Jude Kẻ Vô Danh

Lượt đọc: 321 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Bà cô già cự cựu và đầy cay đắng của Jude đang lâm bệnh nặng ở Marygreen, và vào Chủ nhật tuần tiếp theo, anh đã đến thăm bà — một chuyến đi vốn là kết quả của cuộc chiến đấu đầy cam go để dằn lại ý muốn rẽ sang ngôi làng Lumsdon, cốt để có một cuộc gặp gỡ não nề với người em họ, nơi mà từ ngữ gần gũi nhất trong tim anh không tài nào thốt lên được, và cảnh tượng từng đày đọa anh cũng chẳng thể phơi bày.

Bà cô giờ đây không thể rời khỏi giường, và phần lớn khoảng thời gian ngắn ngủi của Jude ở đó được dùng để sắp xếp mọi bề cho sự thoải mái của bà. Tiệm bánh nhỏ đã được sang nhượng cho một người hàng xóm, và với tiền bán tiệm cùng số tiền tiết kiệm của bà, bà được chu cấp đầy đủ những thứ thiết yếu và hơn thế nữa, có một người góa phụ cùng làng đang ở chung để chăm lo cho mọi nhu cầu của bà. Mãi cho đến khi thời gian anh phải rời đi đã cận kề, anh mới có được một phút trò chuyện yên tĩnh với bà, và lời lẽ của anh cứ vô tình hướng về phía người em họ.

– Sue sinh ra ở đây à?

– Đúng vậy — ngay trong căn phòng này. Hồi đó chúng nó ở đây. Sao mày lại hỏi thế?

– Ồ — con muốn biết vậy thôi.

– Hẳn là mày vừa gặp nó rồi chứ gì! – mụ già cay nghiệt lên tiếng. – Tao đã dặn mày thế nào hả?

– Dạ — là không được gặp nó.

– Mày có chuyện trò gì với nó không?

– Có ạ.

– Thế thì đừng có qua lại nữa. Nó được cha nó dạy cho cách căm ghét họ hàng bên ngoại; và nó sẽ chẳng màng ngó ngàng gì đến một tên thợ thuyền như mày đâu — một con nhỏ nhà quê ra thành thị bây giờ đã đổi khác rồi. Tao chưa bao giờ ưa gì nó cho lắm. Một con ranh xấc láo, lúc nào cũng thế, với cái hệ thần kinh căng như dây đàn. Không biết bao nhiêu lần tao đã tát cho nó vì cái tội hỗn xược. Này nhé, có lần khi nó đang lội xuống ao, bỏ cả giày lẫn vớ, vạt váy vén lên tận đầu gối, chưa kịp để tao la lên vì hổ thẹn, nó đã bảo: "Đi chỗ khác đi, thưa dì! Cảnh này không dành cho những con mắt đoan trang đâu!"

– Lúc đó nó còn là một đứa trẻ mà.

– Trẻ gì mà tròn mười hai tuổi.

– Vâng — đương nhiên rồi. Nhưng bây giờ lớn hơn, nó mang bản tính trầm ngâm, nhạy cảm, dịu dàng, và dễ tổn thương như thể...

– Jude! – bà cô thét lên, chồm dậy trên giường. – Mày đừng có mà dại dột vì nó!

– Không, không, đương nhiên là không rồi ạ.

– Việc mày cưới con đàn bà Arabella đó tệ hại chẳng kém gì những gì một người đàn ông có thể tự gây họa cho chính mình bằng mọi giá. Nhưng nó đã đi sang tận nửa vòng trái đất, và chắc chẳng bao giờ làm phiền mày nữa. Còn nếu mày, với cái thân phận bị trói buộc thế này, lại đem lòng tơ tưởng đến Sue thì mọi chuyện sẽ còn tồi tệ hơn gấp bội. Nếu con em họ đối xử lịch sự với mày, cứ coi sự lịch sự ấy đúng với giá trị của nó. Nhưng nếu mày còn trao cho nó bất cứ thứ gì vượt quá những lời chúc tốt đẹp của họ hàng thì đúng là điên rồ hết thuốc chữa. Nếu nó đã nhiễm hơi hướng thị thành và đỏng đảnh, nó có thể kéo mày đến bờ vực lụi bại đấy.

– Xin dì đừng nói gì chống lại cô ấy! Xin dì đừng!

Anh được giải tỏa phần nào khi người bạn đồng hành kiêm y tá của bà cô bước vào; hẳn là bà ta đã nghe lén câu chuyện, bởi bà liền cất lời bàn về những năm tháng cũ, nhắc đến Sue Bridehead như một nhân vật trong ký ức của mình. Bà miêu tả Sue từng là một cô nhóc kỳ quặc thế nào khi còn là học sinh ở ngôi trường làng bên kia bãi cỏ đối diện, trước khi cha con bé chuyển lên Luân Đôn — rằng khi thầy mục sư tổ chức những buổi đọc thơ và ngâm vịnh, con bé lại xuất hiện trên bục giảng, là người nhỏ con nhất trong tất cả, "trong bộ váy trắng nhỏ xinh, mang giày và thắt dải băng hồng"; rằng con bé đã ngâm những bài "Excelsior", "Có tiếng nhạc hoan ca trong đêm", và "Con quạ đen"; rằng trong lúc trình bày, con bé lại nhíu đôi mày nhỏ xíu, trừng mắt nhìn quanh một cách đầy kịch tính, rồi cất lời hướng về khoảng không vô định, tựa hồ như có một sinh linh bằng xương bằng thịt đang đứng đó:

Hỡi con quạ già ghê rợn, đáng sợ,

lang thang từ bờ cõi Đêm đen,

Hãy nói cho ta hay danh xưng cao quý của ngươi

trên bờ cõi Diêm vương của màn đêm!

– Nó diễn tả con chim xác chết gớm ghiếc ấy rành mạch đến mức ấy đấy, – người đàn bà ốm yếu miễn cưỡng hùa theo, – khi đứng đó với chiếc dải băng nhỏ và đủ thứ trang phục, khiến mày có cảm giác như trông thấy tận mắt con vật ấy ngay trước mặt. Mày hồi nhỏ cũng vậy thôi, hỡi Jude, cũng có cái tật hay tưởng tượng như nhìn thấy mọi thứ lơ lửng trong không trung.

Người hàng xóm cũng kể về những tài lẻ khác của Sue:

– Nó không hẳn là một đứa con gái nghịch ngợm đâu nhé; nhưng nó có thể làm những việc mà thông thường chỉ có con trai mới làm. Tao từng thấy nó xông vào và trượt dài trên váng băng ở cái ao đằng kia, mái tóc xoăn phấp phới trước gió, là một người trong hàng chục đứa di chuyển ngược chiều với bầu trời trông giống như những hình vẽ trên kính, rồi lao ngược lên dốc băng mà không hề dừng lại. Toàn là con trai chứ chẳng có ai ngoài nó; thế rồi chúng hò reo cổ vũ nó, và nó liền bảo: "Đừng có hỗn xược nhé, mấy tên con trai kia", rồi đột ngột chạy ù vào nhà. Bọn chúng cố nài nỉ nó ra chơi tiếp. Nhưng nó chẳng thèm bước ra.

Những ký ức hoài niệm về Sue ấy chỉ càng khiến Jude thêm đau khổ vì không thể ngỏ lời yêu đương, và ngày hôm đó, anh rời khỏi căn nhà tranh của bà cô với một cõi lòng nặng trĩu. Anh rất muốn ghé qua trường học để ngắm nhìn căn phòng nơi dáng hình nhỏ bé của Sue từng tỏa sáng rực rỡ biết bao; nhưng anh nén lại khao khát ấy và tiếp tục bước đi.

Bởi vì hôm ấy là tối Chủ nhật, nên một số dân làng từng biết anh thời thơ ấu đang tụ tập thành từng nhóm trong những bộ quần áo đẹp nhất. Jude giật mình khi nghe tiếng ai đó chào gọi:

– Thế là cu cậu đã đến tận nơi rồi đấy nhỉ!

Jude ngơ ngác tỏ ý không hiểu.

– Chứ sao nữa, đến cái nôi học vấn ấy — cái "Thành phố Ánh sáng" mà hồi nhỏ cậu vẫn thường hay kể cho chúng tôi nghe đấy! Nó có được như những gì cậu hằng mong đợi không?

– Có chứ; còn hơn thế nữa! – Jude thốt lên.

– Hồi tôi ghé qua đó một tiếng đồng hồ, phần mình thì tôi chẳng thấy có gì hay ho ở cái nơi ấy; toàn những tòa nhà cổ kính mục nát, nửa là nhà thờ, nửa là viện tế bần, và chẳng có mấy hoạt động diễn ra ở trỏng.

– Anh nhầm rồi, John ạ; có nhiều thứ đang diễn ra hơn là những gì đập vào mắt của một kẻ đi dạo qua các con phố. Đó là một trung tâm tư tưởng và tôn giáo độc nhất vô nhị — vựa lúa trí tuệ và tâm linh của đất nước này. Toàn bộ sự tĩnh lặng và vắng bóng các hoạt động ấy thực chất là sự bất động của chuyển động vô biên — là giấc ngủ của con quay đang quay tít, mượn lời so sánh của một nhà văn nổi tiếng.

– Ồ, thế thì tùy, có thể là vậy, mà cũng có thể không. Như tôi đã nói, tôi chẳng thấy gì trong tiếng rưỡi hay hai tiếng tôi ở đó; thế là tôi cứ bước vào quán làm một vại bia, một ổ bánh mì một xu, thêm nửa xu phô mai, rồi ngồi đợi đến giờ quay về nhà. Chắc bây giờ cậu cũng vào học ở một trường đại học rồi nhỉ?

– À, không! – Jude đáp. – Tôi vẫn còn cách xa điều đó lắm.

– Sao lại thế?

Jude vỗ đét vào túi áo.

– Đúng như chúng tôi nghĩ! Những nơi như thế đâu phải dành cho những kẻ như cậu — chỉ dành cho những ai có rủng rỉnh tiền bạc thôi.

– Anh lại nhầm rồi, – Jude nói với một chút cay đắng. – Chúng đích thị dành cho những con người như thế đấy!

Mặc dù vậy, lời nhận xét ấy cũng đủ để kéo Jude ra khỏi thế giới tưởng tượng mà anh hằng đắm chìm thời gian gần đây, nơi mà một hình bóng trừu tượng, ít nhiều chính là bản thân anh, đang đắm mình trong tinh hoa của nghệ thuật và khoa học, đồng thời nắm chắc tấm vé bước vào cõi thiên đường của giới bác học. Anh bị kéo trở lại để nhìn nhận viễn cảnh của mình dưới một ánh sáng lạnh lẽo miền bắc. Dạo gần đây anh cảm thấy mình vẫn chưa thực sự thông thạo tiếng Hy Lạp — đặc biệt là tiếng Hy Lạp của các nhà viết kịch. Đôi khi, sự mệt mỏi sau một ngày làm việc khiến anh không thể duy trì nổi sự tập trung mang tính phê phán vốn rất cần thiết cho việc học tập chuyên sâu. Anh cảm thấy mình đang cần một gia sư — một người bạn kề cận để có thể ngay lập tức giải đáp những điều đôi khi ngốn của anh cả tháng trời mệt mỏi mò mẫm trong những cuốn sách cùn mòn, chậm hiểu.

Rõ ràng là anh cần phải nhìn nhận thực tế một cách sát sao hơn thay vì mơ mộng như thời gian qua. Suy cho cùng, việc tiêu tốn những giờ rảnh rỗi cho một thứ công việc mơ hồ gọi là "tự học" mà chẳng màng tới tính thực tế thì có ích gì chứ?

– Lẽ ra mình phải nghĩ đến điều này từ trước mới phải, – anh tự nhủ trên đường trở về. – Thà rằng đừng bao giờ dấn thân vào cái kế hoạch ấy còn hơn là cứ lao vào mà chẳng thấy rõ mình đang đi đâu, hay đang nhắm tới mục tiêu nào... Cứ lảng vảng bên ngoài những bức tường đại học, ngóng chờ cánh tay nào đó vươn ra kéo mình vào trong, thì chẳng đi đến đâu cả! Mình phải tìm hiểu thông tin cụ thể thôi.

Thế là vào tuần tới, anh bắt đầu đi tìm kiếm. Cơ hội thoạt nhìn có vẻ xuất hiện vào một buổi chiều nọ khi anh nhìn thấy một quý ông lớn tuổi, người mà anh được chỉ cho biết là hiệu trưởng của một trường đại học nào đó, đang đi dạo trên lối đi công cộng trong một khu vườn giống như công viên gần nơi Jude tình cờ ngồi. Vị quý ông tiến lại gần hơn, và Jude lo lắng nhìn vào khuôn mặt ông. Trông ông có vẻ nhân từ, chu đáo, nhưng lại có phần kín đáo. Suy nghĩ lại, Jude thấy mình không thể đường đột đến bắt chuyện với ông; nhưng sự việc ấy cũng đủ tác động để anh nghĩ rằng sẽ khôn ngoan biết bao nếu anh viết thư giãi bày những khó khăn của mình cho một số bậc thầy đáng kính và sáng suốt nhất trong số những vị viện trưởng này, từ đó xin lời khuyên của họ.

Thế là trong suốt tuần đầu hoặc tuần thứ hai sau đó, anh tìm cách đứng ở những vị trí quanh thành phố sao cho có thể thoáng nhìn thấy một số vị có tiếng tăm nhất trong số các hiệu trưởng, quản thị, và những người đứng đầu các phân viện; và cuối cùng anh đã chọn ra năm vị mà tướng mạo cho anh thấy họ là những con người biết thấu hiểu và có tầm nhìn xa rộng. Anh đã viết thư cho năm vị này, tóm tắt ngắn gọn những khó khăn của mình và xin ý kiến của họ về hoàn cảnh bế tắc hiện tại.

Khi những bức thư đã được gửi đi, Jude bắt đầu tự phê phán chúng trong tâm tưởng; anh ước gì mình đừng gửi đi thì hơn. "Đó đúng là một trong những kiểu làm phiền xấc xược, vụ lợi và chen lấn vốn rất phổ biến trong thời đại này," anh nghĩ. "Sao mình lại thiếu khôn ngoan đến mức đi làm phiền những người hoàn toàn xa lạ theo cách đó cơ chứ? Biết đâu trong mắt họ, mình chỉ là một kẻ lừa đảo, một tên du thủ du thực lười biếng, một kẻ mang tiếng xấu... Biết đâu mình chính là kẻ như thế!"

Dẫu vậy, anh vẫn thấy mình bấu víu vào hy vọng về một hồi âm như là cơ hội cứu rỗi cuối cùng của cuộc đời. Anh chờ đợi hết ngày này sang ngày khác, tự nhủ rằng việc trông chờ là hoàn thế vô lý nhưng vẫn cứ ngóng trông. Trong lúc chờ đợi, anh bỗng bị xao động bởi tin tức về Phillotson. Phillotson đang từ bỏ ngôi trường gần Christminster để chuyển đến một ngôi trường lớn hơn ở phía nam, thuộc vùng Mid-Wessex. Điều này có nghĩa là gì; nó sẽ ảnh hưởng ra sao đến người em họ của anh; liệu có phải, như có vẻ là thế, đây là một bước đi thực tế của người thầy giáo nhằm kiếm thêm thu nhập để chuẩn bị lo cho hai người thay vì một mình anh ta, thì anh không cho phép mình đoán già đoán non nữa. Và mối quan hệ tình cảm dịu dàng giữa Phillotson với cô thiếu nữ mà Jude đang đem lòng say đắm đã khiến Jude thực sự thấy ghê tởm việc phải cậy nhờ Phillotson xin lời khuyên cho kế hoạch của chính mình.

Trong khi ấy, những vị chức sắc học uyên bác mà Jude viết thư đến vẫn không hề ban ơn cho một lời đáp nào, và chàng trai trẻ lại bị đẩy hoàn toàn về với thực tại đơn độc như trước, kèm theo nỗi u ám của một niềm hy vọng đang lụi tàn. Qua những lời thăm dò gián tiếp, anh sớm nhận thức rõ ràng điều mà bấy lâu nay anh vẫn hoang mang nghi kỵ, đó là việc đủ điều kiện ứng thí cho một số học bổng và trợ cấp công khai chính là con đường huy hoàng duy nhất. Nhưng để làm được điều này, anh sẽ cần rất nhiều sự kèm cặp của gia sư cùng năng lực thiên bẩm. Gần như là bất khả thi đối với một kẻ tự mày mò theo hệ thống của riêng mình, dù có uyên thâm và thấu đáo đến đâu, thậm chí trải qua khoảng thời gian kéo dài tới mười năm, lại có thể cạnh tranh được với những kẻ đã dành cả đời sống dưới sự kèm cặp của các giáo viên chuyên nghiệp và học tập theo những lề lối đã định sẵn.

Con đường còn lại, có thể gọi là tự bỏ tiền mua lấy một chân học tập, dường như là con đường duy nhất thực sự mở ra cho những kẻ như anh, chỉ có điều khó khăn lại mang thuần tính vật chất. Dựa trên những thông tin có được, anh bắt đầu tính toán mức độ của trở ngại vật chất này, và bàng hoàng nhận ra rằng, với tốc độ tích lũy tiền bạc trong điều kiện may mắn nhất, anh phải mất tới mười lăm năm mới có thể đủ khả năng nộp giấy chứng nhận thành tích lên cho hiệu trưởng một trường đại học và tiến tới kỳ thi tuyển sinh. Sứ mệnh ấy hoàn toàn vô vọng.

Anh nhận ra thứ ánh hào quang kỳ lạ và xảo quyệt mà chốn này đã trùm lên anh. Đến đó và sinh sống ở đó, len lỏi giữa những nhà thờ và hội trường để thấm nhuần cái hồn của xứ sở, từng có vẻ đối với tuổi trẻ mộng mơ của anh — khi chốn ấy phô bày vẻ quyến rũ qua lớp hào quang trên đường chân trời — là một điều hiển nhiên và lý tưởng phải làm. "Giá mà mình đặt chân được đến đó," anh từng tự nhủ với sự ngớ ngẩn của Robinson Crusoe bên chiếc thuyền lớn của ông ta, "thì phần còn lại chỉ là vấn đề thời gian và nghị lực." Sẽ tốt hơn cho anh biết bao về mọi mặt nếu anh chưa từng đặt chân đến tầm mắt hay tầm tai của cái vùng đất đầy ảo ảnh ấy, nếu anh cứ đến một thành phố thương mại bận rộn nào đó với mục đích duy nhất là kiếm tiền bằng trí óc của mình, rồi từ đó nhìn nhận lại kế hoạch của bản thân dưới một góc độ thực tế. Chà, tất cả những gì rõ mười mươi đối với anh lúc này chính là: toàn bộ kế hoạch đã vỡ tung, hệt như một bong bóng xà phòng ngũ sắc dưới cái chạm của sự soi xét lý trí. Anh nhìn lại chính mình qua khoảng không gian của những năm tháng đã qua, và suy nghĩ của anh bỗng đồng điệu với Heine:

Trên đôi mắt đầy cảm hứng và rực sáng của người thanh niên,

Ta thấy chiếc mũ hề sặc sỡ nhô lên chế nhạo!

May thay, anh đã không để nỗi thất vọng của mình dằn vặt cuộc đời Sue yêu dấu bằng cách kéo cô vào sự sụp đổ này. Và những chi tiết đau đớn khi anh bừng tỉnh trước những giới hạn của bản thân giờ đây nên được giấu kín với cô chừng nào hay chừng ấy. Suy cho cùng, cô chỉ biết một phần nhỏ bé trong cuộc chiến đấu khốc liệt mà anh đã dấn thân vào khi chẳng có lấy một tấc sắt trong tay, nghèo khó và thiếu tầm nhìn xa.

Anh mãi khắc ghi hình ảnh của buổi chiều hôm ấy, khi anh bừng tỉnh khỏi giấc mộng của mình. Không biết phải làm gì với bản thân, anh đi lên một căn phòng bát giác nằm trên ngọn tháp của một nhà hát được xây dựng theo lối kiến trúc độc đáo tọa lạc giữa lòng thành phố cổ kính này. Căn phòng có những ô cửa sổ bao quanh, từ đó có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ thị trấn cùng các kiến trúc nơi đây. Ánh mắt Jude lướt qua mọi khung cảnh nối tiếp nhau, đầy vẻ trầm ngâm, đau đớn nhưng kiên định. Những tòa nhà ấy cùng với các di sản và đặc quyền của chúng không dành cho anh. Từ mái nhà sừng sững của thư viện lớn — nơi mà anh hiếm hoi lắm mới có thời gian bước chân vào — ánh mắt anh dịch chuyển sang những ngọn tháp chuông muôn hình vạn trạng, các hội trường, đầu hồi nhà, đường phố, nhà nguyện, khu vườn, khoảng sân vuông, những thứ hợp thành tổng thể của bức tranh toàn cảnh vô song này. Anh nhận ra định mệnh của mình không nằm ở những chốn ấy, mà thuộc về những người lao động thủ công trong khu ổ chuột tồi tàn nơi chính anh đang trú ngụ, chẳng hề được những du khách và kẻ ca tụng xem là một phần của thành phố, thế nhưng nếu thiếu đi những con người ấy thì những kẻ mọt sách kia chẳng thể học hành nổi và những bậc trí thức cao sang cũng chẳng thể tồn tại.

Anh nhìn qua thị trấn hướng về vùng nông thôn phía xa, tới những hàng cây che chở cho người con gái mà sự hiện diện từng là điểm tựa cho trái tim anh, và sự ra đi của nàng giờ đây lại là nỗi tra tấn đến phát điên. Nếu không vì đòn giáng này, có lẽ anh đã có thể nhẫn nhục chịu đựng số phận của mình. Nếu có Sue bầu bạn, anh có thể từ bỏ tham vọng với một nụ cười. Vắng bóng nàng, phản ứng tâm lý từ sự căng thẳng kéo dài mà anh tự áp đặt lên bản thân chắc chắn sẽ giáng cho anh những đòn tàn khốc. Phillotson chắc chắn cũng từng trải qua nỗi thất vọng trí tuệ tương tự như thứ đang bủa vây anh lúc này. Thế nhưng thầy giáo ấy từ lâu đã được ban ơn với sự an ủi từ Sue ngọt ngào, trong khi với anh thì chẳng có lấy một chỗ dựa tinh thần.

Lê bước xuống những con phố, anh thẫn thờ đi mãi cho đến khi đến một quán trọ và bước vào. Tại đây, anh uống liền mấy vại bia trong chớp mắt, và khi bước ra thì trời đã tối hẳn. Dưới ánh đèn chập chờn, anh lủi thủi đi bộ về nhà để ăn tối, và vừa ngồi vào bàn chưa lâu thì bà chủ nhà mang lên một bức thư vừa mới gửi đến. Bà đặt nó xuống với vẻ mặt như thể ý thức được tầm quan trọng của nó, và khi nhìn vào, Jude nhận ra trên thư có đóng nổi con dấu của một trong những trường đại học mà anh từng gửi thư cho vị hiệu trưởng. – Cuối cùng thì cũng có một nơi đáp lời! – Jude kêu lên.

Bức thư thật ngắn gọn, và không hẳn là những gì anh đã mong đợi; dù rằng nó thực sự đến từ chính vị viện trưởng. Thư viết:

TRƯỜNG BIBLIOLL.

THƯA ÔNG, — Tôi đã đọc thư của ông với sự quan tâm; và, đánh giá qua lời mô tả của ông rằng mình là một người lao động, tôi mạn phép cho rằng ông sẽ có cơ hội thành công trong cuộc đời cao hơn nhiều nếu tiếp tục ở lại trong địa vị của mình và bám lấy nghề nghiệp thay vì theo đuổi bất kỳ con đường nào khác. Do đó, đó chính là điều tôi khuyên ông nên làm. Trân trọng,

T. TETUPHENAY.

Gửi Ông J. FAWLEY, Thợ đẽo đá.

Lời khuyên mang tính thực tế đến gai người ấy khiến Jude nổi giận. Anh đã biết tuốt những điều đó từ trước. Anh biết nó là sự thật. Thế nhưng nó vẫn tựa như một cái tát trời giáng sau mười năm ròng rã lao động, và tác động của nó lúc này khiến anh bất chấp đứng phắt dậy khỏi bàn, thay vì đọc sách như thường lệ, anh đi thẳng xuống lầu ra phố. Anh đứng bên quầy bar nốc liền hai ba ly, rồi vô thức lang thang cho đến khi đến một nơi gọi là Ngã Tư (The Fourways) ngay giữa lòng thành phố, ngẩn ngơ nhìn những nhóm người qua lại như kẻ mộng du, cho đến khi hoàn hồn, anh bắt đầu trò chuyện với viên cảnh sát đang đứng trực ở đó.

Viên cảnh sát ngáp dài, dang rộng hai cuỏn tay, kiễng chân lên thêm một tấc rưỡi, mỉm cười, và nhìn Jude với vẻ hài hước rồi cất lời: – Cậu say mèm rồi đấy, chàng trai trẻ.

– Đâu có; tôi mới chỉ bắt đầu thôi mà, – anh đáp lại một cách đầy cay độc.

Dù có say xỉn đi chăng nữa, bộ óc của anh vẫn còn đủ tỉnh táo. Anh chỉ nghe lỏm bõm những lời nói tiếp theo của viên cảnh sát, bởi anh đã chìm đắm vào suy nghĩ về những con người khốn khổ giống như anh từng đứng ở ngã tư này, những người mà giờ đây chẳng ai còn mài giũa tâm trí nhớ đến nữa. Nơi này mang bề dày lịch sử hơn cả ngôi trường cổ nhất trong thành phố. Nó đích thực ngập tràn, chồng chất những lớp lang bóng hình của những kiếp người từng tụ họp nơi đây vì bi kịch, hỷ kịch, kịch hề; những tấn trò đời có thật mang sức nặng tột cùng. Tại Ngã Tứ này, biết bao người từng đứng bàn tán về Napoleon, về thất bại ở châu Mỹ, về vụ hành quyết Vua Charles, về ngọn lửa thiêu các Thánh Tử đạo, các cuộc Thập tự chinh, cuộc xâm lược của người Norman, và rất có thể là cả sự kiện Julius Caesar đặt chân đến. Nơi đây, hai giới từng gặp gỡ để yêu đương, hận thù, kết đôi, chia ly; từng ngóng trông, từng đau khổ vì nhau; từng chiến thắng lẫn nhau; từng nguyền rủa nhau trong ghen tuông, ban phước cho nhau trong sự thứ tha.

Anh bắt đầu nhận ra rằng cuộc sống chốn thị thành chính là một cuốn sách về nhân thế vô cùng sống động, phong phú và súc tích hơn vạn lần so với cuộc sống trong tà áo choàng học thuật. Những con người đang vật lộn trước mắt anh mới chính là linh hồn thực sự của Christminster, dẫu rằng họ chẳng biết gì mấy về Đấng Christ hay Nhà thờ lớn (Minster). Đó chính là một trong những sự trớ trêu của tạo hóa. Tầng lớp sinh viên và giáo viên trôi nổi kia, dẫu có cách nào đó biết rõ về cả hai, thì xét về phương diện địa phương, họ hoàn toàn chẳng dính dáng gì đến Christminster cả.

Anh nhìn đồng hồ, và với ý nghĩ đó, anh tiếp tục bước đi cho đến khi tới một phòng hòa nhạc công cộng, nơi một buổi biểu diễn ca nhạc ngoài trời đang diễn ra. Jude bước vào và thấy căn phòng đông nghịt những nam nữ thanh niên làm cửa hàng, lính trát, thợ học việc, những cậu bé mười một tuổi phét phì phèo thuốc lá, cùng những phụ nữ buông thả thuộc tầng lớp đứng đắn và bán chuyên nghiệp hơn. Anh đã chạm tay vào cuộc sống Christminster đích thực. Ban nhạc đang trổi lên khúc nhạc, dòng người đi lại va vào nhau, và chốc chốc lại có một người bước lên bục cất tiếng hát một bài hài kịch.

Bóng hình của Sue dường như đang lảng vảng quanh anh, ngăn cản anh không tán tỉnh và uống rượu với những cô nàng vui tính đang tìm cách mẻo méo — khao khát tìm kiếm một chút niềm vui. Đến mười giờ, anh rời đi, chọn một lối đi vòng vèo để ngang qua cổng của ngôi trường mà vị hiệu trưởng vừa gửi cho anh bức thư.

Cổng trường đã khép chặt, và do một phút bốc đồng, anh rút từ trong túi ra cục phấn mà một người thợ thường mang theo bên mình, rồi viết lên bức tường:

“Ta cũng có sự hiểu biết như các ngươi; ta chẳng thua kém gì các ngươi: kìa, nào ai chẳng biết những điều ấy?” — Gióp xii. 3.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.