Lần toan tính thứ hai của họ diễn ra thận trọng hơn, dù nó được khởi xướng ngay vào buổi sáng ngày hôm sau khi đứa trẻ kỳ lạ kia đến nhà họ.
Họ nhận thấy cậu bé có thói quen ngồi lặng thím, gương mặt kỳ quặc và đượm vẻ hoang dại đờ đẫn, đôi mắt hướng về những thứ mà người ta không thể thấy được trong thế giới thực tại này.
“Khuôn mặt con bé giống như chiếc mặt nạ bi thương của Melpomene,” Sue nói. “Tên con là gì, cục cưng? Con đã kể cho chúng ta nghe chưa?”
“Mọi người vẫn luôn gọi con là Cha Nhỏ Thời Gian. Đó chỉ là biệt danh thôi ạ; vì họ bảo con trông già trước tuổi.”
“Và cách con nói chuyện cũng vậy,” Sue dịu dàng bảo. “Thật lạ lùng, Jude, khi những đứa trẻ già dặn trước tuổi này hầu như luôn xuất hiện từ những vùng đất mới. Nhưng tên khai sinh của con là gì?”
“Con chưa từng có.”
“Tại sao lại thế?”
“Bởi vì, nếu con chết trong sự đọa đày, thì làm vậy sẽ đỡ tốn kém cho một đám tang theo đạo Thiên Chúa.”
“Ồ—vậy tên con không phải là Jude ư?” người cha nói với một chút thất vọng.
Cậu bé lắc đầu. “Chưa hề nghe tới bao giờ ạ.”
“Tất nhiên là thế rồi,” Sue nhanh chóng nói; “vì mụ ta vốn căm ghét con bé suốt quãng thời gian ấy mà!”
“Chúng ta sẽ làm lễ rửa tội cho thằng bé,” Jude nói; và thì thầm riêng với Sue: “Vào ngày chúng ta kết hôn.” Dẫu vậy, sự xuất hiện của đứa trẻ vẫn khiến anh ít nhiều bận tâm.
Hoàn cảnh khiến họ đâm ra e thẹn, và vì có ấn tượng rằng kết hôn tại văn phòng đăng ký hộ tịch sẽ kín đáo hơn là ở nhà thờ, họ quyết định lần này sẽ tránh chốn linh thiêng ấy. Cả Sue và Jude cùng nhau đến văn phòng của quận để nộp thông báo: họ đã trở nên gắn bó đến mức khó lòng có thể làm việc gì quan trọng nếu không có người kia đồng hành.
Jude Fawley ký vào tờ giấy thông báo, Sue đứng nhìn qua vai anh và theo dõi bàn tay anh đang nét bút đưa đẩy từng chữ. Khi cô đọc bản cam kết vuông vức, thứ mà cô chưa từng thấy trước đây, nơi có tên của chính cô và Jude được lồng vào, và qua đó bản chất vô cùng bay bổng chính là tình yêu họ dành cho nhau được cho là sẽ trở nên vĩnh cửu, gương mặt cô bỗng mang vẻ lo âu đến đau thắt. “Tên và Họ của các Bên”—(họ sắp trở thành những “bên tham gia” chứ không phải người tình, cô nghĩ thế). “Tình trạng”—(một ý niệm thật kinh khủng)—“Cấp bậc hoặc Nghề nghiệp”—“Tuổi”—“Nơi cư trú”—“Thời gian cư trú”—“Nhà thờ hoặc Tòa nhà nơi Hôn lễ được cử hành”—“Quận và Hạt nơi các Bên cư trú tương ứng.”
“Nó làm hỏng cả cảm xúc, phải không anh!” cô nói trên đường về nhà. “Nó có vẻ còn biến mọi thứ thành một thương vụ trần tục hơn cả việc ký hợp đồng trong phòng mặc áo lễ của nhà thờ. Ở nhà thờ ít ra vẫn còn chút thi vị. Nhưng thôi, dẫu sao chúng ta cũng cố gắng vượt qua nó nhé, anh yêu.”
“Anh sẽ thế. ‘Hỡi người nào đã đính ước với một người vợ mà chưa cưới nàng? Hãy đi và trở về nhà mình, kẻo chết trong trận chiến, và người khác sẽ cưới nàng.’ Nhà lập pháp người Do Thái đã nói thế đấy.”
“Sao anh rành Kinh Thánh thế, Jude! Anh thực sự nên làm một mục sư mới phải. Em thì chỉ toàn dẫn lời mấy nhà văn thế tục!”
Trong khoảng thời gian chờ giấy chứng nhận được cấp, Sue trong những lần đi chợ thỉnh thoảng lại đi ngang qua văn phòng, và len lén nhìn vào tấm bảng dán trên tường thông báo về buổi lễ sắp sửa gắn kết cuộc đời họ. Cô không sao chịu đựng nổi hình ảnh đó. Trải qua những cay đắng trong hôn nhân trước đây, toàn bộ sự lãng mạn trong mối gắn kết của họ dường như bị bóp nghẹt đến tàn lụi khi đặt hoàn cảnh hiện tại của cô vào chung một chiếc giỏ ấy. Cô thường dắt theo bé Cha Nhỏ Thời Gian bên mình, và tưởng tượng rằng thiên hạ nghĩ nó là con cô, rồi nhìn nhận buổi lễ sắp tới chỉ là sự chắp vá cho một sai lầm trong quá khứ.
Trong khi đó, Jude quyết định kết nối hiện tại với quá khứ bằng cách mời đến dự đám cưới người duy nhất còn sống trên cõi đời này có liên quan đến thời thơ ấu của anh ở Marygreen—bà góa phụ Edlin lớn tuổi, người từng là bạn và là điều dưỡng chăm sóc người cô quá cố của anh trong cơn trọng bệnh cuối đời. Anh vốn chẳng kỳ vọng bà sẽ đến; thế nhưng bà lại xuất hiện, mang theo những món quà kỳ lạ gồm táo, mứt, cái kéo dập nến bằng đồng, một chiếc đĩa thiếc cổ, một cái lò sưởi ấm giường, và một bao lông ngỗng khổng lồ để làm gối chăn. Bà được sắp xếp ở phòng trống trong nhà Jude, nơi bà lui về nghỉ ngơi từ sớm, và ở đó họ có thể nghe tiếng bà vọng qua trần nhà từ tầng dưới, đang thành kính đọc kinh Lạy Cha với âm giọng vang to đúng theo chỉ dẫn của Sách Nghi Lễ.
Tuy nhiên, vì không tài nào chợp mắt được và phát hiện ra Sue cùng Jude vẫn còn thức—thực ra lúc đó mới chỉ có mười giờ—bà liền mặc quần áo tử tế rồi đi xuống, và tất cả cùng quây quần bên lò sưởi cho đến tận khuya—cả bé Cha Nhỏ Thời Gian nữa; dẫu rằng, vì nó chẳng bao giờ hé răng nửa lời, họ hầu như chẳng mảy may để ý đến sự hiện diện của nó.
“Này, tao thì không hề chống đối chuyện kết hôn như bà cô của mày đâu,” bà góa phụ nói. “Và tao mong lần này sẽ là một đám cưới vui vẻ cho tụi mày về mọi mặt. Chẳng ai mong điều đó hơn tao, khi biết rõ về gia đình tụi mày, mà chắc là rành hơn bất kỳ ai còn sống trên đời này lúc bốc. Vì nhà tụi mày xưa nay vốn lận đận đường đó, Chúa mới biết được.”
Sue thở dốc đầy bất an.
“Họ vốn cũng là những người tốt bụng—có biết gì cũng chẳng nỡ giết một con ruồi,” vị khách dự đám cưới tiếp lời. “Nhưng mọi chuyện cứ trớ trêu chống lại họ, và hễ có điều gì không vừa ý là họ lại suy sụp. Chắc chắn đó là lý do vì sao kẻ mà người ta hay kể chuyện lại đi làm cái điều đó—nếu như hắn đúng là người trong họ hàng nhà tụi mày.”
“Chuyện gì vậy ạ?” Jude hỏi.
“À—cái câu chuyện đó đấy, tụi mày biết không; cái kẻ bị treo cổ trên cái gò ngay sát đỉnh đồi gần Ngôi Nhà Nâu—cách cột mốc giữa Marygreen và Alfredston không xa, chỗ con đường khác rẽ nhánh ấy. Nhưng lạy Chúa, chuyện đó xảy ra từ thời ông ngoại tao cơ; và biết đâu hắn chẳng phải họ hàng gì của tụi mày.”
“Con biết rất rõ cái nơi người ta đồn là cái giá treo cổ từng đứng,” Jude lẩm bẩm. “Nhưng con chưa từng nghe chuyện này. Cái gì—giao điểm nào đã khiến người đàn ông này—tổ tiên của con và Sue—giết vợ mình vậy ạ?”
“Không hẳn thế đâu. Mụ vợ đã bỏ trốn khỏi hắn, mang theo đứa con về nhà họ hàng; và trong thời gian mụ ở đó thì đứa trẻ qua đời. Hắn muốn lấy lại thi thể để chôn cất nơi mồ mả tổ tiên dòng họ, nhưng mụ nhất định không chịu giao. Người chồng liền nửa đêm đánh xe đến, đột nhập vào nhà để trộm chiếc quan tài; nhưng hắn đã bị bắt quả tính, và vì cứng đầu nên chẳng chịu khai lý do đột nhập. Họ khép hắn vào tội ăn trộm đêm, và đó là lý do hắn bị treo cổ trên Đồi Ngôi Nhà Nâu. Vợ hắn đã phát điên sau khi hắn chết. Nhưng biết đâu hắn chẳng dính dáng gì đến tụi mày nhiều hơn là đến tao.”
Một giọng nói nhỏ nhẹ và chậm rãi cất lên từ bóng râm bên lò sưởi, tựa hồ phát ra từ lòng đất: “Nếu con là mẹ, con sẽ không cưới bố đâu!” Âm thanh đó phát ra từ bé Thời Gian, khiến họ giật mình thon thót vì đã quên bẵng sự hiện diện của nó.
“Ôi, đó chỉ là chuyện kể thôi mà,” Sue lên tiếng trấn an.
Sau câu chuyện truyền miệng đầy phấn chấn từ người góa phụ vào cái đêm trước ngày làm lễ thành hôn, họ đứng dậy, chúc người khách ngủ ngon rồi lui về phòng.
Sáng hôm sau Sue, người mà sự căng thẳng thần kinh ngày càng dâng cao theo từng giờ, bèn kéo riêng Jude vào phòng khách trước khi khởi hành. “Jude, em muốn anh hôn em, như một người tình, theo cách phi vật chất,” cô nói, run rẩy nép sát vào người anh với hàng mi đẫm ướt. “Sẽ không bao giờ còn có thể như thế này nữa phải không anh? Em ước gì chúng ta đã không bắt đầu việc này. Nhưng chắc là chúng ta phải tiếp tục thôi. Câu chuyện tối qua mới kinh khủng làm sao! Nó làm hỏng hết những suy nghĩ của em về ngày hôm nay. Nó khiến em có cảm giác như một định mệnh bi thảm đang bao trùm lấy gia đình chúng ta, giống như gia tộc Atreus thuở nào vậy.”
“Hoặc gia tộc Jeroboam,” cựu sinh viên thần học tiếp lời.
“Đúng vậy. Và việc hai chúng ta liều lĩnh đi kết hôn thật là một sự táo bạo tột cùng! Em sắp sửa thề nguyền với anh bằng chính những lời em từng thề với người chồng trước, và anh cũng thề với em bằng những lời anh từng dùng với người vợ trước của mình; chẳng màng đến bài học răn đe cay đắng mà những cuộc thử nghiệm đó đã dạy cho chúng ta!”
“Nếu em cảm thấy bất an thì anh cũng chẳng thể vui nổi,” anh đáp. “Anh đã hy vọng em sẽ cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng nếu em không thấy vậy, thì đành chịu vậy thôi. Giả vờ cũng chẳng ích gì. Đó là một việc ảm đạm đối với em, và điều đó khiến nó cũng trở nên ảm đạm đối với anh!”
“Nó gợi nhớ một cách khó chịu về cái buổi sáng hôm đó—chỉ vậy thôi,” cô lẩm bẩm. “Giờ thì chúng ta đi thôi.”
Họ bắt đầu lên đường, tay trong tay hướng về văn phòng đã nhắc đến, chẳng có nhân chứng nào đi cùng ngoại trừ bà góa phụ Edlin. Tiết trời lạnh lẽo và ảm đạm, một màn sương ẩm ướt thổi thốc qua thị trấn từ dòng “Thame thâm nghiêm lầu các”. Trên bậc thềm văn phòng hằn rõ những vết chân dính bùn của những kẻ vừa bước vào, và ở lối vào là những chiếc ô còn đẫm nước. Bên trong văn phòng, vài người đang tụ tập, và cặp đôi của chúng ta nhận ra một đám cưới giữa một người lính và một cô gái trẻ đang diễn ra. Sue, Jude và bà góa phụ đứng nép ở phía sau trong lúc mọi việc đang diễn ra, Sue đảo mắt đọc những thông báo kết hôn dán trên tường. Căn phòng quả là một nơi ảm đạm đối với hai con người mang tâm hồn nhạy cảm như họ, dù với những vị khách thường lui tới đây thì nó có lẽ quá đỗi bình thường. Những cuốn sách luật bọc da bê cũ mốc phủ kín một bức tường, và xung quanh là sách hướng dẫn bưu điện cùng các tài liệu tra cứu khác. Những chồng tài liệu được cột bằng dải băng đỏ xếp kín trong các ngăn hộc tường, vài chiếc tủ sắt chiếm trọn một góc khuất, trong khi sàn gỗ mộc mạc cũng giống như bậc thềm cửa, hằn đầy vết bẩn của những vị khách đến trước.
Người lính tỏ ra cau có và miễn cưỡng: cô dâu buồn bã và rụt rè; trông cô rõ ràng sắp sửa làm mẹ đến nơi, và mắt cô bị thâm tím một bên. Việc nhỏ của họ nhanh chóng xong xuôi, rồi đôi uyên ương cùng bạn bè lục đục kéo ra ngoài, một trong những người nhân chứng tiện miệng nói vơ vào với Jude và Sue khi đi ngang qua, như thể anh ta từng quen biết họ từ trước: “Thấy cặp đôi vừa bước vào đó chứ? Ha, ha! Thắng bé đó vừa mới ra tù sáng nay đấy. Cô ta ra tận cổng tù đón hắn và kéo thẳng đến đây. Mọi chi phí một tay cô ta lo hết đấy.”
Sue quay đầu lại và nhìn thấy một tên đàn ông có tướng mạo khó coi, tóc cắt ngắn sát da đầu, đi bên cạnh là một người phụ nữ mặt béo, rỗ hoa, má ửng đỏ vì hơi men và vì sự mãn nguyện khi sắp đạt được ước muốn. Họ cười cợt chào cặp đôi vừa đi ra, rồi tiến lên phía trước Jude và Sue, những người đang ngày càng cảm thấy ngượng ngùng lúng túng. Sue lùi lại và quay sang người tình, miệng mím lại giống như một đứa trẻ sắp khóc oà:
“Jude—em không thích ở đây chút nào! Em ước gì chúng ta đã không tới đây! Nơi này khiến em nổi da gà: nó có vẻ thật phi tự nhiên khi là cao trào cho tình yêu của chúng ta! Em ước gì lễ cưới diễn ra ở nhà thờ, dẫu có phải làm thế đi nữa. Ở đó không đến nỗi trần tục thế này!”
“Cô bé ngoan của anh,” Jude nói. “Trông em mới bơ phờ và lo lắng làm sao!”
“Chắc là bây giờ phải tiến hành ở đây thôi phải không anh?”
“Không—chắc gì đã bắt buộc phải thế.”
Anh đến nói chuyện với nhân viên văn phòng, rồi quay lại. “Không—chúng ta không cần phải kết hôn ở đây hay bất cứ đâu nếu không thích, ngay cả lúc này,” anh nói. “Anh nghĩ chúng ta có thể làm lễ ở nhà thờ, nếu không dùng được tờ giấy chứng nhận này thì dùng tờ khác do ông ấy cấp. Dù sao đi nữa, hãy ra ngoài cho đến khi em bình tĩnh lại đã, em yêu, anh cũng thế, rồi chúng ta sẽ bàn bạc kỹ hơn.”
Họ lủi thủi bước ra ngoài như thể vừa phạm tội gì, khép cửa lại thật khẽ khàng và dặn bà góa phụ—người vẫn ở lại phòng ngoài—cứ về nhà trước chờ họ; rằng họ sẽ gọi những người qua đường bất kỳ làm nhân chứng nếu cần thiết. Ra đến đường lớn, họ rẽ vào một con hẻm nhỏ vắng vẻ, cứ thế đi qua đi lại giống như cách họ từng làm từ lâu ở khu chợ ở Melchester.
“Nào, cục cưng, chúng ta nên làm gì đây? Anh thấy chúng ta đang làm mọi thứ rối tung lên rồi đấy. Dù sao đi nữa, điều gì làm em hài lòng cũng sẽ làm anh hài lòng.”
“Nhưng Jude yêu dấu, em đang làm anh phiền lòng đấy chứ! Anh đã muốn làm lễ ở đó cơ mà, phải không?”
“À, nói thật với em nhé, khi bước vào trong đó, anh bỗng thấy mình chẳng còn mặn mà gì nữa. Nơi đó làm anh nản lòng chẳng kém gì em—nó thật xấu xí. Và rồi anh nghĩ đến những điều em đã nói sáng nay về việc liệu chúng ta có nên làm thế không.”
Họ cứ thế lang thang bước đi vô định, cho đến khi cô khựng lại, và giọng nói nhỏ nhẹ của cô lại cất lên: “Lại dao động thế này thật là yếu đuối quá phải không anh! Thế mà còn đỡ hơn là hành động liều lĩnh một lần thảm hại nữa… Cảnh tượng vừa rồi mới kinh khủng làm sao đối với em! Biểu cảm trên khuôn mặt của người phụ nữ nhão nhoét thịt thà kia, khi dắt díu nhau đi để hiến dâng cuộc đời mình cho gã tù tội ấy, không phải chỉ vài giờ, mà là cả một đời người, như mụ buộc phải thế. Và tội nghiệp cho tâm hồn khốn khổ kia—để trốn chạy một sự hổ thẹn danh nghĩa vốn xuất phát từ tính cách yếu đuối của bản thân, mụ tự hạ thấp mình xuống thành nỗi nhục nhã thực sự khi làm nô lệ cho một kẻ bạo chúa khinh miệt mụ—một kẻ mà việc vĩnh viễn tránh xa hắn là cơ hội duy nhất để cứu rỗi cuộc đời mụ… Đây là nhà thờ giáo xứ của chúng ta phải không anh? Đây là nơi mọi thứ sẽ phải diễn ra, nếu chúng ta làm theo lối thông thường nhỉ? Có vẻ như đang có buổi lễ hay thứ gì đó diễn ra bên trong kìa.”
Jude bước đến và ngó vào bên trong cửa. “Ôi—ở đây cũng đang có đám cưới,” anh nói. “Hôm nay hình như ai cũng có chung ý tưởng với chúng ta.”
Sue bảo cô đoán là do mùa Chay vừa kết thúc, khoảng thời gian mà lúc nào cũng có đông các cặp đôi kết hôn. “Hãy vào nghe thử xem,” cô nói, “và xem cảm giác sẽ ra sao nếu nó được cử hành trong một nhà thờ.”
Họ bước vào, chọn một hàng ghế phía sau và theo dõi buổi lễ ở khu vực cung thánh. Cặp đôi đang làm lễ trông có vẻ thuộc tầng lớp trung lưu khá giả, và đám cưới nhìn chung mang vẻ đẹp đẽ và thú vị thông thường. Ngay từ khoảng cách ấy, họ vẫn có thể thấy những đóa hoa trên tay cô dâu run rẩy, và nghe được tiếng lẩm bẩm theo thói quen những lời thề mà bộ não cô dâu dường như chẳng hề tiếp thu nổi dưới áp lực của sự tự ý thức. Sue và Jude lắng nghe, và từng người bọn họ như nhìn thấy chính mình trong quá khứ cũng đang trải qua nghi thức tự ràng buộc tương tự.
“Nó không giống với cô ấy đâu, tội nghiệp chưa, nếu so với việc em làm lại điều đó với sự hiểu biết hiện tại của mình,” Sue thì thầm. “Anh thấy đấy, họ còn bỡ ngỡ với nó, và coi các thủ tục như một điều hiển nhiên. Nhưng khi đã nhận thức được sự trang nghiêm tột cùng của nó như chúng ta, hay ít nhất là như em, qua trải nghiệm thực tế, và có lẽ đôi khi cả sự nhạy cảm thái quá của bản thân, em thực sự cảm thấy thật vô luồng khi cứ nhắm mắt làm ngơ mà dấn thân vào cùng một việc đó một lần nữa. Bước vào đây và tận mắt chứng kiến cảnh này đã khiến em sợ hãi một đám cưới nhà thờ chẳng kém gì việc đăng ký kết hôn kia… Chúng ta là một cặp đôi yếu đuối, run rẩy, Jude ạ, và những gì người khác có thể cảm thấy tự tin thì em lại đầy hoài nghi—liệu em có đủ sức chống lại những điều kiện thực dụng của một hợp đồng thương mại một lần nữa hay không!”
Rồi họ cố bật cười, và tiếp tục tranh luận thì thầm về bài học thực tế bày ra trước mắt. Và Jude nói anh cũng nghĩ rằng cả hai quá da mỏng thịt mềm—rằng lẽ ra họ không nên sinh ra trên đời—chứ đừng nói đến chuyện đến với nhau trong cái liên minh kỳ quặc nhất dành cho họ—hôn nhân.
Người vợ đính hôn rùng mình; và thiết tha hỏi anh liệu anh có thực sự cảm nhận rằng họ không nên đầu óc tỉnh táo mà bước chân đi ký kết bản án chung thân ấy một lần nữa không? “Thật kinh khủng nếu anh nghĩ rằng chúng ta thấy mình không đủ sức cho việc đó, và dẫu biết rõ điều đó mà vẫn định thề dối trá,” cô nói.
“Anh nghĩ là anh có cảm giác đó—nếu em đã hỏi,” Jude đáp. “Hãy nhớ rằng anh sẽ làm nếu em muốn, cục cưng của anh ạ.” Trong lúc cô còn đang lưỡng lự, anh nói tiếp lời thú nhận rằng, dù anh nghĩ lẽ ra họ phải có khả năng làm được, nhưng anh lại bị chùn bước bởi nỗi sợ bất tài y hệt như cô—có lẽ do những đặc tính riêng biệt của họ, vì họ không giống những người khác. “Chúng ta quá ư nhạy cảm; đó mới thực sự là vấn đề của chúng ta, Sue à!” anh tuyên bố.
“Em cứ nghĩ có nhiều kẻ giống chúng ta hơn chúng ta tưởng chứ!”
“Thì, anh cũng chẳng rõ. Ý nghĩa của bản hợp đồng vốn dĩ rất tốt đẹp, và chắc chắn là đúng đắn với nhiều người; nhưng trong trường hợp của chúng ta, nó có thể phản tác dụng bởi vì chúng ta là kiểu người lập dị—những kẻ mà các mối ràng buộc gia đình theo kiểu ép buộc sẽ bóp nghẹt sự niềm nở và tính tự phát.”
Sue vẫn cho rằng họ chẳng có gì quá kỳ quặc hay khác thường: rằng ai cũng thế cả thôi. “Mọi người dần đều có cảm giác giống chúng ta. Chúng ta đi trước thời đại một chút, thế thôi. Trong năm mươi, một trăm năm nữa, con cháu của hai con người kia sẽ hành động và cảm nhận còn tệ hơn chúng ta. Chúng ta sẽ thấy nhân loại chìm trong hỗn độn còn rõ mồn một hơn bây giờ, như
Những hình bóng tựa như chính chúng ta bị nhân lên một cách ghê rợn,
và chúng sẽ sợ hãi chẳng dám sinh sôi nảy nở chúng ra nữa.”
“Đúng là một câu thơ thật ám ảnh! … dẫu đôi khi chính anh cũng cảm nhận được điều đó về đồng loại của mình vào những lúc tâm trạng u ám.”
Họ cứ thế thì thầm mãi, cho đến khi Sue vui vẻ hơn và nói:
“Thôi thì—vấn đề chung đó không phải chuyện của chúng ta, và việc gì chúng ta phải tự hành hạ mình vì nó cơ chứ? Dù lý do của chúng ta có khác biệt thế nào đi nữa, chúng ta vẫn đi đến cùng một kết luận: rằng đối với riêng hai đứa mình, một lời thề không thể rút lại là một điều rủi ro. Vậy thì, Jude, chúng ta hãy về nhà mà không bóp nghẹt giấc mơ của mình nhé! Được chứ? Anh mới tốt làm sao, bạn của em ạ: anh lúc nào cũng nhượng bộ mọi thứ nhảm nhí của em!”
“Chúng rất phù hợp với suy nghĩ của anh mà.”
Anh trao cô một nụ hôn nhẹ phía sau một cây cột trong lúc sự chú ý của mọi người có mặt đang dồn vào việc quan sát đoàn người dự đám cưới bước vào phòng áo lễ; rồi họ bước ra ngoài tòa nhà. Cạnh cửa ra vào, họ đứng chờ cho đến khi hai ba cỗ xe ngựa vốn vừa rời đi một lát quay trở lại, và cô dâu chú rể mới bước ra ánh sáng ban ngày. Sue thở dài.
“Những đóa hoa trên tay cô dâu trông buồn bã làm sao, hệt như vòng hoa trang hoàng cho những con bò cái mang đi tế thần thời xưa vậy!”
“Dẫu vậy, Sue ạ, điều đó đối với người phụ nữ cũng chẳng tồi tệ hơn đối với đàn ông là mấy. Đó là điều mà một số phụ nữ không chịu nhìn nhận, và thay vì phản đối các điều kiện áp đặt, họ lại đi phản đối người đàn ông, kẻ cũng là nạn nhân khốn khổ khác; giống như một người phụ nữ giữa đám đông sẽ mắng mỏ gã đàn ông chen chúc vào cô ta, trong khi hắn chỉ là kẻ bất lực truyền tải sức ép đè nặng lên mình.”
“Đúng vậy—một số người là thế đấy, thay vì cùng người đàn ông đoàn kết chống lại kẻ thù chung là sự ép buộc.” Cô dâu và chú rể lúc này đã lên xe phóng đi, và hai người họ tản ra cùng với những kẻ rảnh rỗi khác. “Không—chúng ta đừng làm thế,” cô nói tiếp. “Ít nhất là, vào lúc này.”
Họ về đến nhà, đi ngang qua cửa sổ và thấy bà góa phụ đang ngóng ra nhìn họ. “Nào,” vị khách của họ kêu lên khi họ bước vào, “lúc thấy tụi mày tay trong tay tình tứ bước tới cửa, tao tự nhủ trong lòng ‘Cuối cùng thì tụi nó cũng quyết định xong xuôi rồi đấy chứ!’”
Họ ngập ngừng hé lộ rằng họ vẫn chưa làm thế.
“Cái gì—và tụi mày vẫn chưa thực sự làm thế ư? Lạy Chúa tôi, không ngờ tao lại sống để chứng kiến một câu nói hay ho ông cha để lại như ‘cưới vội vã, hối hận thảnh thơi’ lại bị tụi mày làm cho hỏng bét thế này! Đã đến lúc tao phải quay về Marygreen rồi—thề có Chúa nếu không phải thế—nếu đây là những gì mà trào lưu mới đang dẫn dắt chúng ta đến! Thời của tao chẳng ai thèm sợ hãi chuyện hôn nhân, hay bận tâm điều gì ngoài quả đại bác hay cái tủ lạnh ngắt! Hồi tao và người chồng tội nghiệp của tao cưới nhau, tụi tao coi nó nhẹ tựa như một ván chơi bi vậy!”
“Đừng kể cho thằng bé nghe khi nó vào nhé,” Sue lo lắng thì thầm. “Nó sẽ tưởng mọi chuyện đã xuôi chẻo đâu vào đấy, và tốt hơn hết là nó không nên ngạc nhiên hay bối rối. Tất nhiên là mọi chuyện chỉ tạm hoãn để suy nghĩ lại thôi mà. Nếu chúng ta hạnh phúc với hiện tại, thì điều đó có gì quan trọng với bất kỳ ai chứ?”