chỉ trong một thời gian ngắn; có vậy thôi. Mọi người chỉ cho em mua món này, và em mua nó chỉ vì thích thế. Ở Aldbrickham, một thị trấn còn hoành tráng hơn cả cái xứ Christminster của các anh, thì càng có nhiều tóc giả càng tốt. Mạng quý bà nào có vị thế cũng dùng tóc giả cả—anh thợ cắt tóc bảo em thế đấy.”

Jude mang cảm giác buồn nôn nghĩ rằng mặc dù điều này có thể đúng phần nào theo những gì anh biết, nhưng rất nhiều cô gái ngây thơ vẫn luôn đến các thành phố và ở lại đó nhiều năm trời mà không hề đánh mất đi sự mộc mạc trong lối sống cũng như nét duyên dáng tự nhiên của mình. Ngược lại, than ôi, một số kẻ khác lại mang sẵn bản năng hướng về sự giả tạo trong chính dòng máu của chúng, và trở thành bậc thầy về thói ngụy tạo ngay từ cái nhìn đầu tiên. Dù sao đi nữa, việc một người phụ nữ dùng thêm tóc giả có lẽ cũng chẳng phải tội lỗi gì lớn lao, và anh tự nhủ sẽ không nghĩ ngợi về điều đó nữa.

Một người vừa mới kết hôn thường có cách thu hút sự chú ý trong vài tuần đầu, dẫu cho triển vọng tài chính gia đình có mịt mờ đi chăng nữa. Hoàn cảnh của cô ấy có một nét hấp dẫn rất riêng, và thái độ của cô ấy trước nhận thức đó từ những người quen biết đã xua đi bầu ảm đạm của thực tế, đồng thời khiến cho ngay cả cô dâu khiêm tốn nhất cũng có thể phớt lờ thực tại trong chốc lát. Bà Jude Fawley đang rảo bước trên những con đường ở Alfredston vào một ngày chợ phiên với dáng vẻ đầy tự đắc ấy thì gặp Anny, cô bạn cũ mà cô đã không gặp kể từ ngày cưới.

Như thường lệ, họ cười rũ ra trước khi cất lời; thế giới đối với họ vốn dĩ đã buồn cười sẵn mà chẳng cần phải nói ra.

“Thế là cuối cùng cũng thành công rực rỡ nhé, thấy chưa!” cô gái nói với người vợ. “Tớ biết thừa loại người như hắn thì thế nào cũng đổ. Hắn là một anh chàng vừa đáng yêu vừa tốt tính, cậu phải tự hào về hắn chứ.”

“Tớ có mà,” bà Fawley đáp điềm tĩnh.

“Thế bao giờ thì đẻ?”

“Suỵt! Không có đâu.”

“Cái gì!”

“Tớ nhầm.”

“Ồ, Arabella, Arabella; cậu thâm hiểm thật đấy! Nhầm! ôi chao, đúng là một cú lừa thiên tài! Đúng là chuyện tớ chưa từng nghĩ tới, dù có bao nhiêu kinh nghiệm đi nữa! Tớ chưa bao giờ nghĩ đến chuyện vượt qua cả giai đoạn thực tế—mà lại còn có thể giả vờ được cơ chứ!”

“Cậu đừng có vội vàng buông lời mỉa mai chuyện giả vờ! Chẳng có giả vờ gì sất. Tớ nào có biết đâu.”

“Ôi chúa ơi—thế thì hắn sẽ lôi cổ cậu ra mà trị tội cho xem! Hắn sẽ cho cậu một trận tơi bời vào tối thứ Bảy cho mà coi! Dù thế nào đi nữa, hắn cũng sẽ bảo đó là một cạm bẫy—thậm chí là cú lừa kép, thề có Chúa!”

“Tớ nhận cái thứ nhất, nhưng cái thứ hai thì không… Xí—hắn quan tâm làm gì! Hắn sẽ mừng húm lên vì tớ đã nhầm lẫn trong chuyện đó ấy chứ. Hắn rồi sẽ xuôi tay thôi, ơn Chúa—đàn ông lúc nào chẳng thế. Họ còn làm gì được khác nữa chứ? Đã cưới là cưới.”

Tuy vậy, Arabella vẫn cảm thấy hơi bất an khi thời điểm đến theo lẽ tự nhiên buộc cô phải tiết lộ rằng cái tin động trời cô tung ra thực chất hoàn toàn không có cơ sở. Dịp đó là vào một buổi tối khi chuẩn bị đi ngủ, và hai người đang ở trong căn phòng ngủ tại ngôi nhà tranh hiu hắt bên vệ đường mà Jude đi bộ từ chỗ làm về mỗi ngày. Anh đã làm việc vất vả suốt mười hai tiếng đồng hồ, và đã lên giường đi ngủ trước vợ. Khi cô bước vào phòng, anh đang ở trạng thái nửa tỉnh nửa mê, và hầu như chẳng màng quan tâm đến việc cô đang thay đồ trước chiếc gương nhỏ khi mình đang nằm.

Tuy nhiên, một cử động của cô đã khiến anh hoàn toàn tỉnh táo. Gương mặt cô phản chiếu qua chiếc gương khi cô ngồi, anh có thể nhận thấy cô đang tựa hồ như đang đùa nghịch bằng cách cố tình tạo ra lúm đồng tiền ở hai bên má như đã nhắc đến hồi nãy, một tuyệt kỹ kỳ lạ mà cô nắm vững, thực hiện nó chỉ bằng một động tác mút má thoáng qua. Lần đầu tiên anh có cảm giác rằng những chiếc lúm đồng tiền ấy dạo này vắng bóng trên khuôn mặt cô thường xuyên hơn rất nhiều so với những tuần đầu mới quen nhau.

“Đừng làm thế nữa, Arabella!” anh đột ngột lên tiếng. “Chẳng có hại gì, nhưng—anh không thích nhìn em làm thế.”

Cô quay lại và cười lớn. “Trời ạ, em có biết là anh đã thức đâu!” cô nói. “Anh nhà quê thế không biết! Có gì ghê gớm đâu cơ chứ.”

“Em học cái đó ở đâu thế?”

“Chẳng ở đâu mà em biết. Hồi em còn làm ở quán rượu thì chúng cứ tự nhiên xuất hiện chẳng cần tốn sức; nhưng giờ thì không chịu nữa. Hồi đó mặt em tròn trịa hơn.”

“Anh chẳng quan tâm gì đến lúm đồng tiền. Anh không nghĩ chúng làm cho một người phụ nữ đẹp hơn đâu—nhất là một phụ nữ đã có gia đình, lại có thân hình nở nang như em.”

“Đa số đàn ông lại nghĩ khác đấy.”

“Anh mặc kệ đa số đàn ông nghĩ gì, nếu họ thực sự nghĩ thế. Sao em lại biết chắc thế?”

“Hồi em còn đứng quầy ở quán rượu, người ta hay bảo em thế.”

“À—thì ra cái kinh nghiệm quán rượu đó đã giải thích vì sao em biết rõ về chuyện pha tạp đồ uống khi vợ chồng mình ghé vào uống hôm Chủ nhật tuần trước đó. Hồi cưới em, anh cứ tưởng là em từ trước tới giờ chỉ sống ở nhà bố mẹ đẻ cơ đấy.”

“Lẽ ra anh phải khôn ngoan hơn thế chứ, và phải thấy rằng em đã từng trải đời hơn mức có thể có được nếu cứú bám mãi cái xó nơi em sinh ra. Ở nhà chẳng có việc gì mấy, mà em thì cứ ngồi không ăn bám nên em mới đi biệt tích ba tháng trời.”

“Sắp tới em sẽ có khối việc để làm đấy, mình ạ, phải không em?”

“Ý anh là sao?”

“Thì đương nhiên rồi—những món đồ nhỏ xíu để chuẩn bị may vá chứ sao.”

“Ơ.”

“Khi nào thì đến ngày? Em không thể nói chính xác cho anh biết sao, cứ phải dùng mấy cái từ chung chung mãi thế?”

“Bảo anh á?”

“Ừ—ngày tháng cụ thể ấy.”

“Có gì mà kể đâu. Em nhầm rồi.”

“Gì cơ?”

“Đó là một sự nhầm lẫn.”

Anh ngồi bật dậy trên giường và nhìn chằm chằm vào cô. “Sao lại có chuyện đó được?”

“Đôi khi phụ nữ cũng tưởng tượng lung tung mà.”

“Nhưng—! Chà, rõ ràng là nếu không vì ngỡ ngàng như thế, chẳng có nổi một món đồ đạc trong nhà, đến một xu dính túi cũng không có, thì đời nào anh lại vội vàng giục giã chuyện cưới xin, rồi lôi em vào một cái lều tranh trang bị nham nhở trước khi anh sẵn sàng, nếu không phải vì cái tin em báo khiến anh buộc phải có trách nhiệm với em, dù sẵn sàng hay chưa… Lạy Chúa tôi!”

“Đừng có suy nghĩ quẩn quanh thế, anh yêu. Chuyện gì qua rồi thì cho qua đi.”

“Anh không còn gì để nói nữa!”

Anh thốt lên câu đó một cách cụt lủn rồi nằm xuống; và sự im lặng bao trùm giữa hai người.

Khi Jude tỉnh dậy vào sáng hôm sau, anh nhìn thế giới bằng một con mắt hoàn toàn khác. Về vấn đề đang tranh cãi, anh buộc phải chấp nhận lời cô; trong hoàn cảnh đó, anh không thể hành xử khác đi theo những chuẩn mực thông thường. Nhưng tại sao những chuẩn mực ấy lại ngự trị?

Anh bỗng thấy lờ mờ và mơ hồ rằng có điều gì đó sai trái trong một thứ quy chuẩn xã hội buộc người ta phải hủy bỏ những kế hoạch được hoạch định kỹ lưỡng kéo dài qua nhiều năm tháng suy ngẫm và lao động, phải từ bỏ cơ hội duy nhất trong đời để chứng tỏ bản thân vượt trội hơn loài vật, và để đóng góp những phần việc nhỏ bé của mình vào sự tiến bộ chung của thế hệ, chỉ vì sự bất ngờ nhất thời của một bản năng mới mẻ, thoáng qua, vốn chẳng hề mang bản chất của tội lỗi, mà tối đa chỉ có thể gọi là sự yếu mềm. Anh đâm ra thắc mắc xem bản thân mình đã làm gì, hay cô ấy mất mát gì cho cam, mà lại đáng bị vướng vào một cái bẫy có thể làm tê liệt cả anh, nếu không muốn nói là cả cô ấy nữa, trong suốt quãng đời còn lại? Có lẽ cũng có chút may mắn trong thực tế là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc hôn nhân của anh hóa ra lại không hề tồn tại. Thế nhưng cuộc hôn nhân thì vẫn còn nguyên đó.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.