——Nếu, nhờ nghệ thuật của ngươi, ngươi đã
Khuấy động những dòng nước hoang dã này gầm thét, hãy dập tắt chúng.
Vở Tempest.
Cơn bão vừa hơi dịu bớt cường độ ngay trước khi Norna bước vào, nếu không thì bà hẳn đã thấy việc đi lại là điều bất khả trong lúc cuồng phong dữ dội nhất. Thế nhưng bà vừa mới bất ngờ hòa mình vào nhóm người do tình cờ tụ họp tại ngôi nhà của Triptolemus Yellowley, thì cơn bão liền đột ngột trỗi dậy với mãnh lực như xưa, hoành hành quanh tòa nhà bằng một sức mạnh khiến những kẻ bên trong chẳng còn bận tâm gì nữa ngoài nỗi sợ rằng ngôi biệt thự cổ sắp sụp đổ ngay trên đầu họ.
Bà Baby trút nỗi sợ hãi của mình bằng những tiếng kêu la oang oang: “Chúa phù hộ chúng ta—đây chắc chắn là ngày tận thế rồi—đây là cái xứ sở quái quỷ gì thế này!—còn anh, cái đồ ngốc này,” bà vừa nói vừa quay ngoắt sang em trai, (vì mọi cảm xúc của bà lúc nào cũng vương chút chua ngoa cay đắng,) “lại bỏ cái vùng Mearns xinh đẹp để đến đây, nơi chẳng có gì ngoài bọn ăn mày lang thang với đám hành khất đầy nhà, lại thêm cơn thịnh nộ của Trời xanh ở ngoài kia!”
“Ta bảo em này, chị Baby,” người làm nghề nông bị xúc tăm đáp lời, “rằng mọi thứ đều sẽ được cải cách và chỉnh đốn,—trừ,” ông nói thêm nghiến răng qua kẽ răng, “cái tính khí đanh đá của một mụ đàn bà cay độc, kẻ có thể làm cho chính cơn bão này càng thêm cay đắng!”
Trong khi ấy, người đầy tớ già và gã bán hàng rong kiệt sức vì những lời nài nỉ van xin hướng về Norna, nhưng vì chúng được cất lên bằng tiếng Na Uy, chủ nhân ngôi nhà chẳng hiểu gì sất.
Bà lắng nghe họ với vẻ kiêu kỳ và dửng dưng, rồi cuối cùng cất lời lớn tiếng bằng tiếng Anh: “Ta không đi. Giả như ngôi nhà này có biến thành đống đổ nát trước khi trời sáng—thì thế giới này mất mát gì ở cái kẻ chuyên vẽ vời hoang tưởng cùng với gã keo kiệt bn xỉn đang trú ngụ trong đó chứ? Chúng cứ khăng khăng đòi cải cách phong tục tập quán ở Zetland cơ mà, hãy để chúng tự nếm trải xem mình thích một trận bão Zetland ra sao.—Những ai không muốn chết mạng, hãy rời khỏi ngôi nhà này ngay!”
Gã bán hàng rong chộp lấy cái bị cóc nhỏ của mình, vội vã quàng lên lưng; mụ đầy tớ già choàng vội chiếc áo khoác lên vai, và cả hai có vẻ như đang định chuồn khỏi ngôi nhà nhanh nhất có thể.
Triptolemus Yellowley, có phần nao núng trước những biểu hiện đó, bèn cất giọng hỏi Mordaunt với vẻ sợ hãi lập cập rằng liệu cậu có nghĩ là có nguy hiểm, ý anh ta là, nguy hiểm đến thế cơ chứ?
“Tôi không thể nói chắc,” cậu thanh niên đáp, “tôi hầu như chưa từng thấy trận bão nào như thế này. Norna có thể cho chúng ta biết rõ hơn bất kỳ ai về việc khi nào nó ngớt; bởi vì không ai ở những hòn đảo này am hiểu về thời tiết bằng bà ấy.”
“Và đó là tất cả những gì ngươi nghĩ Norna có thể làm sao?” mụ phù thủy cất lời; “ngươi sẽ biết rằng quyền năng của ta không hề bị giới hạn trong một không gian chật hẹp nhường ấy. Hãy nghe ta, Mordaunt, thiếu niên của một vùng đất lạ nhưng có một trái tim đỗ lượng—Ngươi có định rời bỏ ngôi nhà bị nguyền rủa này cùng với những kẻ đang chuẩn bị bỏ đi kia không?”
“Tôi không—tôi sẽ không đi, thưa Norna,” Mordaunt đáp lời; “tôi không rõ động cơ nào khiến bà muốn tôi rời đi, và tôi sẽ không vì những lời đe dọa mơ hồ này mà bỏ đi khỏi ngôi nhà nơi tôi đã được đón tiếp tử tế trong một cơn bão thế này đâu. Nếu những người chủ nhà không quen với lề thói hiếu khách vô điều kiện của chúng tôi, thì tôi lại càng mang ơn họ vì họ đã nới lỏng nguyên tắc và mở rộng cửa đón tiếp tôi.”
“Thật là một cậu trai quả cảm,” bà Baby thốt lên, người mà những cảm xúc mê tín đã bị chùn xuống bởi lời đe dọa của kẻ được cho là phù thủy nọ, và giữa bản tính kẹt sỉ, hẹp hòi cùng hay càu nhàu của mình, cũng giống như tất cả những ai có cá tính mạnh mẽ, vẫn lóe lên vài tia phỏng khoáng cao đẹp khiến bà đồng cảm với những tâm hồn hào hiệp, dẫu bà cho rằng việc chiều theo chúng tốn kém quá mức—“Thật là một cậu trai quả cảm,” bà lặp lại lần nữa, “và đáng giá mười con ngỗng, giả như ta có sẵn để luộc hay quay cho thằng bé. Ta dám cá nó là con nhà quyền quý chứ chẳng phải máu mủ phàm phu tầm thường gì.”
“Hãy nghe ta, Mordaunt trẻ tuổi,” Norna nói, “và cất bước khỏi ngôi nhà này. Định mệnh dành cho ngươi những mục tiêu lớn lao—ngươi không được phép ở lại túp lều này để rồi bị nghiền nát giữa những đống đổ nát vô giá trị của nó, cùng với di tích của những kẻ cư ngụ còn vô giá trị hơn, những kẻ có cuộc đời đối với thế gian cũng chẳng khác chi loài cây diệp phả hiện đang mọc trên mái tranh của chúng, rồi cũng sẽ sớm bị bóp nát giữa những khúc xương tan nát của chúng mà thôi.”
“Tôi—tôi—tôi sẽ bước ra ngoài,” Yellowley nói, dẫu cho vẫn cố giữ vẻ học thức và khôn ngoan, nhưng bắt đầu cảm thấy hoảng sợ trước cái kết cục của cuộc phiêu lưu này; bởi vì ngôi nhà đã cũ kỹ và những bức tường đang rung chuyển dữ dội theo từng đợt cuồng phong.
“Để làm gì chứ?” cô em gái gạt đi. “Ta tin rằng Hoàng tử thống trị chốn không trung ấy chưa có quyền năng lớn lao đến thế đối với những tạo vật được tạc theo hình ảnh của Chúa, để mà một ngôi nhà tử tế lại có thể sụp xuống đầu chúng ta, chỉ vì một ả đàn bà đanh đá” (đến đây bà liếc một cái sắc lẹm về phía nữ tiên tri) “dám dùng bùa phép dọa dẫm chúng ta, cứ như thể tụi này là đám chó má cúi rạp trước mệnh lệnh của ả vậy!”
“Tôi chỉ muốn,” Triptolemus nói, cảm thấy ngượng ngùng vì ý định của mình, “ra ngó thử đám mạ lúa đại mạch, hẳn là bị quật tơi tả vì trận bão này rồi; nhưng nếu người phụ nữ chân chất này thích ở lại với chúng ta, tôi nghĩ tốt hơn hết là tất cả chúng ta cứ thong thả ngồi quây quần bên nhau cho đến khi trời yên biển lặng trở lại.”
“Người phụ nữ chân chất!” bà Baby nhại lại—“Đồ phù thủy độc ác dơ dáy!—Cút đi cho khuất mắt, đồ mụ lẳng lơ!” bà nói thêm, quay thẳng sang Norna; “hút khỏi một ngôi nhà tử tế ngay, bằng không thẹn chết mất thôi, ta sẽ lấy cái chày giặt giũ phang cho ngươi một trận đấy!”
Norna ném cho bà một cái nhìn khinh bỉ tột cùng; đoạn bước ra cửa sổ, có vẻ như chìm đắm vào dòng suy tưởng sâu thẳm về bầu trời, trong khi mụ đầy tớ già Tronda, nép sát vào chủ nhân, khẩn khoản van nài vì bất cứ thứ gì trân quý đối với con người: “Xin đừng khiêu khích Norna xứ Fitful-head! Bà không thể tìm thấy một người phụ nữ như thế trên đại lục Scotland đâu—bà ấy có thể cưỡi lên một trong những đám mây kia dễ dàng như người đời cưỡi ngựa sheltie vậy.”
“Rồi có ngày ta sẽ sống để thấy nó cưỡi trên làn khói của một thùng hắc ín béo ngậy,” bà Baby châm chọc; “và đó sẽ là cỗ ngựa cưỡi xứng tầm cho mụ ta.”
Một lần nữa Norna lại nhìn mụ Baby Yellowley đang phát cuồng bằng ánh mắt mang cái vẻ khinh miệt khôn tả mà những nét mặt kiêu kỳ của bà thể hiện rất xuất sắc, và di chuyển đến ô cửa sổ nhìn về hướng tây bắc, hướng mà ngọn gió bão dường như đang thổi tới lúc bấy giờ, bà đứng lặng trong chốc lát với hai tay khoanh trước ngực, phóng tầm mắt ra khoảng trời xám xịt như màu chì, vốn đang bị che khuất bởi lớp mây mù dày đặc, thứ cứ từng đợt cuồng phong nối tiếp nhau kéo đến, thỉnh thoảng lại bỏ lại những khoảng lặng buồn bã và ảm đạm giữa lúc ngọn gió đang lụi tàn và khi nó bùng phát trở lại.
Norna nhìn nhận cuộc chiến của các nguyên tố tự nhiên này như một người đã quá quen thuộc với sự tranh chấp của chúng; thế nhưng vẻ thanh thản lạnh lùng trên nét mặt bà vẫn phảng phất một nét kinh hoàng, đồng thời cũng đầy uy quyền, tựa như cách mà một kẻ luyện bùa phép hẳn sẽ nhìn vào vong linh mà hắn vừa triệu hồi, dẫu hắn biết cách khuất phục nó dưới câu chú của mình, nhưng nó vẫn mang một diện mạo khiến da gà da thịt phải run sợ. Những kẻ hầu đứng xung quanh với đủ mọi tư thế, biểu lộ những tâm trạng khác nhau của họ. Mordaunt, dù không hề dửng dưng trước hiểm họa mà họ đang đối mặt, lại thấy tò mò hơn là hoảng sợ. Cậu từng nghe đồn về quyền năng được cho là có thật của Norna đối với các hiện tượng tự nhiên, và giờ đây cậu kỳ vọng có dịp tự mình đánh giá tính chân thực của nó. Triptolemus Yellowley thì vô cùng bối rối trước những điều có vẻ vượt xa giới hạn triết lý của anh ta; và nói thật lòng, người làm nông đáng kính ấy còn sợ hãi hơn là ham tìm hiểu. Chị gái anh ta thì chẳng mảy may tò mò về vấn đề này; nhưng thật khó mà nói xem sự giận dữ hay nỗi sợ hãi chiếm ưu thế hơn trong đôi mắt sắc bén và đôi môi mím chặt mỏng manh của bà. Gã bán hàng rong và lão Tronda, đinh ninh rằng ngôi nhà sẽ chẳng thể nào sụp đổ chừng nào vị Norna lừng lẫy còn ở dưới mái hiên này, liền sẵn sàng chuồn ngay khoảnh khắc bà cất bước ra đi.
Sau khi đăm đăm nhìn bầu trời trong một tư thế cố định và trong sự tĩnh lặng sâu sắc nhất, Norna liền lập tức, nhưng với một cử chỉ chậm rãi và đầy cao ngạo, giơ chiếc gậy bằng gỗ sồi đen về phía bầu trời nơi ngọn gió thổi mạnh nhất, và giữa lúc cuồng phong cuồn cuộn nhất, bà cất giọng ngâm nga một bài khúc ca cầu khẩn của người Na Uy, vẫn còn được lưu truyền trên đảo Uist dưới tên gọi Khúc ca của Reimkennar, dẫu có người gọi nó là Khúc ca Cuồng phong. Bản dịch dưới đây là một bản dịch phóng tác, bởi vì việc dịch sát nghĩa từng câu chữ đối với nhiều thuật ngữ biểu đạt mang tính ẩn dụ và tỉnh lược vốn đặc trưng cho thơ ca Bắc Âu cổ đại là điều bất khả: