Ba lần từ lòng hang tối âm u
Tiếng than van nàng cất lên;
Và hãy đến, con gái ta, hãy đến không sợ hãi,
Và không sợ hãi hãy kể những nỗi niềm của con!
Meikle.
Nơi ở của Norna, dẫu chẳng có ai ngoài một người con sinh ra ở Zetland — vốn đã quen thuộc suốt cả cuộc đời với mọi phong cảnh đá đồi hiểm trở — lại có thể thấy điều gì đó nực cười trong hoàn cảnh này, nhưng không tệ khi được Magnus Troil ví như tổ của loài chim ưng biển. Nơi ấy rất nhỏ, được tạo dựng từ một trong những căn hầm mà người ta gọi là Burgh và nhà Pict ở Zetland, còn ở vùng đại lục Scotland và quần đảo Hebrides thì gọi là Dun. Chúng dường như là nỗ lực đầu tiên trong kiến trúc — là nhịp cầu nối giữa cái hang cáo trong một đống đá vụn và một cố gắng dựng nên chốn ở cho con người từ chính những vật liệu ấy, mà không dùng đến vôi hay bất kỳ loại hồ vữa nào, chẳng có chút gỗ nào theo như những gì còn sót lại từ phế tích, và hoàn toàn không biết gì về vòm cuốn hay cầu thang.
Dẫu vậy, vô số tàn tích của những chốn ở ấy — bởi vì người ta tìm thấy chúng ở mọi mỏm đất, hòn đảo nhỏ, hay điểm cao có thể mang lại cho cư dân thêm phương tiện phòng thủ — phần nào chứng minh rằng những con người xa xưa đã xây dựng nên các Burgh này vốn là một cộng đồng đông đúc, và khi ấy quần đảo có dân số đông hơn nhiều so với những gì chúng ta có thể đoán định từ các yếu tố khác.
Cái Burgh mà chúng ta đang nhắc tới đã được sửa sang và tu bổ vào thời gian muộn hơn, có lẽ bởi một kẻ bạo chúa nhỏ nào đó hoặc một tên cướp biển. Y bị cám dỗ bởi sự hiểm trở và an toàn của vị trí này — vốn chiếm trọn một mỏm đá nhô ra và bị chia cắt khỏi đất liền bằng một khe vực sâu thẳm — nên đã xây thêm vài phần bằng lối kiến trúc phòng thủ Gothic thô sơ nhất; trát bên trong bằng vôi và đất sét; đục những ô cửa sổ để đón ánh sáng và không khí; và cuối cùng, bằng cách lợp mái và chia nó thành nhiều tầng bằng những thanh gỗ vớt từ tàu đắm, y đã biến toàn bộ công trình thành một cái tháp trông giống như một cái chuồng bồ câu hình kim tự tháp. Tháp được tạo bởi một bức bọc đôi, bên trong bề dày vẫn còn chứa dãy hành lang tròn hoặc các vòng tròn đồng tâm vốn là đặc điểm của tất cả các pháo đài mang cấu trúc nguyên thủy này, và dường như từng là chốn nương thân duy nhất mà chúng có khả năng mang lại cho những cư dân đang run lẩy bẩy trong giá lạnh.
Chốn ở kỳ lạ này, được dựng từ những viên đá dăm nằm rải rác xung quanh và trải qua bao đời dãi dầu cùng mưa nắng, trông bạc phếch, cằn cỗi và tàn tạ chẳng khác nào tảng đá mà nó tựa vào, đến mức khó lòng phân biệt nổi. Nó hoàn toàn tương đồng về màu sắc và chẳng mấy khác biệt về hình dáng so với một đỉnh nhọn hay một mỏm đá của vách núi.
Sự dửng dưng quen thuộc của Minna đối với mọi chuyện diễn ra xung quanh thời gian gần đây bỗng chốc tan biến khi nàng nhìn thấy chốn cư ngụ này — một nơi mà vào một thời điểm khác, hạnh phúc hơn trong đời, chắc chắn đã thu hút ngay cả sự tò mò lẫn ngạc nhiên của nàng. Ngay lúc này, nàng dường như cũng cảm thấy hứng thú khi ngắm nhìn chốn lui tới kỳ lạ ấy và sực nhớ rằng đó là nơi ở của một nỗi đau khổ cùng cực cùng sự điên loạn có khả năng xảy ra. Cư dân ở đây, theo lời khẳng định của chính chủ nhân và niềm tin của Minna, nắm giữ sức mạnh khuynh đảo tự nhiên và khả năng giao tiếp với thế giới vô hình.
“Người họ hàng của chúng ta,” nàng thì thầm, “đã chọn cho mình một nơi trú ẩn thật khéo, chẳng có lấy một mảnh đất rộng hơn chỗ một con chim biển đậu, và xung quanh chỉ toàn những trận cuồng phong mịt mù cùng sóng dữ gầm thét. Tuyệt vọng và phép thuật phù thủy chắc chẳng thể tìm được một chốn nào thích hợp hơn.”
Ngược lại, Brenda rùng mình khi nhìn vào chốn cư ngụ mà họ đang tiến đến qua một con đường hiểm trở, nguy hiểm và đầy chông chênh. Có những lúc, khiến nàng vô cùng khiếp sợ, con đường lại sát rạt mép vực thẳm. Thế nên, dẫu là một người con của Zetland và dẫu có lý do để tin tưởng vào sự vững vàng cũng như sự khôn ngoan của chú ngựa lùn đi chân chắc nịch, nàng vẫn khó lòng nén được cảm giác chóng mặt. Nhất là có một bận, khi đi đầu đoàn người và rẽ qua một góc khuất sắc lẹm của vách đá, đôi chân nàng — chìa ra khỏi mông ngựa — đã có khoảnh khắc lơ lửng ngay phía trên miệng vực sâu. Chẳng có gìn ngăn cách giữa đế giày của nàng với lớp bọt trắng xóa của đại dương cuồn cuộn đang gầm thét, tung bọt trắng xóa ở tận năm trăm thước bên dưới. Cảnh tượng ấy, thứ có thể khiến một thiếu nữ xứ khác phát điên, chỉ mang lại cho nàng chút bất an thoáng qua, và rồi lập tức tan biến trong hy vọng rằng ấn tượng mà phong cảnh này tạo ra đối với trí tưởng tượng của chị mình có thể mang lại chiều hướng tốt cho việc chữa lành cho nàng.
Nàng không kìm được mà ngoái lại nhìn xem Minna sẽ vượt qua điểm hiểm trở mà bản thân vừa mới đi qua ra sao. Và nàng nghe thấy tiếng vang trầm của lão lãnh chúa Udaller — dẫu với lão những con đường gập ghềnh ấy quen thuộc như bờ cát phẳng lặng — cất lên với giọng đầy lo lắng: “Hãy cẩn thận, jarto,” khi Minna với ánh mắt đầy háo hức buông dây cương, rướn cả người và cánh tay vượt ra ngoài vực thẳm. Tư thế ấy hệt như một con thiên nga hoang dã khi đang giữ thăng bằng và xòe rộng đôi cánh lớn, chuẩn bị lao mình từ vách đá vào lòng gió lộng. Ngay khoảnh khắc ấy, Brenda cảm thấy nhói lên một nỗi kinh hoàng khôn tả, để lại ấn tượng sâu sắc trong tâm trí nàng, dẫu cho nỗi sợ ấy nhanh chóng được xoa dịu khi chị nàng kịp lấy lại thăng bằng và ngồi thẳng lên yên ngựa. Cơ hội và sự cám dỗ (nếu Minna thực sự cảm thấy thế) đã trôi qua, khi con vật hiền lành, vững chãi chở nàng rẽ qua khúc cua gồ ghề và hướng những bước chân kiên nhẫn, chắc nịch của nó rời xa mép vực thẳm.
Họ giờ đây đã lên đến một khoảng đất phẳng phiu và quang đãng hơn, chính là phần chóp phẳng của một dải đất eo biển nhô ra. Dải đất này lại thu hẹp dần về phía điểm tận cùng, nơi nó bị chia cắt bởi khe vực tách biệt cái chỏm nhỏ hay cột đá — nơi tọa lạc chốn ở của Norna — khỏi dãy vách đá và vực thẳm chính. Hào tự nhiên này dường như là tác phẩm của một cơn đại biến đổi của trái đất: sâu thẳm, tối tăm và gập ghềnh, hẹp hơn ở phía đáy vốn chẳng thể nhìn rõ, và rộng nhất ở phía đỉnh. Nó tạo cảm giác như thể phần vách đá có công trình kiến trúc ngự trị đã bị xé toạc một nửa khỏi dải đất eo biển mà nó kết thúc — một ý nghĩ càng được củng cố bởi góc độ mà vách đá dường như thụt lùi khỏi đất liền và nghiêng về phía biển, cùng với công trình đang đội trên đỉnh.
Góc nghiêng này lớn đến mức người ta phải tự nhủ để xua đi ý nghĩ rằng khối đá, vốn đã lệch khỏi phương thẳng đứng ấy, sắp sửa lao xuống biển cùng với tòa tháp cổ kính của nó. Và một kẻ nhát gan chắc chắn sẽ không dám đặt chân lên đó, sợ rằng việc gia tăng thêm một trọng lượng nhỏ nhoi như cơ thể con người sẽ đẩy nhanh một thảm họa dường như lúc nào cũng chực chờ giáng xuống.

Chẳng màng bận tâm đến những huyễn tưởng ấy, lão lãnh chúa Udaller phi ngựa tiến về phía tòa tháp và xuống ngựa cùng hai cô con gái, giao những con ngựa lùn cho một tên đầy tớ kèm theo chỉ dẫn tháo dỡ yên cương rồi thả chúng ra bãi hoang gần nhất để nghỉ ngơi và ăn cỏ. Xong xuôi, họ tiến đến cánh cổng — nơi xưa kia dường như từng được nối liền với đất liền bằng một chiếc cầu treo thô sơ mà một vài bộ phận vẫn còn có thể nhận ra. Nhưng phần lớn đã bị phá hủy từ lâu và được thay thế bằng một chiếc cầu đi bộ cố định làm bằng các thanh ván thùng phuy phủ đầy cỏ dẻ, vô cùng hẹp, không có thành vịnh và được nâng đỡ bằng một loại vòm cấu trúc từ hàm cá voi. Dọc theo “chiếc cầu kinh hoàng” ấy, lão Udaller bước đi với vẻ oai phong lẫm liệt quen thuộc, thứ từng đe dọa làm sập cả chiếc cầu lẫn chính bản thân lão; các con gái của lão bước nhẹ nhàng và an toàn hơn phía sau, và cả nhóm dừng chân trước cánh cửa thấp lè tè, xù xì của chốn ở nơi Norna ngự trị.
“Biết đâu con mụ lại chẳng có nhà,” Magnus nói vừa lúc nện những cú búa liên hồi lên cánh cửa bằng gỗ sồi đen. — “Nhưng nếu vậy, ít nhất chúng ta cũng sẽ ở lại đây một ngày chờ mụ ta về, và bắt Nick Strumpfer phải bồi thường thời gian chậm trễ bằng rượu mật và brandy.”
Vừa dứt lời, cánh cửa liền mở ra, bày trước mắt vẻ hoảng hốt của Brenda và sự kinh ngạc của chính Minna: một tên lùn vuông vức cao chừng bốn thước rưỡi, với cái đầu to tướng bất thường và những đường nét trên gương mặt tương xứng — cụ thể là một cái miệng rộng hoác, chiếc mũi khổng lồ với hai lỗ mũi đen sì to tướng trông như bị rạch ngược lên, đôi môi dày cộp quá khổ, cùng đôi mắt trắng dã lác ngược. Hắn nhìn lão Udaller bằng ánh mắt liếc xéo, cười nhạo, nhe răng và trợn trừng như một người quen cũ mà chẳng thốt ra lấy một lời. Hai cô gái suýt tưởng rằng trước mắt họ chính là con ác quỷ Trolld bằng xương bằng thịt — kẻ từng xuất hiện đầy ấn tượng trong những câu chuyện truyền thuyết về Norna. Cha họ tiếp tục cất lời với sinh vật kỳ dị này bằng một điệu bộ thân thiện trịch thượng, giống như cách tầng lớp bề trên thường dùng với những kẻ hạ phong khi họ muốn, vì một mục đích trước mắt nào đó, xoa dịu hoặc nịnh bợ họ — một giọng điệu mà ngặt một nỗi, ngay trong sự thân mật của nó lại ẩn chứa sự xúc phạm chẳng kém gì việc thể hiện rõ khoảng cách và sự bề trên.
“Này Nick! Nick tốt bụng!” lão Udaller cất giọng, “ngươi đây rồi, hoạt bát và đáng yêu hệt như Thánh Nicholas — vị thánh cùng tên với ngươi — khi được tạc bằng rìu để làm tượng trang trí mũi tàu đánh cá của người Hà Lan. Dạo này thế nào hả Nick, hay Pacolet nếu ngươi thích cái tên ấy hơn? Này Nicholas, đây là hai cô con gái của ta, ngươi thấy đấy, chúng cũng xinh xắn chẳng kém gì ngươi đâu.”
Nick nhe răng cười toe toét và cúi chào một cách vụng về để tỏ ý lịch sự, nhưng vẫn giữ nguyên vóc dáng lùn tịt, thô kệch của mình đứng chắn ngay lối ra vào.
“Các con gái ạ,” lão Udaller tiếp lời, dường như có lý do riêng để đối xử ngọt ngào với vị Thần Chó Ba Đầu này, ít nhất là theo quan niệm chuộc lỗi của lão — “đây là Nick Strumpfer, hỡi các con, người mà chủ nhân của hắn gọi là Pacolet. Hắn là một tên lùn chân tay lanh lẹ, các con thấy đấy, y như nhân vật từng bay lượn như một con chim mòng biển trên con ngựa gỗ trong câu chuyện cổ tích *Valentine và Orson* mà con, Minna, từng đọc hồi nhỏ. Ta đảm bảo rằng hắn có thể giữ kín chuyện cho chủ nhân và chưa từng hé lộ một bí mật nào trong đời — ha, ha, ha!”
Tên lùn xấu xí nhe răng cười rộng gấp mười lần lúc trước và thể hiện ý nghĩa câu nói đùa của lão Udaller bằng cách há to cái miệng rộng hoác, ngả đầu ra sau để lộ cho thấy trong khoang miệng sâu hoắm ấy chỉ còn lại một mẩu lưỡi nhỏ teo tóp. Chiếc lưỡi ấy có lẽ chỉ đủ giúp hắn nuốt thức ăn chứ không tài nào phát ra được âm thanh rành mạch. Người ta không tài nào đoán được chiếc lưỡi ấy bị cụt đi do tàn ác hay bị tổn thương vì bệnh tật, nhưng việc sinh vật bất hạnh này vốn không hề bị câm từ lúc sinh ra là điều hiển nhiên qua việc hắn vẫn giữ được thính lực. Sau màn trình diễn rợn người ấy, hắn đáp lại sự vui vẻ của lão Udaller bằng một tràng cười lớn, ghê rợn và lạc điệu — điều đó càng trở nên kinh dị hơn bởi tiếng cười của hắn dường như xuất phát từ chính sự khốn khổ của bản thân. Hai chị em lặng lẽ nhìn nhau đầy sợ hãi, và ngay cả lão Udaller cũng tỏ ra bối rối.
“Thế nào rồi?” lão tiếp tục sau một thoáng im lặng. “Đã bao lâu rồi ngươi chưa rửa cái cổ họng rộng ngang ngửa eo biển Pentland ấy bằng một chén rượu brandy hả? Này Nick! Ta có mang theo thứ rượu hảo hạng đây này chú em, ha!”
Tên lùn cau mày, lắc cái đầu dị hình và ra hiệu một cách nhanh chóng, sắc bén bằng cách giơ tay phải lên vai với ngón cái chĩa ngược về phía sau.
“Sao cơ! Người họ hàng của ta,” lão Udaller hiểu ra dấu hiệu, “sẽ nổi giận chứ gì? Thôi được, ngươi sẽ có một bình rượu để chè chén khi mụ ta đi vắng, người quen cũ ạ; môi và cổ họng vẫn có thể nuốt dù chẳng thể nói thành lời.”
Pacolet nhe răng gượng gạo ra vẻ đồng tình.
“Và giờ,” lão Udaller nói, “tránh đường ra nào Pacolet, để ta đưa các con gái vào thăm người họ hàng của chúng. Vì xương cốt của Thánh Magnus, đó sẽ là một việc có lợi cho ngươi đấy! — thôi nào, đừng có lắc đầu thế chứ anh bạn; vì nếu chủ nhân của ngươi có ở nhà đi nữa, chúng ta nhất định vẫn sẽ gặp mặt cho bằng được.”
Tên lùn lại ra hiệu thể hiện sự bất khả thi trong việc để họ bước vào, một phần bằng cử động, một phần bằng cách lầm bầm những âm thanh kỳ quặc và khó chịu khôn tả. Tâm trạng của lão Udaller bắt đầu nổi giận.
“Lắm điều quá đấy, anh bạn!” lão bảo; “đừng làm phiền ta với mấy thứ tiếng lóng nhảm nhí của ngươi nữa, hãy tránh đường ra, và mọi tội lỗi nếu có sẽ do một mình ta gánh chịu.”
Nói đoạn, Magnus Troil đặt bàn tay vạm vỡ của mình lên cổ áo chiếc áo khoác vải wadmaal xanh của tên lùn bướng bỉnh. Bằng một cái nắm mạnh mẽ nhưng không đến mức bạo lực, lão kéo hắn ra khỏi lối đi, nhẹ nhàng đẩy hắn sang một bên rồi bước vào trong. Theo sát phía sau là hai cô con gái, những người vì cảm giác lo sợ bắt nguồn từ mọi điều mắt thấy tai nghe nên cứ bám chặt lấy cha. Một lối đi ngoằn ngoèo, mờ tối mà Magnus dẫn đầu được chiếu sáng lờ mờ qua một lỗ châu mai thông với phần bên trong của công trình — vốn ban đầu chắc chắn được thiết kế để kiểm soát lối vào bằng một khẩu súng hỏa mai hay đại bác nhẹ. Khi họ tiến lại gần hơn — bởi họ bước đi chậm chạp và đầy do dự — ánh sáng vốn dĩ đã kém nay bỗng chốc tối sầm lại. Ngước lên để tìm nguyên nhân, Brenda giật mình khi nhận ra khuôn mặt nhợt nhạt, mờ ảo của Norna đang cúi xuống nhìn họ mà chẳng thốt nửa lời.
Chẳng có gì là bất thường trong chuyện này, bởi nữ chủ nhân của dinh thự hoàn toàn có thể tự nhiên ngó ra xem những vị khách nào lại đường đột và vô phép bước vào lãnh địa của mình. Thế nhưng, nét nhợt nhạt tự nhiên trên gương mặt nàng — càng bị phóng đại bởi ánh sáng hắt lên lúc bấy giờ — cùng sự lạnh lùng bất động trong ánh nhìn chẳng hề mang một chút thiện cảm hay sự đón tiếp lịch thiệp nào, cộng với sự im lặng chết chóc và vẻ ngoài kỳ lạ của mọi thứ xung quanh đã làm gia tăng sự hoảng sợ mà Brenda vốn đã nung nấu từ trước. Magnus Troil và Minna vẫn chầm chậm tiến về phía trước mà không hề nhận ra sự xuất hiện của nữ chủ nhân kỳ dị.
[18] Chú thích III.—Thành lũy Pict.
[19] Jarto, cục cưng của ta.