Trong Chương I., tác giả đã phỏng đoán rằng một phong tục phương Bắc rất cổ xưa, từng được thực hành bởi những người được xem là nữ tiên tri, có lẽ vẫn còn tồn tại – dù mang tính đùa vui nhiều hơn là nghiêm cẩn – giữa những cư dân quần đảo Zetland, hậu duệ của họ. Bản thuật lại nguyên văn dưới đây về một khung cảnh như thế sẽ cho thấy tầm quan trọng và vị thế cổ xưa của nhân vật mang tính tiên tri mà Norna đã thủ vai:
“Tại cùng vùng đất ấy (Greenland) từng sống một phụ nữ tên là Thorbiorga, là một nữ tiên tri và được gọi là Vola nhỏ (hoặc nữ thần định mệnh), là người duy nhất còn sống sót trong số chín chị em. Vào mùa đông, Thorbiorga thường lui tới các buổi tiệc tùng trong mùa, nhận lời mời của những ai mong muốn biết trước vận mệnh của bản thân và những sự kiện tương lai sắp xảy đến. Torquil là một người có thế lực trong xứ, nên việc gặng hỏi xem nạn đói đang hoành hành ở xứ sở ấy sẽ còn kéo dài trong bao lâu đã thuộc về phần trách nhiệm của ông; vì thế, ông đã mời nữ tiên tri đến dinh thự của mình, đồng thời chuẩn bị chu đáo như thường lệ để tiếp đón một vị khách có tầm quan trọng nhường ấy. Chiếc ghế dành cho nữ tiên tri được đặt ở một vị trí trang trọng, lót đầy những chiếc gối nhồi lông vị biển mềm mại nhất. Đến tối, bà đến nơi cùng với một người đã được phái đi đón và chỉ đường cho bà đến tư dinh của Torquil. Trang phục của bà như sau: Bà mặc một chiếc áo dài màu xanh da trời, phần ngực áo được trang trí bằng những viên ngọc từ trên xuống dưới, và đeo quanh cổ một chiếc vòng hạt cườm bằng thủy tinh. Khăn đội đầu của bà làm bằng da cừu non màu đen, lớp lót là lông của một loài mèo hoang màu trắng. Bà chống một chiếc gậy có gắn một quả cầu ở đầu trên. Chiếc gậy được trang trí bằng đồng thau, còn quả cầu được khảm ngọc hoặc đá cuội. Bà đeo một chiếc thắt lưng xứ Hunland (hoặc Hungary), bên giắt một chiếc túi lớn dùng để đựng các dụng cụ ma thuật của mình. Giày của bà làm bằng da hải cẩu, để mặt lông ra ngoài và được giữ chặt bằng những chiếc quai dày, dài, cài bằng móc đồng thau. Bà đeo găng tay làm bằng da mèo hoang với phần lông quay vào phía trong. Khi người đáng kính ấy bước vào sảnh đường, tất cả mọi người đều chào đón bà với sự kính trọng đúng mực; nhưng bà chỉ đáp lại lời chào của những ai vừa ý mình. Torquil cung kính dẫn bà đến chiếc ghế đã được chuẩn bị sẵn và thỉnh cầu bà dùng ánh mắt đảo qua để thanh tẩy căn phòng cùng những người đang tề tựu. Bà không hề tiếc lời. Khi bàn tiệc cuối cùng được dọn ra, những món ăn phù hợp với vị thế của một nữ tiên tri đã được dâng lên Thorbiorga. Đó là một món chế biến từ sữa dê và một món hỗn hợp gồm tim của các loài động vật khác nhau; nữ tiên tri dùng một chiếc thìa đồng thau và một con dao không có đầu nhọn, cán dao làm bằng răng cá voi và được trang trí bằng hai chiếc vòng đồng thau. Sau khi dọn bàn, Torquil lên tiếng thỉnh cầu Thorbiorga cho biết ý kiến về dinh thự cùng các vị khách của ông, đồng thời hé lộ những vấn đề mà ông và mọi người đang mong muốn được bà tư vấn.
“Thorbiorga đáp rằng bà không thể trả lời các câu hỏi của họ cho đến khi đã trải qua một đêm ngủ dưới mái nhà của ông. Do đó, vào sáng hôm sau, các dụng cụ ma thuật cần thiết cho mục đích của bà đã được chuẩn bị, và khi ấy bà liền gặng hỏi – như một phần không thể thiếu của nghi lễ – xem có phụ nữ nào có mặt ở đây biết hát một khúc ca ma thuật gọi là ‘Vardlokur’ hay không. Khi không tìm được người nữ ca sĩ nào theo ý muốn, Gudrida, con gái của Torquil, liền đáp: ‘Ta không phải là phù thủy hay nữ tiên tri; nhưng nhũ mẫu của ta, Haldisa, đã dạy ta một khúc ca gọi là Vardlokur khi ta còn ở Iceland.’ – ‘Vậy là con biết nhiều hơn ta tưởng đấy,’ Torquil nói. – ‘Nhưng thưa cha, vì con là một tín đồ Kitô giáo,’ Gudrida tiếp lời, ‘con coi những nghi lễ này là điều không được phép cổ súy, và bản thân khúc ca đó cũng là điều không hợp đạo.’ – ‘Dẫu vậy,’ nữ tiên tri đáp, ‘con vẫn có thể giúp chúng ta trong việc này mà chẳng hề tổn hại gì đến tôn giáo của con, bởi vì việc chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho mục đích hiện tại vẫn do Torquil lo liệu.’ Torquil cũng tha thiết nài nỉ Gudrida cho đến khi nàng đồng ý ban ơn cho thỉnh cầu của ông. Bấy giờ, những người phụ nữ vây quanh Thorbiorga, người đã an vị trên một thứ bục cao; đoạn Gudrida cất tiếng hát khúc ca ma thuật bằng một giọng ngọt ngào và du dương đến mức vượt xa bất cứ âm thanh nào mà những người có mặt từng được nghe. Vị nữ tiên tri, vô cùng thích thú trước giai điệu ấy, bèn gửi lời cảm ơn đến người ca sĩ và rồi phán rằng: ‘Giờ đây ta đã thấu hiểu nhiều điều về nạn đói cùng dịch bệnh sắp giáng xuống xứ sở này, và nhiều thứ vốn bị che khuất đối với cả ta lẫn những người khác nay đã trở nên sáng tỏ. Nạn thiếu thốn lương thực hiện tại của chúng ta sẽ không kéo dài lâu đâu, và sự sung túc sẽ đến vào mùa xuân để thay thế cho cảnh kham khổ. Những căn bệnh truyền nhiễm đã hoành hành ở xứ sở này một thời gian rồi cũng sẽ sớm lui đi. Riêng với con, hỡi Gudrida, để đền đáp sự giúp đỡ của con trong dịp này, ta có thể loan báo một vận mệnh cao trọng hơn bất cứ điều gì mà người ta có thể mường tượng. Con sẽ kết hôn với một người có danh tiếng ở Greenland này; nhưng con sẽ không tận hưởng cuộc hôn nhân ấy lâu dài đâu, bởi vì định mệnh gọi con trở về Iceland, nơi con sẽ trở thành mẫu thân của một dòng dõi đông đúc và vinh hiển, được chiếu rọi bởi một tia sáng tốt lành của vận may. Vậy nhé con gái, chúc con bình an, ta từ biệt con.’ Nữ tiên tri sau đó đã trả lời mọi thắc mắc được đặt ra bởi Torquil hoặc các vị khách của ông, rồi rời đi để trổ tài tại một buổi tiệc khác mà bà đã được mời đến vì mục đích đó. Thế nhưng, tất cả những gì bà đã tiên đoán, dù là về đại cục hay cá nhân, đều ứng nghiệm hoàn toàn.”
Bản thuật lại trên được trích từ Saga của Erick Randa, theo lời dẫn của vị học giả Bartholine trong tác phẩm kỳ thú của ông. Ông có nhắc đến những trường hợp tương tự, đặc biệt là về một phụ nữ tên Heida, nổi tiếng với những lời tiên tri, người thường tham dự các lễ hội với mục đích – như một người Scotland hiện đại có thể nói – là để xem bói, cùng với một đoàn tùy tùng vô cùng hoành tráng gồm ba mươi nam và mười lăm nữ cận vệ. – Xem De Causis Contemptæ a Danis adhuc gentilibus Mortis, quyển III., chương 4.
Mặc dù vị Cha đẻ của thần thoại Scandinavie đã từ lâu bị lãng quên như một vị thần trên quần đảo từng là một phần rất nhỏ trong vương thổ của ngài, thế nhưng cho đến tận ngày nay, tên tuổi của ngài đôi lúc vẫn được viện dẫn làm minh chứng để bảo chứng cho một lời hứa.
Thật kỳ thú khi nhận thấy rằng các nghi lễ đi kèm với những lời minh chứng như vậy ở đảo Orkney vẫn tương ứng với phong tục của những người phương Bắc cổ đại. Từ nhiều tài liệu, có thể thấy rằng trong nghi thức của người Bắc Âu, khi một lời thề được tuyên bố, người đưa ra lời thề sẽ luồn tay qua một chiếc vòng bạc lớn được lưu giữ riêng cho mục đích đó trong lúc đọc lời thề ấy. Tương tự như vậy, hai con người, thường là những đôi tình nhân, khi muốn lập lời thề với Odin – điều mà họ coi là có sự ràng buộc đặc biệt – sẽ nắm tay nhau qua một lỗ tròn trên một phiến đá tế lễ nằm trong vòng đá Stonehenge của xứ Orkney, được gọi là Vòng tròn Stennis, mà chúng ta sẽ bàn kỹ hơn ở phần sau. Nghi lễ này nay chỉ còn giới hạn trong việc đính ước của các tầng lớp bình dân, nhưng vào thời kỳ đầu hơn, người ta có thể cho rằng nó từng ảnh hưởng đến một nhân vật thuộc tầng lớp thượng lưu như Minna.
Pháo đài Pictish, một thành lũy mà Norna được cho là đã cải tạo thành nơi cư trú của mình, đã được miêu tả đầy đủ trong phần Chú thích của tập Ivanhoe, tập XVII, trang 352 của ấn bản này. Bản mô tả về lâu đài Mousa nổi tiếng đã được đưa ra ở đó nhằm tạo cơ hội so sánh nó với Lâu đài Saxon ở Coningsburgh. Tuy nhiên, lẽ ra nên đề cập thêm rằng Lâu đài Mousa đã trải qua những đợt đại tu đáng kể vào một thời điểm tương đối cận đại. Theo đó, Torfæus đoan chắc với chúng ta rằng ngay cả cái chuồng bồ câu cổ kính được xếp bằng đá khô này cũng đủ sức làm thành một công sự vững chắc, không phải để chống chọi lại một cuộc vây hãm kéo dài mười năm như thành Troia trong hoàn cảnh tương tự, mà là để làm mòn mỏi sự kiên nhẫn của quân đoàn vây hãm. Erland, con trai của Harold Người ăn nói có duyên, đã cướp đi một người phụ nữ xinh đẹp, là mẹ của một vị bá tước người Na Uy cũng tên là Harold, và cùng người đẹp ấy ẩn náu trong Lâu đài Mousa. Bá tước Harold đã đem quân đuổi theo, và sau khi nhận thấy nơi này quá kiên cố không thể đánh chiếm bằng vũ lực, ông bèn tìm cách hạ thành bằng nạn đói; nhưng cuộc vây hãm kéo dài đến mức vị Bá tước đầy phẫn nộ thấy rằng mình buộc phải lắng nghe một thỏa thuận hòa giải, và đồng ý rằng danh tiết của thân mẫu ông sẽ được phục hồi thông qua hôn nhân. Sự kiện này diễn ra vào đầu thế kỷ thứ mười ba, dưới triều đại của vua William Sư tử xứ Scotland. Có lẽ những cải tiến mà Erland áp dụng trong dịp này chính là phần hoàn thiện bức tường chắn của lâu đài bằng cách làm cho nó nhô ra phía ngoài, khiến cho ngọn tháp Mousa trông giống hình một chiếc ống xí ngầu hơn, trong khi những ngọn tháp khác cùng loại lại mang hình dáng của một hình nón cụt. Thật dễ dàng nhận thấy việc phần lan can trên cùng nhô ra sẽ giúp cho việc phòng thủ trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn biết nhường nào.
Trong lúc những trang sách này đang được in ấn, tôi đã nhận được một lá thư từ một người bạn khả kính và uyên bác, trong đó có đoạn sau đây liên quan đến một phát hiện tại Zetland: — “Chỉ vài tuần trước, khi đang dọn dẹp phần móng của một bức tường cũ, các công nhân đã chạm trán một phiến đá lò sưởi; bên dưới phiến đá ấy, họ tìm thấy một chiếc sừng được bao quanh bởi những chiếc vòng bạc nguyên khối trông như vòng tay, và chứa đầy những đồng tiền xu thời kỳ Thất quốc, ở trong trạng thái bảo quản hoàn hảo.” Nơi tìm thấy cách dinh thự [được cho là] của Norna xứ Fitful-head một khoảng cách rất ngắn. — Như vậy, một trong những chi tiết hư cấu khó tin nhất trong câu chuyện lại được xác thực bởi một sự trùng hợp kỳ lạ.
Tính cách của Norna được dụng ý làm một minh chứng cho chứng điên rồ kỳ lạ ấy, trong đó người bệnh, dù vẫn giữ lại rất nhiều sự tinh khôn và tháo vát để đánh lừa người khác, lại càng tỏ ra tài tình hơn nữa trong việc cố gắng tự đánh lừa chính mình. Quả thực, những kẻ tâm thần dạng này thường được quan sát thấy sở hữu một thứ nhân cách kép: ở một bên, họ chính là con người mà trí tưởng tượng bệnh hoạn của họ nhào nặn nên, còn ở bên kia, họ lại là con người thật tự nhiên của chính mình, như cách mà những người xung quanh nhìn thấy. Sự phân đôi ý thức này gây ra những biến động điên rồ trong trí tưởng tượng của người bệnh, và nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, đây có lẽ là một phương pháp thường xuyên để khôi phục lại sự minh mẫn cho trí tuệ. Những hoàn cảnh bên ngoài tác động vào các giác quan thường có một sức mạnh to lớn trong việc làm lung lay hoặc đánh sập những lâu đài xây trên không trung mà căn bệnh đã khơi gợi lên.
Một vị bác sĩ quá cố, cũng là một người bạn tri kỷ của tôi, đã kể cho tôi nghe trường hợp của một bệnh nhân tâm thần bị giam giữ trong Bệnh viện Hoàng gia Edinburgh. Ông ta còn may mắn ở chỗ chứng mất trí của mình mang một sắc thái vui tươi, dễ chịu, mang lại một cách lý giải hoan hỉ cho mọi thứ tiếp xúc với ông ta. Ông coi ngôi nhà lớn, đông đảo gia nhân v.v. của bệnh viện đều là những thứ nghi lễ và quyền quý thuộc về cơ ngơi cá nhân của chính mình, và không mảy may nghi ngờ về sự giàu có cũng như thế lực của bản thân. Chỉ có một điều duy nhất làm vị đại gia này bối rối. Mặc dù ông được cung cấp một đầu bếp hạng nhất cùng những trợ lý đắc chánh, mặc dù bàn ăn của ông thường xuyên có đủ mọi món ngon vật lạ theo mùa, thế nhưng ông lại thú nhận với bạn tôi rằng, do một sự suy đồi vị giác bất thường nào đó, mọi thứ ông ăn đều có vị cháo yến mạch. Điểm kỳ lạ này dĩ nhiên bắt nguồn từ việc người khốn khổ ấy chẳng được cho ăn gì khác ngoài món đó, và vì dạ dày của ông không dễ bị đánh lừa như các giác quan khác của ông.
Hòn đảo Hoy mang lại một nơi trú ẩn vô cùng thuận lợi cho các loài chim săn mồi, đến mức những vụ tàn phá do chúng gây ra – vốn hiếm khi xảy ra ở những vùng khác trong nước – lại chẳng có gì là bất thường ở đây. Có một cá nhân vẫn còn đang sống ở Orkney cách đây không lâu, khi còn là một đứa trẻ hãy còn quấn tã, đã thực sự bị một con đại bàng quắp đến cái ổ của nó trên ngọn đồi Hoy. May mắn thay, vì cái ổ chim đã được biết rõ và con chim bị truy đuổi ngay lập tức, đứa trẻ đã được tìm thấy trong tình trạng không mụn tổn thương, đang hồn nhiên đùa giỡn với những con đại bàng con. Một câu chuyện về một vụ vận chuyển nực cười hơn đã được kể cho tôi nghe bởi vị mục sư đáng kính đang cai quản hòn đảo. Một ngày nọ, khi nghe thấy những tiếng ụt ịt kỳ lạ, ông nghi ngờ rằng đám gia nhân của mình đã để cho một con lợn nái cùng bầy lợn con, những cư dân trong chái trang trại của ông, lọt được vào đám ruộng lúa mạch của ông. Sau khi tìm kiếm khắp mặt đất rắn mà không thấy những kẻ phá phuộc đâu, cuối cùng ông đành ngước mắt lên trời, để rồi phát hiện ra một chú lợn con trong bộ móng vuốt của một con đại bàng lớn đang bay vút đi (vừa bay vừa kêu eng éc vì sợ hãi) cùng chú lợn bất hạnh về hướng chiếc ổ trên đỉnh đồi Hoy.
Những hòn đá đứng Stennis, theo cách gọi hơi rườm rà của di tích đáng chú ý này, mang lại một lời bác bỏ không thể chối cãi đối với quan điểm của những nhà khảo cổ học cho rằng các vòng tròn thường được gọi là Vòng tròn Druid lại là đặc trưng riêng của chủng tộc thầy tu ấy. Có mọi lý do để tin rằng phong tục đó phổ biến ở vùng Scandinavie chẳng kém gì ở xứ Gaul hay xứ Britain, và cũng quen thuộc đối với thần thoại Odin chẳng kém gì tín ngưỡng mê tín của đạo Druid. Thậm chí có lý do để nghĩ rằng những tu sĩ Druid chưa từng chiếm cứ bất kỳ phần nào của quần đảo Orkney, và truyền thuyết cũng như lịch sử đều quy những Hòn đá Stennis cho người Scandinavie. Hai vùng nước lớn, thông ra biển, được nối liền bởi một con đường đắp cao với các cửa cống cho phép thủy triều lên xuống, được gọi là Cây cầu Broisgar. Trên dải đất nhô ra phía đông xuất hiện những Hòn đá Đứng, được sắp xếp theo hình bán nguyệt, hoặc đúng hơn là hình móng ngựa, với chiều cao của các trụ đá từ mười lăm thước trở lên. Nằm bên trong vòng tròn này là một hòn đá, có lẽ dùng để tế lễ. Một trong các trụ đá, nằm chếch về phía tây một chút, được đục thủng một lỗ tròn mà qua đó các đôi tình nhân thường nắm tay nhau khi họ lập Lời thề của Odin, như đã được đề cập nhiều lần trong phần chính văn. Vùng không gian khép kín này được bao quanh bởi những gò mộ, và trên doi đất đối diện, hướng về phía Cây cầu Broisgar, lại có một di tích khác cũng gồm những Hòn đá Đứng, nhưng trong trường hợp này thì hoàn toàn hình tròn. Kích thước của chúng nhỏ hơn những hòn đá ở phía đông hồ, với chiều cao chỉ dao động từ mười hoặc mười hai đến mười bốn thước. Vòng tròn phía tây này được bao quanh bởi một con hào sâu đào ở phía bên ngoài các trụ đá; và tôi nhận thấy có bốn gò mộ, hay những đống đất, được bố trí đều đặn xung quanh nó. Stonehenge vượt trội hơn di tích xứ Orkney này; nhưng tôi cho rằng di tích Stennis là công trình duy nhất ở Britain có thể sánh ngang với nó về tầm vóc. Tất cả các quốc gia phương Bắc đều đánh dấu những nơi hội họp công cộng bằng những vòng tròn khổng lồ ấy, dù là để hành lễ tôn giáo hay để giải quyết các công việc chung mang tính thế tục của cộng đồng. Tác phẩm Cổ vật Dân gian phương Bắc có chứa, trong phần tóm lược của Eyrbiggia Saga, một bản mô tả chi tiết về cách thức mà Helga Fels, hay Hòn đá Thánh, được tu sĩ tối cao Thorolf dành riêng cho những dịp trọng đại.
Tôi chỉ xin nói thêm rằng, khác với di tích trên Đồng bằng Salisbury, những viên đá được sử dụng trong vòng tròn xứ Orkney có vẻ đã được khai thác từ một mỏ đá ngay tại chỗ, nơi vẫn còn hằn rõ những vết tích khai thác.