Trong khi ấy, một người đàn ông trung niên đang chìm đắm trong những mộng tưởng tốt đẹp xoay quanh tác giả của bức thư trên. Đó chính là Richard Phillotson, người vừa chuyển từ ngôi trường làng pha trộn ở Lumsdon gần Christminster đến để nhận làm hiệu trưởng một trường nam sinh lớn tại quê nhà Shaston, một thị trấn tọa lạc trên đỉnh đồi cách đó sáu mươi dặm tính theo đường chim bay về phía tây nam.
Chỉ cần thoáng nhìn qua nơi này và các vùng phụ cận là đủ để nhận ra rằng những kế hoạch và mộng tưởng bấy lâu nay của thầy giáo đã bị bỏ lại phía sau, nhường chỗ cho một giấc mơ mới chẳng có mấy điểm chung với Giáo hội hay văn học. Vốn là một người thiếu thực tế, giờ đây anh lại quyết tâm kiếm và dành dụm tiền cho một mục đích vô cùng thiết thực: nuôi một người vợ. Nếu muốn, cô ấy có thể quản lý một trong những trường nữ sinh nằm liền kề trường của anh; và vì lý do đó, anh đã khuyên cô nên đi học nghề giáo, bởi cô không chịu kết hôn với anh ngay lập tức.
Khoảng thời gian Jude rời Marygreen để đến Melchester và bắt đầu những cuộc phiêu lưu tại nơi đó cùng Sue, thì thầy giáo cũng đang ổn định cuộc sống tại ngôi nhà công vụ mới ở Shaston. Khi toàn bộ đồ đạc đã được kê đâu vào đấy, sách lên kệ và tranh ảnh đã đóng đinh xong xuôi, anh bắt đầu ngồi trong phòng khách vào những đêm đông lạnh giá để nghiên cứu lại một số đề tài quen thuộc trước kia. Một trong số đó là lĩnh vực cổ vật La Mã - Anh, một công việc chẳng mang lại lợi ích kinh tế là bao đối với một giáo viên trường làng, nhưng lại là đề tài khiến anh vô cùng hứng thú sau khi từ bỏ ý định vào đại học. Anh xem đây như một mỏ vàng chưa ai khai thác tới, rất thích hợp cho những ai từng sống ở những chốn thâm sơn cùng cốc nơi các di tích ấy xuất hiện nhan nhãn như anh, và chắc chắn chúng sẽ dẫn đến những kết luận đi ngược lại một cách đầy kinh ngạc so với các quan điểm thông thường về nền văn minh thời bấy giờ.
Việc nối lại công cuộc nghiên cứu này chính là sở thích bề nổi dễ nhận thấy của Phillotson lúc bấy giờ — đồng thời là cái cớ công khai để anh một mình dấn bước vào những cánh đồng ngập tràn đường lộ cổ, hào lũy và các gò mồ mả, hoặc tự giam mình trong nhà bên cạnh vài chiếc vò, mảnh ngói và tranh khảm mà anh thu lượm được, thay vì đi thăm hỏi những người hàng xóm mới vốn đang tỏ ra vô cùng niềm nở và sẵn sàng kết thân với anh. Thế nhưng, xét cho cùng, đó không phải là lý do thực sự, hay ít ra cũng không phải là tất cả lý do.
Do đó, vào một buổi tối nọ trong tháng, khi trời đã khuya khoắt — thực chất là gần nửa đêm — và ánh đèn từ cửa sổ căn phòng anh, nằm ở góc nhô ra của thị trấn trên đỉnh đồi, chiếu rọi qua vô vàn dặm thung lũng về hướng tây, gợi lên hình ảnh một con người và chốn không gian hoàn toàn dành cho việc học hành, thì thực ra anh lại chẳng hề học hành gì sô.
Khung cảnh bên trong căn phòng — từ những cuốn sách, đồ đạc, chiếc áo khoác rộng thùng thình của thầy giáo, tư thế ngồi bên bàn, cho đến ngọn lửa đangập sừng — đều phảng phất câu chuyện đầy trang nghiêm về một sự miệt mài nghiên cứu không bị phân tâm, điều này quả thực rất đáng nể đối với một người chẳng có sự hậu thuận nào ngoài những nỗ lực của chính bản thân. Thế nhưng câu chuyện ấy, dẫu từng hoàn toàn đúng đắn cho đến tận gần đây, thì giờ đây lại không còn đúng nữa. Thứ mà anh đang ngắm nhìn hoàn toàn chẳng phải là lịch sử. Đó chỉ là những ghi chép lịch sử, được viết bằng nét chữ cứng cáp của phụ nữ theo lời đọc của anh từ vài tháng trước, và chính những dòng chữ mang âm hưởng giáo sĩ cứ lặp đi lặp lại hết từ này đến từ khác mới là thứ đang hấp dẫn tâm trí anh.
Chẳng bao lâu sau, anh lấy từ trong ngăn kéo ra một bọc thư được cột dây cẩn thận, số lượng ít ỏi, rất ít ỏi nếu so với tiêu chuẩn thư từ thời nay. Mỗi bức thư vẫn nằm nguyên trong phong bì y như lúc mới gửi tới, và nét chữ bên trong cũng mang dáng dấp nữ tính hệt như những trang ghi chép lịch sử kia. Anh lần lượt mở từng bức ra và trầm ngâm đọc lại. Thoạt nhìn, những văn bản nhỏ bé này dường như chẳng có lấy một điều gì đáng để bận tâm suy ngẫm. Chúng là những bức thư thẳng thắn, bộc trực, được ký tên “Sue B—”; hệt như những dòng hồi âm được viết trong những chuyến đi xa ngắn ngày, chẳng mang theo dụng ý nào khác ngoài việc sẽ sớm bị xé bỏ, và chủ yếu bàn về những cuốn sách đang đọc cùng những trải nghiệm khác tại trường sư phạm — những điều mà chắc hẳn người viết đã quên béng ngay khi ngày viết vừa trôi qua. Trong một bức thư — một mảnh giấy ghi chú khá gần đây — cô gái trẻ cho biết cô đã nhận được lá thư ân cần của anh, rằng việc anh nói sẽ không đến thăm cô thường xuyên hơn mức cô mong muốn là một hành động cao thượng và hào phóng (vì ngôi trường là một nơi quá bất tiện cho khách khứa ghé thăm, và bởi vì cô có nguyện vọng mãnh liệt là chuyện đính hôn giữa hai người không được để lộ, điều mà chắc chắn sẽ xảy ra nếu anh đến thăm cô quá thường xuyên). Thầy hiệu trưởng cứ ngấu nghiến đọc đi đọc lại những câu chữ ấy. Rõ ràng là sự biết ơn của một người phụ nữ vì người đàn ông yêu cô đã không đến thăm cô quá thường xuyên thì mang một sắc thái thỏa mãn chính xác đến mức nào cơ chứ? Vấn đề ấy cứ đeo bám và làm rối bời tâm trí anh.
Anh mở một ngăn kéo khác, tìm thấy bên trong một chiếc phong bì, từ đó rút ra bức ảnh chụp Sue khi còn là một đứa trẻ, từ rất lâu trước khi anh quen biết cô, đang đứng dưới giàn hoa với chiếc giỏ nhỏ trên tay. Lại có một bức ảnh khác chụp cô khi đã là một thiếu nữ, đôi mắt và mái tóc tối màu tạo nên một bức chân dung vô cùng rõ nét và thu hút, đồng thời cũng phảng phất nét trầm tư ẩn giấu đằng sau những khoảnh khắc vui tươi thường ngày. Đó là một bản sao của bức ảnh mà cô từng tặng cho Jude, và cô cũng sẵn sàng trao nó cho bất kỳ người đàn ông nào khác. Phillotson đưa bức ảnh lên gần sát môi, nhưng rồi lại ngập ngừng hạ xuống bởi những lời lẽ khó hiểu của cô; cuối cùng, anh đặt lên mảnh bìa cứng đã nguội lạnh ấy một nụ hôn tràn đầy niềm đam mê, thậm chí còn thiết tha hơn cả sự tận tụy của một chàng trai tuổi mười tám.
Gương mặt của thầy hiệu trưởng trông có vẻ kém khỏe khoắn và lỗi thời, lại càng trở nên cổ lỗ hơn bởi kiểu cạo râu của anh. Nét tao nhã bẩm sinh thoáng hiện trên gương mặt ấy phảng phất mong muốn thầm kín là luôn đối xử đúng đắn với tất cả mọi người. Giọng nói của anh hơi chậm rãi, nhưng sự chân thành trong từng âm điệu đã biến sự ngập ngừng ấy trở thành một nét duyên chứ không phải khuyết điểm. Mái tóc ngả màu hoa râm của anh xoăn tít, tỏa ra từ một điểm chính giữa đỉnh đầu. Trán anhằn lên bốn nếp nhăn, và anh chỉ đeo kính khi đọc sách vào ban đêm. Gần như chắc chắn rằng chính sự từ khước do mục đích học thuật buộc phải tuân theo, chứ không phải ác cảm với phụ nữ, mới là điều bấy lâu nay ngăn cản anh tiến tới hôn nhân với một bóng hồng nào đó.
Những khoảnh khắc trầm mặc như buổi tối hôm nay đã lặp đi lặp lại rất nhiều lần vào những lúc anh không phải chịu đựng ánh mắt dò xét của lũ trẻ — thứ ánh mắt nhanh nhạy và sắc bén ấy thường khiến vị thầy giáo đầy tự ý thức cảm thấy gần như không thể chịu nổi trong cơn bận tâm lo lắng hiện tại dành cho Sue, khiến anh, vào những giờ phút xám xịt buổi sớm mai, lại cảm thấy sợ hãi khi phải đối mặt với những tia nhìn sắc như dao cau ấy, sợ rằng chúng sẽ đọc được giấc mơ đang cuộn trào trong lòng anh.
Anh đã tôn trọng và đồng ý với mong muốn mà Sue từng bày tỏ rằng anh không nên đến thăm cô thường xuyên ở trường sư phạm; nhưng cuối cùng, khi sự kiên nhẫn đã bị thử thách đến cùng cực, anh quyết định lên đường vào một buổi chiều thứ Bảy để đến thăm cô một cách bất ngờ. Tại đó, tin tức về việc cô rời trường — suýt chút nữa thì có thể coi là bị đuổi học — đã ập đến với anh một cách đột ngột không một lời báo trước hay giảm nhẹ, ngay khi anh đang đứng trước cửa và chỉ vài phút nữa thôi là được chiêm ngưỡng gương mặt cô; và khi quay lưng bước đi, anh hầu như chẳng thể nhìn rõ nổi con đường trước mặt mình.
Thực chất, Sue chưa từng viết dù chỉ một dòng cho vị hôn của mình về sự việc ấy, mặc dù nó đã xảy ra được mười bốn ngày. Chỉ cần ngẫm nghĩ một lát là anh hiểu ra điều này chẳng có gì lạ, sự tế nhị tự nhiên vốn dĩ là lý do chính đáng chẳng kém gì bất kỳ mức độ lỗi lầm nào để giữ im lặng.
Họ đã chỉ dẫn cho anh biết nơi Sue đang sinh sống, và vì không phải quá lo lắng ngay lập tức cho sự thoải mái của cô, suy nghĩ của Phillotson liền chuyển hướng thành nỗi căm phẫn sục sôi nhắm vào ban quản lý trường sư phạm. Trong cơn hoang mang tột độ, Phillotson bước vào ngôi nhà thờ lớn bên cạnh, nơi lúc này đang trong tình trạng đổ nát nghiêm trọng do việc trùng tu. Anh ngồi xuống một khối đá dăm, chẳng màng đến lớp bụi bẩn bám lên chiếc quần dài của mình; và khi ánh mắt thờ thẫn của anh dõi theo những chuyển động của tốp thợ xây, anh bất ngờ nhận ra thủ phạm đang bị đồn đại, người tình của Sue là Jude, cũng có mặt trong số họ.
Jude chưa từng nói chuyện với người từng là thần tượng của mình kể từ buổi gặp gỡ bên mô hình Jerusalem. Do vô tình chứng kiến màn tán tỉnh dò dặt của Phillotson dành cho Sue ở con hẻm hôm đó, trong tâm trí chàng trai trẻ đã nảy sinh một sự chán ghét kỳ lạ mỗi khi phải nghĩ đến người đàn ông lớn tuổi, phải gặp mặt hay liên lạc với ông ta bằng bất cứ hình thức nào; và kể từ khi chuyện Phillotson thành công trong việc giành được ít nhất là lời hứa hẹn của Sue lọt đến tai Jude, anh đã thẳng thắn nhận ra rằng mình không hề muốn nhìn thấy hay nghe ngóng bất cứ điều gì về người đàn ông lớn tuổi ấy nữa, chẳng muốn tìm hiểu về các công trình nghiên cứu của ông, hay thậm chí là tưởng tượng lại những đức tính tốt đẹp có thể tồn tại trong con người ông. Ngay vào đúng ngày thầy hiệu trưởng ghé thăm, Jude đang mong đợi Sue đến theo đúng lời hứa; thế nên khi nhìn thấy thầy giáo xuất hiện ở gian giữa nhà thờ, lại còn thấy ông đang tiến về phía mình, anh không khỏi cảm thấy vô cùng lúng túng — điều mà sự bối rối của chính Phillotson đã che khuất đi khiến ông không nhận ra.
Jude tiến lại chào anh, và cả hai cùng rời khỏi chỗ những người thợ khác để đến góc mà Phillotson vừa ngồi. Jude đưa cho anh một miếng vải bố để lót ngồi, đồng thời nhắc nhở rằng ngồi trực tiếp trên khối đá trần rất nguy hiểm.
“Vâng; vâng,” Phillotson ngẩn ngơ đáp lời, đoạn ngồi xuống lại, đôi mắt dán chặt xuống mặt đất như thể đang cố gắng nhớ xem mình đang ở đâu. “Tôi sẽ không giữ cậu lâu đâu. Chẳng qua là tôi nghe nói dạo gần đây cậu đã gặp gỡ cô bạn nhỏ Sue của tôi. Vì lý do đó nên tôi chợt nghĩ đến việc đến nói chuyện với cậu. Tôi chỉ muốn hỏi thăm... về cô ấy thôi.”
Jude vội vã lên tiếng: “Tôi nghĩ là mình biết chuyện gì rồi! Chuyện cô ấy trốn khỏi trường sư phạm và đến tìm tôi phải không?”
“Đúng vậy.”
“Ừ thì...” — trong khoảnh khắc, Jude chợt nảy sinh một ý định tàn độc và bất lương là tiêu diệt tình địch bằng mọi giá. Bằng cách lợi dụng sự phản bội mà tình yêu dành cho cùng một người phụ nữ có thể gây ra cho cả những người đàn ông vốn đàng hoàng nhất trong mọi mối quan hệ khác của cuộc sống, anh hoàn toàn có thể khiến Phillotson ra về trong sự đau đớn và thất bại bằng cách khẳng định rằng lời đồn đại kia là sự thật, và rằng Sue đã thực sự trót nhúng chàm với anh. Thế nhưng hành động của anh lại không hề hưởng ứng theo bản năng thú tính ấy; và những gì anh thốt ra lại là: “Tôi rất mừng vì sự tử tế của cậu khi đã đến đây để trò chuyện thẳng thắn với tôi về chuyện này. Cậu có biết người ta đang đồn đại những gì không? Rằng tôi phải cưới cô ấy.”
“Cái gì!”
“Và tôi ước gì bằng tất cả tâm hồn mình rằng tôi có thể làm được điều đó!”
Phillotson run lên bần bật, và gương mặt vốn dĩ đã nhợt nhạt của ông bỗng hằn lên những đường nét sắc lạnh tựa thây ma. “Tôi hoàn toàn không ngờ sự việc lại đến nông nỗi này! Xin Chúa đừng để điều đó xảy ra!”
Jude hốt hoảng nói: “Không, không! Tôi tưởng là anh đã hiểu chứ? Ý tôi là nếu tôi đang ở trong hoàn cảnh có thể kết hôn với cô ấy, hoặc với một ai đó, và yên bề gia thất, thay vì cứ sống cảnh trọ trác nay đây mai đó thế này, thì tôi sẽ rất hạnh phúc biết bao!”
Điều mà anh thực sự muốn nói chỉ đơn giản là anh yêu cô.
“Nhưng... vì chuyện đau lòng này đã bị khơi rào ra rồi — thực sự thì chuyện gì đã xảy ra vậy?” Phillotson gặng hỏi, với sự cứng rắn của một người nhận thức rõ rằng chịu đựng một nỗi đau nhói ngay lúc này vẫn hơn là cứ chìm đắm trong chuỗi ngày hoang mang ngập tràn giằng xé về sau. “Sẽ có những tình huống phát sinh, và đây chính là một trong số đó, khi mà ngay cả những câu hỏi bất nhã cũng buộc phải thốt ra để dập tắt mọi suy đoán sai lầm và dẹp yên tai tiếng.”
Jude liền giải thích một cách rành mạch, thuật lại toàn bộ chuỗi sự kiện, bao gồm đêm ở nhà người canh cừu, cảnh cô ướt sũng bước vào phòng trọ của anh, cơn cảm lạnh do ngâm nước mưa, đêm thức trắng cùng nhau thảo luận, và việc anh tiễn cô lên đường vào sáng hôm sau.
Phillotson cất lời kết luận: “Được rồi, tôi xin ghi nhận đây là lời khẳng định cuối cùng của cậu, và tôi biết mình có thể tin tưởng cậu, rằng sự nghi ngờ dẫn đến việc cô ấy bị đình chỉ học hoàn toàn là một điều vô căn cứ phải không?”
Jude trang trọng đáp: “Đúng vậy. Hoàn toàn vô căn cứ. Xin Chúa chứng giám cho tôi!”
Thầy hiệu trưởng đứng dậy. Cả hai đều cảm thấy cuộc gặp gỡ này không thể kết thúc một cách thoải mái bằng một buổi bàn luận thân tình về những trải nghiệm vừa qua như những người bạn bình thường; và sau khi Jude đưa ông đi một vòng để giới thiệu vài nét trong công cuộc trùng tu ngôi nhà thờ cổ, Phillotson liền chào từ giã chàng trai trẻ rồi bước đi.
Cuộc gặp gỡ này diễn ra vào khoảng mười một giờ sáng; thế nhưng chẳng thấy bóng dáng Sue đâu cả. Khi Jude đi ăn trưa lúc một giờ, anh nhìn thấy người thương của mình đang đi phía trước trên con đường dẫn lên từ Cổng Bắc, bước đi cứ như thể cô hoàn toàn không hề tìm kiếm anh. Nhanh chóng đuổi kịp cô, anh liền nhắc nhở rằng anh từng dặn cô đến gặp mình ở nhà thờ, và cô đã hứa sẽ đến.
“Em vừa mới đến trường cao đẳng để lấy đồ đạc của mình,” cô đáp — một câu nói mà anh buộc phải hiểu như câu trả lời, dẫu thực chất nó chẳng phải vậy. Nhận thấy tâm trạng né tránh này của cô, anh cảm thấy muốn tiết lộ cho cô biết thông tin bấy lâu nay vẫn bị giấu kín.
Anh liều lĩnh hỏi: “Hôm nay em chưa gặp ông Phillotson phải không?”
“Em chưa. Nhưng em không đời nào chịu để anh tra khảo về ông ấy đâu; và nếu anh còn gặng hỏi thêm điều gì nữa, em sẽ không thèm trả lời nữa đấy!”
“Thật là kỳ lạ khi mà...” Anh khựng lại, đăm đăm ngắm nhìn cô.
“Gì cơ?”
“Rằng ngoài đời thực trông em thường không dễ thương bằng trong những bức thư!”
Cô mỉm cười với vẻ tò mò đầy phấn khích và nói: “Thế cơ à? Trông có vẻ thật lạ lùng nhỉ; nhưng em cũng có cảm giác y hệt như vậy đối với anh đấy, Jude. Mỗi khi anh rời đi, trông anh có vẻ lạnh lùng làm sao...”
Do thấu hiểu tình cảm mà cô dành cho mình, Jude nhận ra họ đang dấn bước vào một vùng đất hiểm nguy. Anh thầm nghĩ, đây chính là lúc bản thân phải lên tiếng như một người đàn ông thành thật.
Thế nhưng anh vẫn giữ im lặng, và cô tiếp tục nói: “Chính vì điều đó nên em mới viết thư và bảo rằng... em không phiền khi anh yêu em đâu — nếu như anh muốn!”
Niềm hân hoan mà lẽ ra anh có thể cảm nhận được từ ngụ ý ấy, hay dường như là ngụ ý ấy, đã hoàn toàn tiêu tan bởi chính dự định trong lòng, và anh đứng như trời trồng cho đến khi cất lời: “Anh chưa bao giờ kể với em...”
Cô lẩm bẩm: “Rồi, anh kể rồi còn gì.”
“Ý anh là, anh chưa bao giờ kể cho em nghe về quá khứ của mình... toàn bộ câu chuyện cơ.”
“Nhưng em đoán được mà. Em biết gần hết rồi.”
Jude ngẩng đầu lên. Liệu có khi nào cô biết về cái buổi sáng khốn khổ cùng Arabella đó không? Vụ việc mà chỉ vài tháng sau đã tan vỡ triệt để hơn cả cái chết. Anh nhận ra là cô không hề biết.
Anh ảm đạm tiếp lời: “Anh không thể kể hết cho em nghe ngay giữa đường thế này được. Và tốt nhất là em đừng đến phòng trọ của anh. Chúng ta vào trong này đi.”
Tòa nhà mà họ đang đứng chính là chợ trung tâm; đó là nơi duy nhất khả dụng lúc bấy giờ, thế là họ bước vào khi chợ đã tan, các sạp hàng và khoảng sân đều trống hoác. Anh vốn muốn tìm một chốn nên thơ hơn, thế nhưng ngặt nỗi, giống như bao nhiêu lần khác, thay vì một khung cảnh lãng mạn hay một giáo đường trang nghiêm để giãi bày tâm sự, câu chuyện lại được kể trong lúc họ đi qua đi lại trên phần sàn nhà ngập tràn những chiếc lá bắp cải mục nát, giữa muôn vàn vẻ nhếch nhác quen thuộc của rau củ hỏng và thứ phế phẩm chẳng ai mua. Anh bắt đầu và kết thúc câu chuyện ngắn ngủi của mình, vốn chỉ dẫn đến sự thật rằng anh đã kết hôn từ vài năm trước, và người vợ ấy vẫn còn đang sống. Gần như trước cả khi gương mặt cô kịp biến sắc, những từ ngữ đã thốt lên vội vã:
“Tại sao anh không nói với em từ trước!”
“Anh không thể. Nói ra thật quá tàn nhẫn.”
“Với chính anh ấy hả, Jude. Thế nên anh thà chọn cách tàn nhẫn với em thì hơn!”
“Không đâu, em yêu dấu!” Jude thiết tha kêu lên. Anh cố nắm lấy bàn tay cô, nhưng cô đã rụt phắt lại. Mối quan hệ thân mật gắn bó ngày nào dường như vụt tắt, để lại sự đối kháng giữa hai giới mà không có bất kỳ thứ tình cảm mến mộ nào dung hòa nổi. Cô không còn là người đồng hành, là bạn, là người tình giấu mặt của anh nữa; và ánh mắt cô nhìn anh chứa đựng sự xa cách trong thinh lặng.
Anh tiếp tục: “Anh đã từng rất hổ thẹn về phân đoạn cuộc đời mình dẫn đến cuộc hôn nhân đó. Bây giờ anh không thể giải thích cặn kẽ được đâu. Lẽ ra anh đã có thể làm điều đó nếu em đón nhận nó theo một cách khác!”
Cô bật khóc nức nở: “Nhưng sao em có thể cơ chứ? Nơi này đây, em đã từng nói, hoặc viết rằng... rằng anh có thể yêu em, hay đại loại thế!... chỉ vì lòng trắc ẩn thôi — và trong suốt thời gian qua... ôi chao, mọi chuyện trên đời này mới khốn nạn làm sao!” Cô nói, dậm mạnh chân trong một cơn run rẩy vì căng thẳng.
“Sue, em hiểu lầm anh rồi! Cho đến tận gần đây, anh chưa từng nghĩ là em quan tâm đến anh chút nào, thế nên anh cảm thấy điều đó chẳng có gì quan trọng! Thế em có quan tâm đến anh không, Sue?... em hiểu ý anh muốn nói gì mà đúng không? Anh hoàn toàn không thích kiểu 'vì lòng trắc ẩn' tẹo nào đâu!”
Trước hoàn cảnh ấy, đó là một câu hỏi mà Sue chọn cách không trả lời.
Cô nhanh nhảu hỏi ngược lại: “Chắc là cô ta... vợ anh... là một người phụ nữ rất xinh đẹp, dẫu cho cô ta có độc ác đi chăng nữa nhỉ?”
“Cô ấy cũng đủ xinh, nếu xét về mặt đó.”
“Chắc chắn là xinh hơn em rồi!”
“Hai người chẳng có điểm gì giống nhau cả. Và đã nhiều năm rồi anh không gặp lại cô ấy... Nhưng chắc chắn cô ta sẽ quay lại thôi — bọn họ lúc nào chẳng thế!”
Sue nói, với cái môi run rẩy và cổ họng nghẹn ngào hoàn toàn phản lại cái giọng điệu mỉa mai của cô: “Thật là lạ lùng khi anh lại cứ sống xa cách cô ta như thế đấy! Một người đàn ông sùng đạo như anh cơ mà. Sau chuyện này thì những vị á thần trong Điện thờ của anh — ý anh là những nhân vật huyền thoại mà anh gọi là các vị thánh — sẽ cầu thay nguyện giúp cho anh kiểu gì đây? Nhỡ mà em làm ra một chuyện như thế thì mọi chuyện đã khác rồi, và cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, bởi ít ra em đâu có coi hôn nhân là một bí tích. Những lý thuyết của anh chẳng hề tiên tiến bằng thực tế hành xử của anh chút nào!”
“Sue, những lúc muốn cay nghiệt thì em sắc sảo khủng khiếp — chẳng khác nào một Voltaire đích thực! Nhưng em muốn đối xử với anh thế nào cũng được!”
Khi nhận ra anh đang đau khổ đến nhường nào, lòng cô chợt mềm lại, và cố chớp mắt để giấu đi những giọt nước mắt đồng cảm, cô cất lời với tất cả vẻ hờn dỗi đầy quyến rũ của một người phụ nữ bị tổn thương tâm hồn: “Ái chà... lẽ ra anh phải nói cho em biết trước khi gieo vào đầu em cái ý nghĩ rằng anh muốn được phép yêu em chứ! Khoảnh khắc ở ga tàu đó, trước lúc ấy em chẳng hề có chút tình cảm nào ngoại trừ...” Trái tim Sue lúc này cũng khốn khổ chẳng kém gì anh, trong nỗ lực cố gắng giữ cho bản thân không bị chi phối bởi cảm xúc, dẫu cho cô chỉ đạt được chưa đầy một nửa thành công.
Anh nài nỉ: “Đừng khóc nữa, em yêu!”
“Em... em không khóc vì em định... yêu anh; mà là vì sự thiếu... tin tưởng của anh!”
Họ được che chắn hoàn toàn khỏi quảng trường chợ bên ngoài, và anh không thể kìm được việc vươn tay ôm lấy eo cô. Khao khát thoáng qua ấy chính là chiếc phao cứu sinh giúp cô lấy lại tinh thần. Cô lùi lại dứt khoát và lau nước mắt, rồi nói: “Không, không! Chắc chắn là không rồi! Sẽ là đạo đức giả nếu cứ vờ như cái ôm ấy mang ý nghĩa của một người họ hàng; và nó cũng chẳng thể mang ý nghĩa nào khác được nữa.”
Họ bước đi thêm chục bước chân, và cô tỏ ra đã lấy lại bình tĩnh. Điều đó khiến Jude vô cùng bối rối, và trái tim anh sẽ đỡ quặn thắt hơn biết bao nếu cô cư xử theo bất kỳ cách nào khác thay vì cách cô đang thể hiện; dẫu cho sau khi suy ngẫm, cô vẫn bộc lộ bản tính khoáng đạt và hào hiệp cốt lõi, dẫu trước đó vừa mới bộc phát những tâm trạng hờn dỗi mang tính bản năng đàn bà cần có để làm nên nữ tính của cô.
Cô mỉm cười nói: “Em không trách anh vì những chuyện mà anh không thể kiểm soát được. Sao em lại ngốc nghếch thế cơ chứ? Em chỉ trách anh một chút xíu thôi vì đã không nói cho em biết từ trước. Nhưng suy cho cùng, điều đó cũng chẳng quan trọng nữa. Cả hai chúng ta vốn dĩ vẫn phải giữ khoảng cách với nhau thôi, anh thấy đấy, ngay cả khi chuyện này không hề xuất hiện trong cuộc đời anh.”
“Không đâu, Sue! Đây mới chính là chướng ngại vật duy nhất.”
Sue mang vẻ thâm trầm dịu dàng không để lộ suy nghĩ trong đầu, đáp: “Anh quên mất rằng em hẳn vẫn sẽ yêu anh, và vẫn muốn trở thành vợ anh, ngay cả khi chẳng có bất kỳ chướng ngại nào tồn tại. Hơn nữa, chúng ta lại là họ hàng, và việc họ hàng kết hôn với nhau là điều không tốt. Và... em đã đính ước với người khác rồi. Còn về việc chúng ta cứ tiếp tục duy trì mối quan hệ như trước, theo kiểu bạn bè thân thiết ấy, thì những người xung quanh sẽ chẳng đời nào để yên cho nó tiếp diễn đâu. Quan điểm của họ về mối quan hệ giữa nam và nữ rất hạn hẹp, điều đó đã được minh chứng rõ ràng qua việc họ đuổi học em. Triết học của họ chỉ công nhận những mối quan hệ dựa trên dục vọng thể xác. Cái thế giới rộng lớn của sự gắn bó khăng khít nơi mà dục vọng dẫu sao cũng chỉ đóng một vai trò thứ yếu, lại hoàn toàn bị họ phớt lờ — đó chính là cõi giới của... ai cơ nhỉ?... thần Venus Urania.”
Việc cô có thể nói chuyện một cách uyên bác cho thấy cô đã làm chủ được bản thân mình; và trước khi họ chia tay, cô hầu như đã lấy lại được ánh mắt tràn đầy sức sống, giọng điệu hòa hợp, thái độ vui vẻ, cùng với cái nhìn thấu đáo mang tính phản biện đầy sắc sảo đối với những người cùng trang lứa và cùng giới tính với mình.
Bây giờ anh đã có thể thoải mái trò chuyện hơn. “Có mấy lý do ngăn cản anh không kể cho em nghe một cách liều lĩnh. Một là điều anh vừa nói; lý do thứ hai là anh luôn được nhồi nhét vào đầu rằng mình không nên kết hôn — rằng anh thuộc về một dòng họ kỳ quặc và khác thường — một dòng giống không thích hợp cho hôn nhân.”
“Ái chà... ai là người thường xuyên nói với anh điều đó thế?”
“Bà cô lớn của anh. Bà bảo rằng dòng họ Fawleys chúng ta lúc nào cũng kết cục trong bi kịch.”
“Thật lạ lùng. Cha em cũng từng nói với em y như thế!”
Họ đứng đó, bị ám ảnh bởi cùng một suy nghĩ, dẫu chỉ là một giả định thôi cũng đủ u ám: rằng một cuộc hôn nhân giữa hai người, giả sử nó có khả năng xảy ra đi chăng nữa, thì cũng đồng nghĩa với sự leo thang khủng khiếp của sự không tương thích — giống như gộp hai vị đắng vào chung một bát.
Cô mang vẻ hời hợt đầy căng thẳng đáp: “Ôi, nhưng chắc chẳng có chuyện đó đâu! Chỉ là dạo gần đây dòng họ chúng ta gặp vận rủi trong việc chọn bạn đời thôi mà — thế thôi.”
Và rồi họ vờ như đang tự thuyết phục bản thân rằng tất cả những chuyện đã xảy ra chẳng có gì là quan trọng cả, rằng họ vẫn có thể là họ hàng, là bạn bè, vẫn giữ mối quan hệ thư từ thân thiết, và sẽ có những khoảng thời gian vui vẻ, đầm ấm mỗi khi gặp gỡ, dẫu cho họ có gặp nhau ít thường xuyên hơn trước đi chăng nữa. Cuộc chia tay diễn ra trong bầu không khí thắm tình thân hữu, thế nhưng cái nhìn cuối cùng của Jude vào đôi mắt cô vẫn mang theo sự gạn hỏi đượm buồn, bởi anh cảm thấy rằng ngay cả lúc này đây, anh vẫn chưa thực sự thấu hiểu được tâm tư của cô.