Hẳn chàng là một thiếu niên khôi ngô tuấn tú;
Con báo trong chốn hoang vu
Cũng chẳng đẹp đẽ bằng chàng;
Và khi chàng đùa vui nhảy nhót,
Chẳng chú cá heo nào vui tươi hơn thế,
Trên vùng biển nhiệt đới mênh mông.
Wordsworth.
Bước chân lanh lẹ của Mordaunt Mertoun chẳng mất bao lâu để đưa chàng về tới Jarlshof. Chàng vội vã bước vào nhà, bởi những gì bản thân tận mắt chứng kiến sáng hôm ấy phần nào khớp với những suy đoán mà câu chuyện của Swertha có thể gợi lên. Tuy nhiên, chàng lại thấy cha mình đang nghỉ ngơi sau quãng đường mỏi mệt ở căn phòng phía trong; và câu hỏi đầu tiên đã làm chàng yên tâm rằng mụ quản gia tốt bụng chỉ tung ra một chút chiêu trò để tống khứ cả hai cha con họ đi mà thôi.
– Con người đang hấp hối mà ngươi đã khôn ngoan liều cả cái cổ của mình để cứu giúp hiện đang ở đâu? – Mertoun cha hỏi con trai.
– Thưa cha, Norna đã tiếp nhận chăm sóc ông ấy; bà ấy rất am hiểu những việc đó – Mordaunt đáp.
– Vừa là lang băm vừa là phù thủy nữa sao? – Mertoun cha nói. – Thôi được, thế thì tốt quá, đỡ phải bận tâm. Nhưng ta đã vội vã chạy về nhà theo lời gợi ý của Swertha để tìm bông băng và nẹp gỗ; vì lời mụ ta nói là về những khúc xương bị gãy.
Mordaunt giữ im lặng, thừa hiểu rằng cha mình sẽ không truy vấn đến cùng về một vấn đề như vậy, đồng thời chàng cũng không muốn làm mụ quản gia già bị định kiến xấu hay kích động cha mình nổi cơn thịnh nộ — loại giận dữ mà ông dễ dàng bùng phát khi thấy cần phải chấn chỉnh lại hạnh kiểm của người hầu, dẫu điều đó vốn không phải thói quen của ông.
Đã muộn trong ngày khi mụ Swertha già trở về sau chuyến đi, mệt mỏi rã rời và mang theo một bói hàng khá cồng kềnh, trông có vẻ như là phần chiến lợi phẩm của mụ. Mordaunt lập tức tìm gặp mụ để trách cứ về những trò lừa đảo mà mụ đã dùng với cả cha lẫn chàng; nhưng người đàn bà bị cáo buộc chẳng hề thiếu lời đáp trả.
– Thề có đức tin của mình, mụ ta nói, mụ nghĩ đã đến lúc giục ông Mertoun khăn gói về nhà lấy bông băng, khi mụ tận mắt chứng kiến Mordaunt lao cắm cổ xuống vách đá chẳng khác nào một con mèo rừng — dễ là gãy xương lắm chứ chẳng chơi, và may ra thì băng bó mới cứu vãn nổi; — và thề có đức tin, mụ hoàn toàn có quyền bảo Mordaunt rằng cha cậu nom phờ phạc, mặt cắt không còn giọt máu, (mà mụ xin thề chết rằng đó chính xác là từ mụ đã dùng), và điều đó chẳng ai có thể chối cãi nổi vào ngay lúc này.
– Nhưng này Swertha, Mordaunt liền nói ngay khi lời biện hộ ồn ào của mụ vừa dứt để chàng có dịp lên tiếng, sao một người lẽ ra phải bận rộn với chuyện nội trợ và quay sợi như bà lại có mặt ở Bậc thềm Erick sáng nay, để rồi bày ra cái sự quan tâm thừa thãi ấy cho cha con tôi? Và cái gì trong bói đồ đó thế, hở Swertha? Vì tôi e rằng bà đã phạm luật và tham gia vào bè lũ hôi của đắm tàu rồi đấy.
– Chúc cho cái mặt phúng phính phúc hậu của cậu gặp nhiều may mắn, và xin thánh Ronald ban phước cho cậu! Swertha cất lời với giọng điệu nửa nịnh nọt nửa đùa cợt; há cậu lại nỡ ngăn cản một kẻ nghèo hèn tự mưu sinh kiếm sống, khi mà biết bao nhiêu là đồ đạc đang nằm ngổn ngang trên cát mặc sức cho người ta lượm lặt hay sao? Chứ lị, thưa ngài Mordaunt, một con tàu dạt bờ còn đủ sức dụ vị mục sư bước ra khỏi cái bục giảng giữa lúc đang thuyết giáo nữa là một mụ già nghèo khổ dốt nát rời khỏi guồng quay và cuộn sợi của mình. Mà tôi có vớ được mấy đâu cho một ngày nhọc nhằn — chỉ dăm mảnh vải cambric rách cùng dăm ba mảnh thô kệch và đại loại thế — kẻ mạnh người khỏe mới vơ vét được hết thảy ở cái cõi đời này cơ chứ.
– Đúng vậy, Swertha, Mordaunt đáp, và điều đó thật chẳng công bằng chút nào, bởi bà thế nào cũng phải gánh lấy phần trừng phạt ở thế giới này lẫn thế giới bên kia vì tội cướp bóc những người thủy thủ khốn khổ.
– Ái chà, đồ nhóc con, ai lại đi trừng phạt một mụ già như tôi vì dăm ba cái giẻ rách chứ? Người ta cứ hay nói xấu đủ điều về Bá tước Patrick; nhưng ngài ấy vốn là một ân nhân của vùng bờ biển này và đã đặt ra những điều luật khôn ngoan để ngăn cản bất cứ ai giúp đỡ những con tàu sắp đâm vào đá ngầm. Và đám thủy thủ, tôi nghe Bryce Jagger bảo thế, đã mất hết quyền lợi ngay từ khi sống thuyền chạm vào cát; hơn nữa, họ đều đã chết và đi khuất mắt rồi, những linh hồn tội nghiệp — chết cả rồi, và giờ thì bận tâm gì đến của cải trần gian nữa — Chẳng khác nào các vị Jarl vĩ đại và các Vua Biển thời Bắc Âu xưa kia từng bận tâm về những kho báu họ chôn giấu trong các ngôi mộ cổ từ thuở xửa thuở xưa. Tôi đã bao giờ kể cho cậu nghe câu chuyện về việc Olaf Tryguarson ép người ta giấu năm đồng tiền vàng trong chính ngôi mộ chôn hắn ta chưa, thưa ngài Mordaunt?
– Chưa, Swertha ạ, Mordaunt đáp — chàng vốn thích thú việc trọc giận mụ mỏ lết già ranh mãnh ấy — bà chưa từng kể chuyện đó cho tôi nghe; nhưng tôi nói cho bà hay, vị khách lạ mà Norna đã đưa về làng ngày mai sẽ hoàn toàn khỏe mạnh để hỏi xem bà đã giấu những món đồ trộm được từ con tàu đắm ở xó nào đấy.
– Nhưng ai thèm hé răng nửa lời về chuyện đó với ông ta chứ, cục cưng? Swertha nói, ánh mắt ranh mãnh ngước lên nhìn khuôn mặt cậu chủ trẻ; — Huống chi, nhân đây tôi cũng phải nói cho cậu hay, tôi còn giữ được một khúc lụa đẹp tuyệt trọn vẹn trong số đồ đạc đó, đủ để may một chiếc áo ghi-lê thật xinh xắn cho cậu diện trong buổi tiệc vui nào cậu sắp sửa tới đấy.
Mordaunt không tài nào nhịn cười được trước sự ranh mãnh khi mụ già định dùng một phần chiến lợi phẩm để mua chuộc sự im lặng của chàng; và sau khi bảo mụ chuẩn bị sẵn thứ gì đó cho bữa tối, chàng quay trở lại với người cha mà chàng thấy vẫn đang ngồi ở chốn cũ, gần như ở nguyên tư thế khi chàng vừa rời đi.
Khi bữa ăn đạm bạc và vội vã kết thúc, Mordaunt thông báo với cha ý định đi xuống làng để thăm nom người thủy thủ sống sót sau vụ đắm tàu.
Mông-tơn cha gật đầu đồng ý.
– Chắc hẳn ông ấy không được chu đáo lắm ở dưới đó đâu, thưa cha, con trai ông nói thêm — một lời gợi ý chỉ nhận lại thêm một cái gật đầu tán thành. Trông diện mạo của ông ấy, Mordaunt tiếp lời, có vẻ thuộc tầng lớp rất quyền quý — và dẫu những con người khốn khổ ấy đã cố gắng hết sức để tiếp đón ông ấy trong tình trạng suy yếu hiện tại, nhưng...
– Ta biết con định nói gì rồi, cha cậu cắt lời; con nghĩ chúng ta nên làm điều gì đó để giúp đỡ ông ấy. Vậy thì cứ đến gặp ông ta đi — nếu ông ta thiếu tiền, cứ để ông ta nêu con số, và ông ta sẽ có nó; nhưng còn việc cho người lạ trọ lại đây và qua lại với hắn ta thì ta không thể và cũng không đời nào làm thế. Ta đã lui về tận cùng góc biển chân trời này của quầnạn đảo Anh để tránh xa những người bạn mới, những khuôn mặt mới, và chẳng ai được phép xâm phạm vào chốn này dẫu là niềm vui hay nỗi khổ của họ. Khi con đã trải sự đời thêm tầm chục năm nữa, những người bạn thuở niên thiếu sẽ cho con lý do để tưởng nhớ họ và tránh xa những gương mặt mới trong suốt phần đời còn lại. Đi đi — sao con cứ đứng lì ra đấy? — hãy tống kẻ đó đi khuất mắt khỏi vùng này — đừng để ta phải trông thấy ai quanh đây ngoài những bộ mặt thô tục đó, lũ mà ta thừa rõ mức độ và bản chất của những mánh khóe vặt vãnh ấy, và ta có thể chịu đựng chúng như một điều tai họa quá ư vụn vặt chẳng đáng để bực mình. Nói đoạn, ông ném chiếc ví về phía con trai và ra hiệu cho chàng mau chóng khởi hành.
Chẳng mấy chốc Mordaunt đã đến được ngôi làng. Trong mái tranh tối tăm của Neil Ronaldson, viên Ranzelman, chàng thấy người khách lạ đang ngồi sưởi bên đống lửa than bùn, ngay trên chiếc rương từng khơi gợi lòng tham của gã thương hồ sùng đạo Bryce Snailsfoot. Bản thân viên Ranzelman thì vắng nhà, đang bận rộn chia chác một cách vô cùng công bằng chiến lợi phẩm từ con tàu đắm cho những dân làng tại đây; lắng nghe và giải quyết những khiếu nại của họ về sự bất công bằng; đồng thời (nếu như sự việc từ đầu đến cuối không phải là thứ hoàn toàn bất chính và không thể bào chữa) làm tròn vai trò của một vị quan tòa khôn ngoan và thận trọng trong mọi tiểu tiết. Bởi vào thời điểm này, và có lẽ kéo dài mãi cho đến tận sau này, những tầng lớp bần dân trên đảo vẫn ôm giữ một quan niệm, vốn cũng phổ biến ở những kẻ dã man trong cùng hoàn cảnh, rằng bất cứ thứ gì trôi dạt vào bờ biển của họ đều trở thành tài sản không thể tranh cãi của họ.
Margery Bimbister, người vợ đáng kính của viên Ranzelman, là người trông coi nhà cửa và dẫn Mordaunt diện kiến vị khách của bà ta, đoạn cất lời chẳng chút khách sáo: – Đây là cậu chủ đất trẻ tuổi — Chắc ngài sẽ nói cho cậu ấy biết tên mình, dẫu ngài có giấu tụi này đi chăng nữa. Chứ nếu không nhờ có bốn cẳng của cậu ta ghé qua, thì suốt quãng đời còn lại ngài cũng chẳng hé răng với ai lấy một lời đâu.
Người khách lạ đứng dậy, bắt tay Mordaunt và bày tỏ rằng ông hiểu chính chàng là người đã cứu mạng sống và chiếc rương của mình.
– Còn phần tài sản còn lại, ông nói, thì tôi thấy đang bước lên ván nhảy rồi đấy; vì chúng bu lại chẳng khác nào quỷ sứ trong trận cuồng phong.
– Thế thì tài nghệ hàng hải của ông đem ra để làm gì, mà lại để cho tàu đâm vào Sumburgh-head? Margery vặn lại. – Còn lâu Sumburgh-head mới thèm tìm đến ông nhé.
– Xin hãy để chúng tôi yên một lát, thưa Margery Bimbister tốt bụng, Mordaunt nói; tôi muốn có vài lời riêng tư với vị quý ông này.
– Quý ông cơ đấy! Margery nhấn mạnh; không phải là gã đàn ông này trông không được mắt, bà ta nói thêm khi đảo mắt ngắm nhìn ông ta lần nữa, nhưng tôi nghi ngờ liệu có mấy chút chất quý ông ở gã này không cơ chứ.
Mordaunt nhìn vị khách lạ và có suy nghĩ ngược lại. Ông ta có chiều cao hơi quá mức trung bình, vóc dáng vừa đẹp đẽ lại vừa vạm vỡ. Mối quan hệ xã hội của Mordaunt không rộng; nhưng chàng thấy người quen mới này, bên cạnh gương mặt nam tính rám nắng từng trải qua bao vùng khí hậu, còn phảng phất phong thái cởi mở, bộc trực của một hải hồ. Ông ta vui vẻ trả lời những câu hỏi của Mordaunt về tình hình sức khỏe và quả quyết rằng chỉ cần một đêm nghỉ ngơi là sẽ giũ sạch mọi di chứng từ thảm họa vừa qua. Dẫu vậy, ông ta vẫn không giấu được vẻ cay đắng khi nhắc đến lòng tham lam và sự tò mò của viên Ranzelman cùng vợ hắn.
– Mụ đàn bà nhiều chuyện đó, người khách lạ nói, đã tra tấn tôi suốt cả ngày chỉ để gặng hỏi tên con tàu. Tôi nghĩ mụ ta đáng lẽ nên thấy đủ với số chiến lợi phẩm kiếm được rồi chứ. Tôi là chủ sở hữu chính của con tàu bị nạn ngoài kia, vậy mà chúng chẳng để lại cho tôi cái gì ngoài bộ quần áo đang mặc trên người. Chẳng lẽ ở cái vùng đất hoang dã này không có lấy một vị quan tòa hay thẩm phán nào chịu nhúng tay giúp đỡ một người đang lâm vào cảnh hoạn nạn hay sao?
Mordaunt nhắc đến Magnus Troil, nhà địa chủ lớn đồng thời là Fowd, tức quan tòa địa phương của hạt, như là nhân vật có khả năng cao nhất giúp ông đòi lại công lý; đồng thời chàng cũng tỏ ra tiếc nuối khi tuổi trẻ của bản thân cùng hoàn cảnh của người cha như một kẻ ẩn dật xa cách thế giới đã tước đi khả năng bảo vệ mà ông đang cần.
– Thôi nào, về phần cậu, cậu đã làm quá đủ rồi, người thủy thủ nói; nhưng nếu tôi có được năm trong số bốn mươi chàng trai dũng cảm giờ này đã làm mồi cho cá kia, thì đố ai dám bắt tôi phải xin xỏ điều lẽ phải mà tôi hoàn toàn có thể tự mình thực thi!
– Bốn mươi tay chèo cơ à! Mordaunt thốt lên; số thủy thủ đoàn của anh quá ư đông đúc so với kích cỡ của con tàu đấy chứ.
– Đâu có dư dả gì so với nhu cầu. Chúng tôi trang bị tới mười khẩu đại bác, chưa kể pháo đuổi; nhưng chuyến tuần tiễu ngoài khơi đã ngốn bớt nhân lực và chất đầy hàng hóa trên tàu. Sáu khẩu đại bác phải chở thêm dằn tàu — Thưa các cậu! nếu tôi có đủ người, chúng tôi đã chẳng thất bại thảm hại đến thế. Mọi người đều kiệt sức vì vận hành máy bơm, thế là họ bỏ lên thuyền cứu sinh, bỏ mặc tôi với con tàu muốn chìm muốn nổi ra sao thì ra. Nhưng lũ khốn đó đã nhận đủ quả báo, và tôi có thể rộng lượng tha thứ cho chúng — Con thuyền bị nhấn chìm giữa dòng chảy xiết — tất cả đều thiệt mạng — và giờ thì tôi ở đây.
– Thế ra anh từ Tây Ấn đi vòng lên phía bắc à? Mordaunt hỏi.
– Đúng vậy, đúng vậy; con tàu là chiếc Good Hope ở Bristol, một chiến thuyền tư lược được cấp phép. Nó đã gặp vận may lớn khi xuống vùng biển Tây Ban Nha, cả trong việc buôn bán lẫn đánh thuê, nhưng giờ thì vận đỏ đã chấm dứt với nó rồi. Tên tôi là Clement Cleveland, thuyền trưởng, và là đồng sở hữu như tôi đã nói — tôi là người sinh ra ở Bristol — cha tôi rất nổi tiếng ở Tollsell — cụ Clem Cleveland ở College-green.
Mordaunt không có lý do gì để gặng hỏi thêm, và thế nhưng trong thâm tâm chàng vẫn cảm thấy chưa thực sự thỏa mãn. Có một vẻ cố tình cộc cằn, một thái độ thách thức nào đó trong phong cách của vị khách lạ mà hoàn cảnh thực tế chẳng có gì phải thế. Thuyền trưởng Cleveland đã phải chịu đựng sự bất công từ những người dân trên đảo, nhưng từ Mordaunt, ông ta chỉ nhận được sự tử tế và chở che; vậy mà ông ta có vẻ như đang trút giận lên toàn bộ xứ sở này vì những bất công mà ông ta phải gánh chịu. Mordaunt cúi đầu im lặng, lưỡng lự không biết nên cáo từ hay tiếp tục ngỏ lời giúp đỡ. Cleveland có vẻ đoán được suy nghĩ của chàng, liền lập tức tiếp lời với giọng điệu ôn hòa hơn: – Tôi là một kẻ bộc trực, thưa ngài Mertoun, vì tôi hiểu đó là tên của ngài; và tôi lại là một kẻ trắng tay nữa, điều đó chẳng giúp gì cho phép tắc ứng xử cả. Nhưng ngài đã đối xử tử tế và thân thiện với tôi, và có lẽ tôi trân trọng điều đó nhiều như thể tôi cảm ơn ngài nhiều hơn thế. Thế nên trước khi rời khỏi chốn này, tôi sẽ tặng ngài khẩu súng săn của mình; nó có thể bắn thủng một trăm viên đạn trùm qua chiếc mũ của một tên người Hà Lan ở khoảng cách tám mươi bước — nó cũng bắn được cả đạn viên — tôi đã từng hạ một con bò rừng ở cự ly một trăm rưỡi thước — nhưng tôi vẫn còn hai khẩu khác tốt bằng hoặc hơn thế, nên ngài cứ giữ lấy món quà này vì tình nghĩa với tôi.
– Như thế thì hóa ra tôi nhận phần chiến lợi phẩm của vụ đắm tàu rồi còn gì, Mordaunt cười đáp.
– Không có chuyện đó đâu, Cleveland vừa nói vừa mở một chiếc hộp đựng vài khẩu súng trường và súng lục — ngài thấy đấy, tôi đã giữ lại được hòm vũ khí cá nhân của mình cũng như quần áo — mụ đàn bà cao kều trong căn nhà tối tăm kia đã xoay sở giúp tôi điều đó. Và nói thật với ngài nhé, nó còn đáng giá hơn tất cả những gì tôi đã mất; bởi vì, ông hạ thấp giọng và đảo mắt nhìn quanh, khi tôi nói đến chuyện trắng tay trước mặt đám cá mập cạn này, ý tôi không phải là mất sạch gốc lẫn vốn. Không, ở đây có thứ còn làm được nhiều việc hơn là bắn chim biển. Nói rồi, ông rút ra một chiếc túi đựng đạn lớn có đánh dấu đạn trùm, và nhanh chóng cho Mordaunt thấy rằng nó đầy ắp những đồng pistole Tây Ban Nha và đồng Portague (những đồng tiền vàng lớn của Bồ Đào Nha thời đó). Không, không, ông mỉm cười nói thêm, tôi có đủ dằn tàu để cân bằng lại con thuyền rồi; và giờ, ngài có nhận khẩu súng này không?
– Đã sẵn lòng tặng tôi thì tôi xin nhận, Mordaunt cười đáp. Tôi vừa định hỏi ngài nhân danh cha tôi, chàng nói và chìa chiếc ví ra, rằng ngài có cần chút dằn tàu nào như thế không.
– Cảm ơn, nhưng ngài thấy đấy tôi đã được lo liệu chu đáo — hãy nhận người bạn cũ của tôi này, và mong rằng nó sẽ phục vụ ngài tốt như đã từng phục vụ tôi; nhưng ngài sẽ chẳng bao giờ có được một chuyến hải trình tuyệt vời như thế với nó đâu. Ngài bắn súng được chứ?
– Tạm ổn, Mordaunt vừa nói vừa ngắm nghía khẩu súng, đó là một tuyệt tác súng nòng Tây Ban Nha được khảm vàng, nòng nhỏ và có chiều dài bất thường, loại chuyên dùng để săn chim biển và tập ngắm bắn.
– Bằng đạn ghém chì, người tặng tiếp lời, chưa có khẩu súng nào bắn sát chụm hơn thế; và với đạn đơn, ngài có thể hạ một con hải cẩu ở khoảng cách hai trăm thước trên biển từ đỉnh ngọn núi cao nhất của vùng bờ biển đá cứng như sắt này của các ngài. Nhưng tôi xin nhắc lại lần nữa, khẩu súng già cỗi này sẽ chẳng bao giờ phục vụ ngài tận tụy như đã từng làm với tôi đâu.
– Có lẽ tôi sẽ không sử dụng nó một cách khéo léo được như vậy, Mordaunt nói.
– Hừm! — có lẽ thế, Cleveland đáp; nhưng vấn đề không nằm ở đó. Ngài nghĩ sao về khoảnh khắc nã đạn vào gã thợ lái ngay lúc chúng ta lao vào áp mạn một chiếc thuyền Tây Ban Nha? Thế là gã Tây Ban Nha bị đánh cho trở tay không kịp, và chúng ta ép ngang mũi thuyền hắn, xông lên đoạt tàu bằng dao găm trong tay; và nó hoàn toàn bõ công — một chiếc tàu chiến lùn vạm vỡ — El Santo Francisco — đang trên đường tới Porto Bello chở đầy vàng và nô lệ da đen. Chỉ một mẩu chì nhỏ nhoi đó thôi mà đáng giá tới hai mươi ngàn đồng pistole đấy.
– Tôi chưa từng săn loại mồi nào như thế cả, Mordaunt nói.
– Chà, mọi thứ đều có thời điểm của nó; chúng ta chưa thể nhổ neo cho đến khi thủyỷ triều lên. Nhưng ngài là một thanh niên tráng kiện, rắn rỏi và tháo vát. Có gì ngăn cản ngài làm một chuyến đi để kiếm lấy ít chiến lợi phẩm này nhỉ? — ông đặt tay lên chiếc túi đựng vàng.
– Cha tôi có nhắc đến chuyện tôi sẽ sớm đi đây đi đó, Mordaunt đáp, vốn từ nhỏ đã tôn sùng những người lính hải quân, nay cảm thấy vô cùng hãnh diện trước lời mời gọi từ một người trông ra dáng một hải thủ sành sỏi.
– Ta rất tôn trọng ông cụ vì ý nghĩ đó, Thuyền trưởng nói; và ta sẽ đến thăm ông ấy trước khi nhổ neo. Ta còn một chiếc thuyền hộ tống quanh các hòn đảo này nữa chứ, mặc thây nó đi. Nó sẽ tìm ra ta ở đâu đó thôi, dù có bị tách đoàn trong trận cuồng phong vừa rồi, trừ phi nó cũng đã xuống chầu Diêm Vương rồi — Chà, tàu của nó được trang bị tốt hơn chúng ta và chở hàng không quá nặng — chắc hẳn nó đã vượt qua được giông bão. Chúng ta sẽ căng võng cho ngài trên tàu, và biến ngài thành một thủy thủ thực thụ cũng như một trang nam nhi chỉ trong một chuyến đi duy nhất.
– Tôi cũng rất thích điều đó, Mordaunt thốt lên, người đang vô cùng khao khát được nhìn ngắm thế giới rộng lớn bên ngoài mà hoàn cảnh cô độc trước đây chưa từng cho phép; — nhưng ngỗ nỗi cha tôi phải là người quyết định.
– Cha ngài á? xì! Thuyền trưởng Cleveland nói; — nhưng ngài nói rất đúng, ông tự ý thức lại; — Chúa ơi, tôi sống ở biển lâu quá rồi đến nỗi chẳng thể tưởng tượng nổi có ai lại có quyền suy nghĩ ngoại trừ thuyền trưởng và đại phó. Nhưng ngài nói rất đúng. Tôi sẽ lên gặp cụ già ngay tức khắc và tự mình thưa chuyện với cụ. Cụ sống trong cái tòa nhà có vẻ hiện đại khang trang mà tôi thấy cách đây một tư dặm phải không?
– Ngài ấy thực sự sống trong ngôi nhà cổ nửa mục nát đó, Mordaunt nói; nhưng ngài ấy sẽ chẳng tiếp bất cứ vị khách nào đâu.
– Thế thì ngài phải tự mình xoay sở vụ này thôi, vì tôi không thể cứ dầm dề ở cái vĩ độ này mãi được. Đã không có cha ngài là quan tòa, tôi đành phải đi tìm cái ông Magnus này — gọi ông ta là gì ấy nhỉ? — người không phải thẩm phán mà là một chức sắc nào đó cũng có quyền lực tương đương. Lũ người này đang cầm giữ hai hay ba thứ mà tôi buộc phải lấy lại bằng được — cứ để chúng giữ số còn lại rồi mặc xác chúng quỷ tha ma bắt. Ngài có thể viết cho tôi một bức thư gửi ông ta, coi như là giấy ủy nhiệm được chứ?
– Chắc là không cần thiết đâu, Mordaunt nói. Chỉ cần việc ngài bị đắm tàu và cần sự giúp đỡ của ông ấy là đủ; — nhưng dẫu sao tôi cứ chuẩn bị sẵn một bức thư giới thiệu cho ngài cũng chẳng thừa.
– Kìa, người thủy thủ vừa nói vừa lấy từ trong rương ra một bộ đồ viết, — dụng cụ viết lách của ngài đây. Trong lúc này, vì hòm hòm đã bị phá tung, tôi sẽ đóng đinh lại các nắp hòm và niêm phong phần hàng hóa cho chắc chắn.
Trong lúc Mordaunt đang cặm cụi viết thư cho Magnus Troil, trình bày rõ hoàn cảnh Thuyền trưởng Cleveland dạt vào bờ biển của họ, thì vị Thuyền trưởng — sau khi đã chọn riêng và để sang một bên ít quần áo cùng những vật dụng thiết yếu đủ nhét đầy một chiếc ba-lô — liền cầm búa và đinh, tự tay cố định nắp chiếc rương hải tàng của mình bằng những thao tác thành thạo như thợ lành nghề, rồi gia cố thêm sự chắc chắn bằng một sợi dây thừng được xoắn và thắt nút theo đúng kỹ năng điêu luyện của nhà nghề hàng hải. — Tôi gửi lại món này cho ngài trông nom, ông nói, — ngoại trừ thứ này, tay chỉ vào chiếc túi đựng vàng, — và những thứ này, chỉ vào thanh dao găm và mấy khẩu súng lục, — những thứ sẽ giúp ngăn ngừa mọi rủi ro có thể khiến tôi phải rời xa những đồng tiền Portague của mình.
– Ngài sẽ chẳng tìm thấy dịp nào phải dùng đến vũ khí ở xứ sở này đâu, Thuyền trưởng Cleveland, Mordaunt đáp; một đứa trẻ có thể mang theo cả ví vàng đi từ Sumburgh-head đến Scaw of Unst mà chẳng có lấy một linh hồn nào dám hãm hại nó đâu.
– Ngài trẻ tuổi nói câu đó nghe mạnh dạn phết nhỉ, nếu xét đến những gì đang diễn ra ngay trước cửa nhà vào lúc này đây.
– Ồ, Mordaunt đáp với vẻ hơi lúng túng, những thứ trôi dạt vào bờ theo thủy triều thì họ coi đó là tài sản hợp pháp của mình. Người ta có cảm giác như họ đã từng thụ giáo Sir Arthegal vậy, người từng tuyên bố rằng: —
‘Vì quyền lợi ngang bằng ngự trị trên vạn vật tương đương,
Và những gì biển cả vĩ đại từng chiếm giữ,
Rồi giật phăng khỏi tay mọi chủ nhân,
Hoặc từ những con tàu đắm của những kẻ khốn cùng gặp nạn,
Ngài có thể định đoạt, bằng uy quyền bất khả kháng,
Như những vật bỏ hoang cho bất cứ ai ngài muốn.’
– Suốt quãng đời còn lại tôi sẽ có cái nhìn thiện cảm hơn với kịch nghệ và các bản ballad nhờ chính những lời này đấy, Thuyền trưởng Cleveland nói; và dẫu sao tôi cũng từng yêu mến chúng trong những năm tháng qua. Nhưng đây quả là một học thuyết hay ho, và không chỉ một người biết cách căng buồm xuôi theo ngọn gió đó đâu. Những gì biển cả ban tặng thì thuộc về chúng ta, điều đó quá chắc chắn rồi. Tuy nhiên, đề phòng trường hợp những người dân thiện lương của các ngài lại nghĩ rằng đất liền cũng như biển cả có thể dâng hiến cho họ những món đồ thất lạc, tôi xin mạn phép mang theo thanh dao găm và súng lục của mình. — Ngài có thể giúp tôi cất giữ chiếc rương này tại nhà riêng cho đến khi nhận được tin của tôi, đồng thời dùng uy tín của mình để tìm giúp tôi một người dẫn đường chỉ lối và mang hộ ba-lô được chứ?
– Ngài định đi bằng đường biển hay đường bộ? Mordaunt hỏi lại.
– Đường biển á! Cleveland kêu lên. — Gì cơ — trên mấy cái vỏ hạt dẻ này á, lại còn là một cái vỏ hạt dẻ nứt nẻ nữa chứ? Không, không — đường bộ, trừ phi tôi nắm rõ thủy thủ đoàn, con tàu và hải trình của chính mình.
Họ từ giã nhau, Thuyền trưởng Cleveland được bố trí một người dẫn đường đưa đến Burgh-Westra, còn chiếc rương của ông thì được cẩn thận chuyển về dinh thự ở Jarlshof.
[33] Điều này hoàn toàn đúng theo nghĩa đen.