Hải Tặc

Lượt đọc: 175 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

“Ta bỏ luống cày nghèo đi cày sâu biển cả!”

Dibdin.

Khi vị thị trưởng và Cleveland quay lại phòng họp chung, vị thị trưởng lui vào lần thứ hai cùng với những vị bô lão mà ông thấy cần thiết phải bàn bạc; và trong lúc họ thảo luận về đề xuất của Cleveland, những món đồ giải khát được dọn lên cho ông và phe cánh của ông. Viên Thuyền trưởng cho phép thủ hạ dùng những món này, nhưng với sự đề phòng cẩn mật nhất để tránh bị tập kích, một nhóm luân phiên canh gác trong lúc nhóm kia ăn uống.

Trong lúc ấy, bản thân ông đi lại trong phòng, thản nhiên trò chuyện về những chủ đề tầm phào với những người có mặt.

Giữa những người này, hơi ngạc nhiên khi thấy Triptolemus Yellowley, người tình cờ có mặt ở Kirkwall, đã được các Thẩm phán triệu tập với tư cách là đại diện, ở một mức độ nào đó, của Lãnh chúa Tổng quản, để tham dự hội đồng nhân dịp này. Cleveland lập tức nối lại mối quen biết mà ông đã kết giao với nhà nông học tại Burgh-Westra, và hỏi về việc ông có mặt ở Orkney lần này.

“Chỉ để lo toan vài kế hoạch nhỏ của tôi thôi, Thuyền trưởng Cleveland. Tôi đã chán ngấy cảnh chiến đấu với muông thú chốn Ê-phê-xô đằng kia rồi, và tôi ghé qua đây để xem vườn cây ăn trái của mình phát triển ra sao, thứ mà tôi đã trồng cách Kirkwall chừng bốn, năm dặm vào khoảng một năm trước, và xem lũ ong phát triển thế nào, mà tôi đã nhập cảng tới chín thùng để cải tạo xứ sở này, và để biến hoa thạch thảo thành sáp với mật.”

“Và chúng phát triển tốt chứ, tôi hy vọng vậy?” Cleveland nói, dẫu chẳng mấy bận tâm đến vấn đề này, vẫn duy trì cuộc trò chuyện nhằm phá vỡ sự im lặng lạnh lẽo và ngượng ngùng bao trùm lấy những người có mặt.

“Phát triển á!” Triptolemus đáp; “chúng phát triển giống như mọi thứ khác ở xứ này, tức là thụt lùi đi.”

“Chắc là thiếu chăm sóc ư?” Cleveland nói.

“Ngược lại, thưa ông, hoàn toàn và tuyệt đối ngược lại,” Viên Quản lý đáp; “chúng chết vì được chăm sóc quá đà, y như bầy gà của Lucky Christie vậy.—Tôi xin đi xem các thùng ong, và gã nào được giao nhiệm vụ chăm sóc chúng trông thật ranh mãnh và hớn hở làm sao—‘Ước gì có ai khác trông nom ngoài tôi,’ hắn nói, ‘thì ông đã có thể thấy các thùng ong, hay bất cứ thứ gì ông gọi chúng; nhưng mà lũ ngỗng mòng biển sẽ bay đầy trong ấy chứ chẳng chơi, nếu không nhờ có bốn cẳng của tôi; vì tôi canh chừng chúng kỹ đến mức thấy chúng bò lổm ngổm ra khỏi các lỗ nhỏ vào một buổi sáng đầy nắng, và nếu tôi không bịt kín chỗ rò rỉ ngay lập tức bằng một nhúm đất sét, thì cái thây ma nhà nó chứ đừng mong còn con ong hay con ru nào sót lại trong cái gọi là thùng ong của ông!’—Nói ngắn gọn, thưa ông, hắn đã bịt kín các tổ ong cứ như thể tội nghiệp lũ chúng mắc dịch hứa, và lũ ong của tôi chết cứng họng như thể bị xông khói vậy—và thế là hy vọng của tôi chấm hết, *generandi gloria mellis*, như lời Virgilius.”

“Thế là hết mẻ rượu mật của ông rồi,” Cleveland đáp; “nhưng còn cơ may về rượu táo thì sao?—Khu vườn phát triển ra sao rồi?”

“Ôi Thuyền trưởng! Chính cái tên Sa-lô-môn của xứ Ô-phia thuộc quần đảo Orkney này—tôi chắc chẳng ai cần phải cử người tới đó để kiếm tạ vàng hay tạ trí khôn cả!—Tôi bảo này, gã khôn ngoan ấy đã tưới nước nóng cho những cây táo non bằng tất cả lòng ân cần của hắn, và chúng đã chết rụi từ gốc đến ngọn! Nhưng than thở thì được ích gì?—Và tôi ước gì thay vào đó ông hãy nói cho tôi hay, tất cả cái sự huyên náo mà mấy người tốt lành này đang làm về bọn cướp biển là thế nào? Và tại sao tất cả những kẻ có diện mạo dữ tợn mang vũ khí y hệt đám người miền núi lại tụ tập trong phòng xét xử thế này?—vì tôi vừa từ bên kia đảo đến, và chẳng nghe được gì rõ ràng về chuyện đó cả.—Và giờ khi nhìn lại chính ông, Thuyền trưởng, tôi nghĩ ông mang theo người mấy khẩu súng lục ngớ ngẩn ấy nhiều hơn mức cần thiết cho một người lương thiện trong thời buổi yên bình đấy chứ?”

“Tôi cũng nghĩ vậy,” vị Thần biển ôn hòa Haagen nói, người từng là kẻ miễn cưỡng đi theo Montrose hào hiệp; “nếu ngài ở thung lũng Edderachyllis, khi chúng ta bị Sir John Worry hành hạ khổ sở dường ấy”——

“Ông quên béng mất rồi, hàng xóm Haagen ạ,” Viên Quản lý nói; “Sir John Urry đứng về phía ông, và đã bị bắt cùng với Montrose; bằng chứng là ông ta đã bị trảm quyết.”

“Thế à?” vị Thần biển nói.—“Tôi tin là ông nói đúng; vì ông ta đổi phe tới mấy lần, và ai mà biết được ông ta chết vì lý do gì chứ?—Nhưng dù sao ông ta có ở đó, và tôi cũng vậy;—một trận chiến đã diễn ra, và tôi chẳng bao giờ muốn thấy trận thứ hai nữa!”

Sự xuất hiện của vị thị trưởng lúc này đã cắt ngang cuộc trò chuyện tản mạn của họ.—“Chúng tôi đã quyết định,” ông nói, “Thuyền trưởng ạ, rằng tàu của ông sẽ vòng ra Stromness, hoặc Scalpa-flow, để nhận tiếp liệu, nhằm không để xảy ra thêm cuộc cãi vã nào giữa dân chúng hội chợ và thủy thủ của ông. Và vì ông muốn ở lại trên bờ để xem hội chợ, chúng tôi dự định cử một quý ông đáng kính lên tàu của ông để hoa tiêu vòng quanh Đại Lục, vì vùng biển này khá hiểm hóc.”

“Nói năng đúng chất một vị quan chức bình tĩnh và minh triết, ngài Thị trưởng,” Cleveland nói, “và không ngoài dự tính của tôi.—Và vị quý ông nào sẽ vinh dự ngự trên đài chỉ huy trong thời gian tôi vắng mặt?”

“Chúng tôi cũng đã định đoạt chuyện đó rồi, Thuyền trưởng Cleveland,” vị thị trưởng nói; “ông có thể chắc chắn rằng ai trong chúng tôi cũng háo hức hơn những người khác được đi trên một chuyến hải trình thú vị như thế, và với những bạn đồng hành tuyệt vời nhường ấy; nhưng vì đang là mùa hội chợ, phần lớn chúng tôi đều có việc bận rộn — bản thân tôi, vì trọng trách của mình, không thể dễ dàng rời đi — vợ của vị Phó thẩm phán cả đang ở cữ — viên Thủ quỹ thì không hợp với biển khơi — hai vị Phó thẩm phán bị bệnh gút — hai vị khác vắng mặt ở thị trấn — và mười lăm thành viên hội đồng còn lại đều đang bận rộn với công việc riêng.”

“Tất cả những gì tôi có thể nói với ông, ngài Thị trưởng,” Cleveland cất cao giọng, “đó là tôi mong đợi”——

“Xin kiên nhẫn một chút, nếu ông không phiền, Thuyền trưởng,” vị thị trưởng nói, cắt ngang lời ông.—“Thế nên chúng tôi đã đi đến quyết định rằng vị Triptolemus Yellowley đáng kính của chúng tôi, người giữ chức Quản lý cho Lãnh chúa Tổng quản của các quần đảo này, sẽ được ưu tiên trao cho vinh dự và niềm vui được đồng hành cùng ông, do vị thế chính thức của ông ấy.”

“Tôi ư!” Triptolemus kinh ngạc thốt lên; “quỷ tha ma bắt nào thèm đi trên mấy chuyến hải trình của các ông chứ?—công việc của tôi là ở trên đất liền!”

“Mấy vị ấy cần một người hoa tiêu,” vị thị trưởng thì thầm vào tai ông, “và không đời nào né tránh việc cử một người cho họ được.”

“Họ muốn đâm bổ vào bờ đấy phỏng?” Viên Quản lý nói—“quỷ khốc thần sầu thế nào mà tôi hoa tiêu cho họ được, khi mà đời tôi chưa từng chạm vào tay lái lần nào?”

“Suỵt!—suỵt!—im lặng đi!” vị thị trưởng nói; “nếu dân tình ở thị trấn này nghe ông thốt ra câu đó, thì sự hữu ích, lòng kính trọng, địa vị và mọi thứ khác của ông sẽ cuốn theo chiều gió hết!—Chẳng ai coi trọng bất cứ kẻ nào trong số chúng tôi cả, trừ phi kẻ đó biết kéo dây, thu buồm và lái tàu.—Hơn nữa, đó chỉ là một thủ tục hình thức thôi; và chúng tôi sẽ cử lão Pate Sinclair đi giúp ông. Ông chẳng phải làm gì ngoài việc ăn, uống và vui chơi suốt cả ngày.”

“Ăn với uống!” Viên Quản lý nói, không sao hiểu nổi tại sao nhiệm vụ này lại được trút lên đầu ông một cách vội vã đến thế, mà lại không đủ khả năng chống cự hay tự gỡ mình ra khỏi cái bẫy của vị thị trưởng cáo già — “Ăn với uống?—nghe thì hay đấy; nhưng nói thật lòng, biển khơi chẳng hợp với tôi hơn là với viên Thủ quỹ; và tôi lúc nào cũng có cảm giác thèm ăn thèm uống ở trên bờ hơn.”

“Suỵt! suỵt! suỵt!” vị thị trưởng lại cất tiếng với giọng hạ thấp đầy khẩn khoản; “chẳng lẽ ông định hủy hoại hoàn toàn danh tiếng của mình hay sao?—Là Quản lý của Đại Lãnh chúa Quần đảo Orkney và Zetland mà lại không thích biển ư!—thà ông nhận mình là một kẻ miền núi mà không thích rượu whisky còn hơn!”

“Các người phải quyết định thế nào đi chứ, thưa các quý ông,” Thuyền trưởng Cleveland nói; “đã đến lúc chúng ta nhổ neo rồi.—Ngài Triptolemus Yellowley, chúng tôi có được vinh dự có sự đồng hành của ông chứ?”

“Tôi chắc chắn rằng, Thuyền trưởng Cleveland,” Viên Quản lý lắp bắp, “tôi chẳng có ý kiến gì khi đi bất cứ đâu cùng ông — chỉ có điều”——

“Ông ấy không có ý kiến gì,” vị thị trưởng chộp lấy vế đầu của câu nói mà không đợi nghe cho hết phần kết.

“Ông ấy không có ý kiến gì,” viên Thủ quỹ hô lên.

“Ông ấy không có ý kiến gì,” cả bốn vị Phó thẩm phán đồng thanh cất giọng hát vang; và mười lăm vị Ủy viên hội đồng, đều bắt lấy cùng một cụm từ tán thành ấy, đồng thanh lặp lại, kèm theo những lời ca tụng như — “người tốt” — “vì lợi ích chung” — “quý ông đáng kính” — “thị trấn mang ơn đời đời” — “tìm đâu ra một vị Quản lý đáng mến nhường này?” vân vân và vân vân.

Kinh ngạc và hoang mang trước những lời ca tụng ngập tràn từ mọi phía, và hoàn toàn không hiểu nổi bản chất của vụ việc đang diễn ra, vị nhà nông học đang bàng hoàng và choáng váng đành bất lực trước việc đóng vai Curtius của thành Kirkwall bị gán ghép cho một cách đầy thâm độc, và được Thuyền trưởng Cleveland giao lại cho thủ hạ của ông với những lời dặn dò nghiêm ngặt nhất phải đối xử với ông bằng sự kính trọng và chu đáo. Goffe cùng đồng bọn lúc này bắt đầu lôi ông đi giữa những tràng pháo tay của toàn thể hội nghị, y như cách mà nạn nhân thời cổ đại từng được đeo vòng hoa và chào mừng bằng những tiếng hò reo khi được trao cho các tư tế để dẫn đến bàn thờ và đập vào đầu, làm vật tế thần cho quốc thái dân an. Chính trong lúc họ dắt và gần như áp tải ông ra khỏi phòng họp, tội nghiệp Triptolemus, vô cùng hoảng sợ khi thấy Cleveland, người mà ông dặt một chút tin tưởng, lại ở lại phía sau, đã thử dùng đến tiếng rống phản đối cuối cùng ngay khi chuẩn bị bước qua cửa.—“Không, nhưng mà!—Thị trưởng!—Phó thẩm phán!—Thủ quỹ!—Ủy viên hội đồng!—nếu Thuyền trưởng Cleveland không lên tàu để bảo vệ tôi, thì đây không phải là một vụ giao kèo, và tôi kiên quyết không đi, trừ phi bị lôi đi bằng dây thừng cày!”

Tuy nhiên, lời phản đối của ông đã bị át đi bởi tiếng đồng thanh nhất trí của các Thẩm phán và Ủy viên hội đồng — gửi lời cảm ơn vì tinh thần vì cộng đồng của ông — chúc ông có một chuyến hải trình thuận buồm xuôi gió — và cầu nguyện Thiên Chúa cho ông sớm ngày trở về bình an. Choáng váng và ngơ ngác, và nghĩ rằng, dẫu có bất kỳ suy nghĩ rõ ràng nào đi nữa, thì việc phản đối cũng là vô ích khi cả bạn bè lẫn người lạ dường như đều quyết tâm ép cho bằng được, Triptolemus đành xuôi tay để họ dẫn ra đường phố mà chẳng dám kháng cự thêm chút nào, nơi thủy thủ đoàn của tên cướp biển đang tụ tập quanh ông và bắt đầu di chuyển chậm chạp về phía bến tàu, rất nhiều dân thị trấn tò mò đi theo nhưng không hề có ý định cản trở hay quấy rối; bởi vì sự thỏa hiệp hòa bình mà sự khéo léo của vị thị trưởng đứng đầu đạt được đã được nhất trí phê chuẩn như một phương án giải quyết các tranh chấp giữa họ và những kẻ lạ mặt tốt hơn nhiều so với kết quả đầy mơ hồ của việc dùng vũ lực.

Trong lúc đó, khi họ chậm rãi bước đi, Triptolemus có thời gian để quan sát diện mạo, nét mặt và trang phục của những kẻ mà ông vừa bị trao vào tay, và bắt đầu mường tượng ra trong ánh mắt của chúng không chỉ vẻ biểu trưng chung của một kẻ liều lĩnh, mà còn cả những ý đồ bất chính nhắm riêng vào bản thân ông. Ông vô cùng hoảng sợ trước ánh mắt hung ác của Goffe, kẻ đang nắm chặt tay ông với một cú siết có độ tinh tế gợi nhớ đến lực ép của chiếc ê-tô thợ rèn, liếc xéo ông từ khóe mắt hệt như cách con đại bang nhìn chằm chằm con mồi mà nó đã vồ lấy, trước khi tiến hành việc mà người ta gọi theo chuyên môn là tỉa lông nó. Cuối cùng, nỗi sợ hãi của Yellowley đã vượt qua cả sự cẩn trọng của mình, khiến ông đả động thẳng với kẻ cầm đầu đáng sợ bằng một giọng thì thầm nức nở, “Các người định sát hại tôi hay sao, thưa Thuyền trưởng, ngay giữa ban ngày ban mặt trước luật pháp của cả Thiên Chúa lẫn con người?”

“Câm mồm lại nếu còn muốn khôn hồn,” Goffe nói, kẻ có những lý do riêng để muốn làm gia tăng sự hoảng loạn của tù nhân; “chúng ta đã ba tháng nay không giết người nào rồi, và sao ngươi lại cứ khơi gợi chuyện đó lên làm gì?”

“Ngươi chỉ đang đùa cợt thôi phải không, thưa ngài Thuyền trưởng đáng kính!” Triptolemus đáp. “Chuyện này còn tệ hơn cả phù thủy, người lùn, đâm lén cá voi và lật úp thuyền con gộp lại với nhau hết đấy!—đây quả là một vụ mùa thất bát mang đầy tính báo thù!—Lạy Chúa, việc sát hại tôi thì mang lại lợi ích gì cho các người chứ?”

“Ít ra chúng ta cũng có chút niềm vui trong đó,” Goffe nói.—“Nhìn thẳng vào mặt mấy tên này xem, và thử xem có gã nào trong số chúng thà giết người còn hơn là bỏ qua không?—Nhưng chúng ta sẽ bàn thêm về chuyện đó sau khi ngươi đã nếm thử mùi cùm sắt — trừ phi, quả thực, ngươi chịu dốc hầu bao một nạm đô-la Tây Ban Nha tròn trịa hậu hĩnh làm tiền chuộc.”

“Có sống nhờ bánh mì đi chăng nữa, thưa Thuyền trưởng,” Viên Quản lý đáp, “tên lùn quái dị đó đã cuỗm đi cả cái tù và bạc rồi!”

“Một cây roi da chín khúc sẽ khiến ngươi nhớ ra thôi,” Goffe cục cằn đáp; “đòn roi ngâm nước muối là một liều thuốc tuyệt vời để gợi lại tài sản trong đầu một kẻ nào đó — siết một sợi dây cung quanh hộp sọ cho đến khi tròng mắt lồi ra một chút cũng là một công cụ gợi nhớ rất hay đấy.”

“Thuyền trưởng,” Yellowley dõng dạc đáp, “tôi không có tiền — những người làm nông nghiệp cải tiến hiếm khi có lắm. Chúng ta biến đồng cỏ thành đất canh tác, lúa mạch thành yến mạch, thạch thảo thành cỏ xanh, và cái vùng yarpha nghèo nàn, như mấy sinh vật tối tăm ở đây gọi mấy bãi bùn than bùn của chúng, thành đồng cỏ mỡ màng; nhưng chúng tôi hiếm khi kiếm được thứ gì lọt vào cái túi của chính mình lắm. Mấy lão nhà nông và đám ngựa cày tạo ra tất cả, mấy lão nhà nông và đám ngựa cày ăn sạch tất cả, và quỷ tha ma bắt tất thảy đi!”

“Thôi được, thôi được,” Goffe nói, “nếu ngươi thực sự là một gã khốn khổ như ngươi giả vờ, ta sẽ đứng ra bảo vệ ngươi;” đoạn, hắn cúi đầu sát vào tai Viên Quản lý đang phải nhón gót vì sốt ruột, và thì thầm: “Nếu còn tiếc mạng sống, đừng có bước lên chiếc thuyền đó cùng chúng ta.”

“Nhưng làm sao tôi thoát khỏi các người được, trong khi các người túm chặt tay tôi thế này, đến mức dẫu toàn bộ vụ mùa trong năm của Scotland có đang đặt cược vào đó thì tôi cũng chẳng tài nào chuồn nổi?”

“Nghe đây, đồ ngốc,” Goffe nói, “đúng lúc ngươi tới sát mép nước, và khi lũ ôn dịch đang nhảy lên tàu và cầm lấy mái chèo, hãy quay ngoắt người sang mạn trái — ta sẽ buông tay ngươi ra — và rồi cắm cổ mà chạy giữ lấy mạng sống!”

Triptolemus làm đúng như lời được dặn, bàn tay sẵn lòng của Goffe nới lỏng cái túm như đã hứa, nhà nông học lăn vù đi như một quả bóng đá vừa nhận phải một cú đá mạnh từ chân của một cầu thủ, và với tốc độ khiến chính bản thân lẫn mọi người chứng kiến đều kinh ngạc, ông cắm cổ chạy thục mạng qua thị trấn Kirkwall. Thậm chí, sức bật trong cuộc trốn chạy của ông mạnh mẽ đến mức, cứ như thể cái nắm tay của tên cướp biển vẫn đang chực chờ chồm tới vồ lấy ông, ông không hề dừng lại cho đến khi vượt qua toàn bộ thị trấn và đặt chân ra vùng đồng trống ở phía bên kia. Những ai chứng kiến ông vào ngày hôm đó — chiếc mũ và bộ tóc giả rơi mất trong nỗ lực lao vọt về phía trước, chiếc khăn quàng cổ xộc xệch và chiếc áo ghi-lê phanh ngực — và có cơ hội so sánh thân hình tròn vo hình cầu cùng đôi chân ngắn ngủn của ông với tốc độ kinh hoàng khi ông càn quét qua đường phố, hẳn phải thốt lên rằng nếu cơn giận dữ ban cho ta vũ khí, thì sự sợ hãi ban cho ta đôi cánh. Ngay cả cách chạy của ông cũng có nét đặc trưng của loài cừu lông cừu, bởi vì, y như một con cừu đực giữa lúc đang đua tốc độ, chốc chốc ông lại tự cổ vũ bản thân bằng một cú nhảy tưng bừng, dẫu chẳng có vật cản nào ngáng đường.Tên nhà nông học không hề bị đuổi theo; và dẫu có một hoặc hai khẩu súng hỏa mai được giơ lên nhằm tiễn theo ông một sứ giả bằng chì, thì Goffe, trong vai trò kẻ kiến tạo hòa bình lần đầu tiên trong đời, đã phóng đại quá mức những mối nguy hiểm sẽ giận dữ bùng lên nếu phá vỡ thỏa thuận hòa bình với dân chúng Kirkwall, khiến hắn thuyết phục được thủy thủ đoàn từ bỏ mọi hành động thù địch công khai và mau chóng chèo về tàu của họ.

Đám thị dân, những kẻ coi vụ trốn thoát của Triptolemus là một chiến thắng về phía họ, đã hô vang ba tiếng hoan hô hướng về chiếc thuyền như một lời chào tạm biệt đầy miệt thị; trong khi các Thẩm phán, mặt khác, lại vô cùng lo lắng về những hậu quả có thể xảy ra từ việc phá vỡ các điều khoản giữa họ và bọn cướp biển; và nếu có thể tóm được kẻ trốn chạy một cách thật kín đáo, thay vì tôn vinh hắn bằng một bữa tiệc thành thị để vinh danh sự nhanh nhẹn mà hắn thể hiện, rất có thể họ đã giao nộp con tin trốn trại ấy trở lại vào tay kẻ thù của hắn một cách không thương tiếc. Nhưng thật bất khả kháng khi công khai đứng về phía một hành động bạo lực như thế, nên họ đành bằng lòng với việc theo dõi sát sao Cleveland, kẻ mà họ quyết định sẽ bắt phải chịu trách nhiệm cho bất kỳ hành động gây hấn nào có thể do bọn cướp biển mưu tính. Về phần mình, Cleveland dễ dàng đoán ra động cơ khiến Goffe để con tin trốn thoát là nhằm đẩy mọi hậu quả lên đầu ông, và đặt niềm tin nhiều hơn vào lòng trung thành cũng như sự khôn ngoan của người bạn kiêm bề tôi trung thành Frederick Altamont, hay còn gọi là Jack Bunce, thay vì bất cứ ai khác, ông chờ đợi kết quả với nỗi lo âu đáng kể, bởi vì các Thẩm phán, dẫu vẫn tiếp tục đối xử với ông bằng sự nhã nhặn, đã ngầm ám chỉ rằng họ sẽ điều chỉnh cách đối xử với ông dựa vào hành vi của thủy thủ đoàn, dẫu ông không còn chỉ huy họ nữa.

Tuy nhiên, không phải là không có cơ sở khi ông đặt niềm tin vào lòng trung thành tuyệt đối của Bunce; bởi vì ngay khi bề tôi đáng tin cậy ấy nhận được tin tức từ Goffe và thủy thủ đoàn về việc Triptolemus trốn thoát, hắn ngay lập tức kết luận rằng sự việc đã được tiếp tay bởi vị Thuyền trưởng quá cố, nhằm mục đích khiến Cleveland bị xử tử hoặc bị giam cầm vô thời hạn, qua đó Goffe có thể được thỉnh cầu quay lại nắm quyền chỉ huy con tàu.

“Nhưng lão quản ca say xỉn đó sẽ tính toán sai bét nhè thôi,” Bunce nói với đồng phạm Fletcher của mình; “nếu không thì ta sẵn sàng từ bỏ cái tên Altamont, và cứ gọi ta là Jack Bunce, hay Jack Ngốc nghếch nếu các ngươi thích thế, cho đến hết chương này luôn.”

Tận dụng một thứ hùng biện mang phong cách thủy thủ mà kẻ thù của hắn gọi là lời lẽ ba hoa khoác lác, Bunce đã bày tỏ trước toàn thể thủy thủ đoàn một cách vô cùng sinh động nỗi ô nhục mà tất cả bọn họ đang phải gánh chịu, do vị Thuyền trưởng của họ vẫn đang, theo cách hắn dùng từ, bị giam trong cùm sắt mà chẳng có lấy một con tin nào để đảm bảo sự an toàn cho ông; và hắn đã thành công rực rỡ đến mức, bên cạnh việc khơi dậy sự bất mãn lớn đối với Goffe, hắn đã khiến thủy thủ đoàn đi đến quyết định chiếm lấy con tàu đầu tiên có vẻ ngoài kha khá, đồng thời tuyên bố rằng con tàu, thủy thủ đoàn và hàng hóa sẽ bị xử lý theo đúng cách thức mà Cleveland được đối xử trên bờ. Đồng thời, người ta cũng đánh giá là nên thử thách lòng tin của dân chúng Orcadians bằng cách rời khỏi vũng neo đậu ở Kirkwall và vòng sang vũng neo đậu ở Stromness, nơi mà theo hiệp ước giữa Thị trưởng Torfe và Thuyền trưởng Cleveland, họ sẽ nhận tiếp liệu lương thực cho chiếc tàu lườn đơn của mình. Trong thời gian đó, họ quyết định trao quyền chỉ huy con tàu cho một hội đồng, bao gồm Goffe, viên quản ca và chính Bunce, cho đến khi Cleveland có đủ khả năng để tiếp quản lại quyền chỉ huy.

Những nghị quyết này sau đó đã được đề xuất và chấp thuận, họ nhổ neo và cho tàu lườn đơn giương buồm ra khơi mà không gặp phải bất kỳ sự chống đối hay quấy rầy nào từ phía khẩu đội pháo, điều này đã giúp họ gạt bỏ được một mối bận tâm lớn vốn gắn liền với hoàn cảnh ngặt nghèo của họ.

[37] Thường được gọi bởi những người trên đất liền là đồng đô la Tây Ban Nha.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Walter Scott

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.