Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4652 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Những chiếc xe ngựa đỗ lại bên bờ sông suốt cả ngày, và chỉ khởi hành trở lại khi mặt trời đang lặn.

Yegorushka lại nằm trên những kiện hàng; chiếc xe ngựa kêu kẽo kẹt dịu dàng và tròng trành từ bên này sang bên khác. Panteley đi bộ bên dưới, nện từng bước chân, vỗ vào đùi và lầm bầm. Không trung ngập tràn âm thanh rả rích của những thảo nguyên, y như ngày hôm trước.

Yegorushka nằm ngửa, hai tay để dưới đầu, ngước nhìn bầu trời phía trên. Cậu ngắm ánh rực hồng của hoàng hôn bừng lên rồi vụt tắt; những thiên thần hộ mệnh che chở đường chân trời bằng đôi cánh vàng của mình đang chuẩn bị chìm vào giấc ngủ. Một ngày đã trôi qua trong yên bình; đêm tĩnh mịch thanh bình đã đến, và họ có thể thảnh thơi ở nhà trên thiên đường. . . . Yegorushka nhìn bầu trời dần tối lại và sương mù buông xuống mặt đất — nhìn những vì sao lần lượt thắp sáng. . . .

Khi bạn đăm đăm ngước nhìn bầu trời sâu thẳm một hồi lâu, vì lý do nào đó, suy nghĩ và cảm xúc hòa quyện vào một cảm giác cô đơn. Người ta bắt đầu cảm thấy cô độc đến tuyệt vọng, và tất cả những gì người ta từng xem là gần gũi, thân thuộc trở nên xa xôi và vô giá trị vô tận; những vì sao đã nhìn xuống từ bầu trời từ hàng ngàn năm nay, lớp sương mù và chính bầu trời khó hiểu, thờ ơ trước cuộc đời ngắn ngủi của con người, đè nặng lên tâm hồn bằng sự im lặng của chúng khi ta bị bỏ lại đối mặt với chúng và cố gắng nắm bắt ý nghĩa của chúng. Người ta được nhắc nhở về sự cô độc đang chờ đợi mỗi chúng ta trong nấm mồ, và thực tế cuộc sống dường như thật khủng khiếp . . . đầy tuyệt vọng. . . .

Yegorushka nghĩ về người bà của mình, người giờ đây đang ngủ dưới những gốc anh đào ngoài nghĩa trang. Cậu nhớ lại bà nằm trong quan tài với những đồng xu đặt trên mắt, nhớ cách sau đó bà được khép nắp lại và hạ xuống huyệt; cậu thậm chí còn nhớ cả âm thanh bộp bộp của những cục đất ném lên nắp quan tài. . . . Cậu hình dung người bà của mình trong chiếc quan tài tối tăm và chật hẹp, bất lực và bị mọi người bỏ rơi. Trí tưởng tượng của cậu hình dung ra cảnh bà chợt tỉnh giấc, không hiểu mình đang ở đâu, đập vào nắp quan tài và kêu cứu, rồi cuối cùng ngất đi vì kinh hãi và chết một lần nữa. Cậu tưởng tượng người mẹ đã khuất của mình, Cha Christopher, Nữ bá tước Dranitsky, Solomon. Nhưng dù cậu có cố gắng tưởng tượng bản thân mình ở trong ngôi mộ tối tăm, xa nhà, bị ruồng bỏ, bất lực và đã chết đến đâu đi nữa, cậu vẫn không tài nào làm được; đối với bản thân mình, cậu không thể chấp nhận khả năng xảy ra cái chết, và cảm thấy rằng mình sẽ không bao giờ chết. . . .

Panteley, người mà cái chết chắc hẳn không còn xa, bước đi bên dưới và tiếp tục nghiền ngẫm những suy nghĩ của mình.

“Được rồi. . . . Những người tử tế, . . .” ông lầm bầm. “Đã đưa cậu con trai nhỏ đi học — nhưng giờ nó ra sao thì ta không nghe ai nhắc đến — ở Slavyanoserbsk. Ta nói chẳng có cơ sở nào dạy chúng trở nên quá thông minh cả. . . . Không, điều đó đúng đấy — một cậu bé ngoan, chẳng có hại gì đâu. . . . Nó sẽ lớn lên và trở thành chỗ dựa cho cha nó . . . . Này Yegory, cháu còn nhỏ bây giờ, nhưng cháu sẽ lớn lên và sẽ nuôi dưỡng cha mẹ. . . . Chúa đã định đoạt như vậy, ‘Hãy hiếu kính cha mẹ các ngươi.’ . . . Ta cũng có con, nhưng chúng đã bị thiêu cháy. . . . Vợ ta và các con ta đã bị thiêu cháy, . . . đúng vậy đấy. . . . Căn lúp xúp bốc cháy vào đêm lễ Hiển Linh. . . . Ta không có nhà, ta đang đánh xe ở Oryol. Ở Oryol. . . . Marya lao ra đường, nhưng nhớ ra lũ trẻ đang ngủ trong nhà, liền chạy quay lại và bị thiêu cháy cùng các con. . . . Ngày hôm sau người ta chẳng tìm thấy gì ngoài những khúc xương.”

Khoảng nửa đêm, Yegorushka và những người đánh xe lại quây quần bên một đống lửa trại nhỏ. Trong lúc những cành cây khô và thân cây cháy rực, Kiruha và Vassya đi đâu đó để lấy nước từ một con lạch; họ biến vào bóng tối, nhưng suốt thời gian đó vẫn nghe tiếng họ trò chuyện và khua lách cách những chiếc xô; thế nên con lạch hẳn là không ở xa. Ánh sáng từ đống lửa hắt một khoảng bập bùng lớn trên mặt đất; dù trăng rất sáng, nhưng mọi thứ bên ngoài khoảng sáng đỏ rực ấy dường như đen kịt không thể xuyên thủng. Ánh sáng chiếu thẳng vào mắt những người đánh xe, và họ chỉ nhìn thấy một phần con đường cái quan; gần như ẩn khuất trong bóng tối, những cỗ xe chở hàng và bầy ngựa trông giống như một ngọn núi có hình thù không rõ ràng. Cách đống lửa trại hai mươi bước chân, bên lề đường, sừng sững một cây gỗ thánh giá đã đổ nghiêng. Trước khi lửa trại được nhóm lên, khi cậu vẫn có thể nhìn thấy mọi thứ ở đằng xa, Yegorushka đã nhận ra rằng có một cây thánh giá cũ kỹ nghiêng ngả tương tự ở phía bên kia đường cái quan.

Trở về với nước, Kiruha và Vassya đổ đầy chiếc vạc và bắc lên lửa. Styopka, tay cầm chiếc thìa có khấc, vào vị trí trong làn khói cạnh chiếc vạc, mơ màng nhìn vào mặt nước chờ bọt nổi lên. Panteley và Emelyan ngồi cạnh nhau trong im lặng, trầm ngâm điều gì đó. Dymov đang nằm sấp, đầu gối lên hai nắm tay, nhìn vào đống lửa. . . . Cái bóng của Styopka đang nhảy múa trên người anh, khiến khuôn mặt tuấn tú của anh lúc thì chìm trong bóng tối, lúc lại bừng sáng. . . . Kiruha và Vassya lang thang ở khoảng cách gần để nhặt cỏ khô và vỏ cây cho đống lửa. Yegorushka, hai tay đút túi quần, đứng cạnh Panteley, ngắm nhìn ngọn lửa nuốt chửng thảm cỏ.

Tất cả đều đang nghỉ ngơi, trầm tư điều gì đó, và họ thỉnh thoảng liếc nhìn cây thánh giá mà trên đó những đốm sáng đỏ đang nhảy múa. Có cái gì đó sầu muộn, trầm ngâm và cực kỳ nên thơ ở một nấm mồ đơn độc; người ta cảm nhận được sự tĩnh lặng của nó, và sự tĩnh lặng ấy mang lại cảm giác về sự hiện diện của linh hồn người bất hạnh vô danh đang nằm dưới cây thánh giá. Liệu linh hồn ấy có được bình yên trên thảo nguyên? Liệu nó có đau buồn dưới ánh trăng? Gần ngôi mộ, thảo nguyên dường như u sầu, ảm đạm và tang tóc; ngọn cỏ có vẻ buồn bã hơn, và người ta tưởng chừng như lũ châu chấu kêu ít tự do hơn, và chẳng có người qua đường nào lại không tưởng nhớ đến linh hồn cô độc ấy và cứ ngoái nhìn lại ngôi mộ, cho đến khi nó bị bỏ lại phía sau và khuất lấp trong sương mù. . . .

“Ông ơi, cây thánh giá kia để làm gì vậy ạ?” Yegorushka hỏi.

Panteley nhìn cây thánh giá rồi nhìn Dymov và hỏi:

“Nikola, đây chẳng phải là nơi bọn thợ gặt đã sát hại những thương nhân đó sao?”

Dymov không mấy hào hứng nhổm người lên khuỷu tay, nhìn ra con đường và nói:

“Vâng, đúng rồi. . . .”

Một khoảng lặng nối tiếp. Kiruha bẻ gãy vài thân cây khô, vò nát lại với nhau rồi nhét vào dưới vạc. Ngọn lửa bùng lên sáng rực; Styopka bị bao quanh bởi làn khói đen, và cái bóng hắt ra từ cây thánh giá nhảy múa dọc theo con đường trong chạng vạng cạnh những chiếc xe ngựa.

“Phải, họ đã bị sát hại,” Dymov nói với vẻ miễn cưỡng. “Hai cha con thương nhân nọ đang trên đường đi buôn các bức ảnh thánh. Họ trọ lại quán trọ không xa đây, nơi hiện do Ignat Fomin quản lý. Ông lão đã uống hơi quá chén, và bắt đầu khoe khoang rằng mình mang theo rất nhiều tiền. Tất cả chúng ta đều biết thương nhân là lũ hay khoác lác, Chúa phù hộ chúng ta. . . . Chúng không tài nào cưỡng lại việc ra oai trước những kẻ như chúng ta. Và vào lúc đó, một số thợ gặt đang trọ qua đêm tại quán trọ. Thế là họ nghe lén được những gì thương nhân nói và ghi nhớ trong đầu.”

“Lạy Chúa! . . . Mẹ Thiên Chúa ơi!” Panteley thở dài.

“Hôm sau, vừa rạng sáng,” Dymov tiếp lời, “những thương nhân chuẩn bị lên đường và bọn thợ gặt cố gắng đi cùng họ. ‘Chúng ta hãy đi cùng nhau đi, thưa các ngài. Sẽ vui hơn và ít nguy hiểm hơn, vì đây là chốn khỉ ho cò gáy. . . .’ Các thương nhân phải đi bộ để tránh làm hỏng các bức ảnh thánh, và điều đó hoàn toàn làm vừa lòng bọn thợ gặt. . . .”

Dymov chồm dậy ở tư thế quỳ và vươn vai.

“Đúng vậy,” anh tiếp tục, ngáp dài. “Mọi chuyện vẫn ổn cho đến khi họ đến được địa điểm này, và rồi bọn thợ gặt lao vào họ bằng những chiếc lưỡi hái. Người con trai, cậu ta là một thanh niên khôi ngô, đã giật lấy lưỡi hái từ tay một kẻ trong số chúng và cũng vung lên phản kháng. . . . Chà, dĩ nhiên là bọn chúng chiếm ưu thế vì có tới tám người. Chúng chém các thương nhân đến mức không còn một chỗ lành lặn nào trên người; khi xong việc, cả hai xác chết đều bị lôi khỏi đường cái, người cha sang một bên và con trai sang phía bên kia. Đối diện với cây thánh giá đó còn có một cây thánh giá nữa ở phía bên này. . . . Không biết nó còn đứng đó hay không. . . . Ta không thể nhìn thấy từ đây. . . .”

“Vẫn còn đấy ạ,” Kiruha nói.

“Người ta bảo sau đó họ chẳng tìm thấy bao nhiêu tiền.”

“Không,” Panteley xác nhận; “họ chỉ tìm thấy một trăm rúp.”

“Và ba kẻ trong số chúng đã chết sau đó, vì người thương nhân cũng đã chém chúng rất nặng bằng lưỡi hái. Chúng chết vì mất máu. Một tên bị đứt lìa bàn tay, đến nỗi người ta bảo hắn đã chạy ba dặm không có bàn tay, và họ tìm thấy hắn trên một gò đất gần Kurikovo. Hắn đang ngồi xổm, đầu gục vào đầu gối như thể đang chìm đắm trong suy nghĩ, nhưng khi họ nhìn kỹ thì chẳng còn chút sự sống nào và hắn đã chết. . . .”

“Họ tìm thấy hắn nhờ vết máu để lại,” Panteley nói.

Tất cả nhìn chằm chằm vào cây thánh giá, và một sự tĩnh mịch lại bao trùm. Từ đâu đó, rất có thể từ con lạch, vẳng lại tiếng kêu sầu thảm của loài chim: “Ngủ đi! Ngủ đi! Ngủ đi!”

“Có rất nhiều kẻ ác trên thế giới này,” Emelyan nói.

“Rất nhiều,” Panteley đồng tình, và ông xích lại gần đống lửa hơn như thể đang sợ hãi. “Rất nhiều,” ông tiếp tục với giọng trầm thấp. “Ta đã thấy rất nhiều, rất nhiều rồi. . . . Kẻ ác! . . . Ta cũng đã thấy rất nhiều người thánh thiện và công chính. . . . Nữ vương Thiên Chúa, xin cứu rỗi và thương xót chúng con. Ta nhớ có lần ba mươi năm trước, hoặc có lẽ lâu hơn thế, ta đang đánh xe chở một thương nhân từ Morshansk. Viên thương nhân đó là một gã trai khôi ngô vui tính, lại có tiền nữa . . . viên thương nhân ấy là . . . một người tử tế, chẳng có hại gì. . . . Thế là chúng ta trọ qua đêm tại một quán trọ. Và ở Nga, các quán trọ không giống như ở những miền này. Ở trỏng, các sân hiên đều có mái che và trông giống như tầng trệt, hoặc cứ cho là giống như những nhà kho ở các trang trại lớn đi. Chỉ có điều nhà kho thì cao hơn một chút thôi. Thế là chúng ta trọ lại đó và mọi thứ đều ổn thỏa. Viên thương nhân của ta ở trong phòng, còn ta ở với lũ ngựa, và mọi chuyện đều xuôi chè mát mái. Thế rồi, các bạn ạ, ta đọc kinh cầu nguyện trước khi đi ngủ và bắt đầu đi quanh sân. Và đó là một đêm tối trời, ta chẳng thấy gì sảng cả; có cố nhìn cũng vô ích. Thế là ta đi dạo một lát gần đến chỗ mấy chiếc xe ngựa, thì thấy một ánh đèn lấp lánh. Chuyện gì thế nhỉ? Ta nghĩ người của quán trọ đã đi ngủ từ lâu rồi, và ngoài viên thương nhân với ta ra thì quán trọ chẳng có vị khách nào khác. . . . Ánh đèn từ đâu ra nhỉ? Ta cảm thấy nghi ngờ. . . . Ta đến gần hơn . . . hướng về phía có ánh sáng. . . . Lạy Chúa thương xót con! và cứu rỗi con, Nữ vương Thiên Chúa! Ta nhìn vào và thấy có một ô cửa sổ nhỏ có chấn song, . . . sát mặt đất, nằm ở phần nhà. . . Ta nằm rạp xuống đất và nhìn vào; vừa nhìn vào một luồng khí lạnh buốt chạy dọc sống lưng ta. . . .”

Kiruha, cố gắng không gây ra tiếng động, nhét một nắm cành cây vào đống lửa. Sau khi chờ tiếng nổ lách tách và xì xèo dứt hẳn, cụ già tiếp tục:

“Ta nhìn vào và thấy một cái hầm lớn, tối đen như mực. . . . Có một ngọn đèn lồng đang cháy trên một chiếc thùng phuy. Giữa hầm có khoảng một tá đàn ông mặc áo sơ mi đỏ xắn tay áo, đang mài những con dao dài. . . . Ứi chà! Thế là chúng ta rơi vào một ổ cướp rồi. . . . Phải làm sao đây? Ta chạy đến chỗ viên thương nhân, đánh thức anh ta dậy thật khẽ và nói: ‘Xin ngài đừng sợ,’ ta nói, ‘nhưng chúng ta đang gặp nguy lớn rồi. Chúng ta lọt vào ổ cướp rồi ngài ạ.’ Anh ta tái mặt và hỏi: ‘Bây giờ chúng ta phải làm gì đây Panteley? Tôi giữ rất nhiều tiền của trại trẻ mồ côi. Còn tính mạng tôi,’ anh ta nói, ‘thì nằm trong tay Chúa. Tôi không sợ chết, nhưng thật khủng khiếp nếu mất đi số tiền của lũ trẻ,’ anh ta nói. . . . Chúng ta phải làm sao đây? Cổng đã khóa; không sao ra ngoài được. Giá mà có hàng rào thì còn trèo qua được, đằng này sân bị bịt kín thế này! . . . ‘Thôi, ngài đừng sợ,’ ta bảo; ‘hãy cầu nguyện Chúa đi. Biết đâu Chúa sẽ không để những đứa trẻ mồ côi phải chịu khổ. Cứ đứng yên đấy,’ ta nói, ‘và đừng có động tĩnh gì, trong lúc đó, biết đâu ta sẽ nghĩ ra cách gì đó. . . .’ Đúng vậy! . . . Ta cầu nguyện Chúa và Chúa đã soi sáng cho ta. . . . Ta leo lên chiếc xe ngựa mss của mình và thật khẽ, . . . thật khẽ để không ai nghe thấy, bắt đầu rút rơm trên mái tranh ra, khoét một lỗ rồi chui ra, chui ra. . . . Sau đó ta nhảy khỏi mái nhà và cắm cổ chạy dọc con đường cái quan nhanh nhất có thể. Ta chạy mãi chạy mãi cho đến khi suýt chết kiệt sức. . . . Ta chạy có lẽ được bốn dặm không dám thở, nếu không muốn nói là hơn thế. Tạ ơn Chúa, ta thấy một ngôi làng. Ta chạy đến một căn lúp xúp và bắt đầu gõ cửa sổ. ‘Hỡi những con chiên ngoan đạo,’ ta nói, và kể hết mọi chuyện cho họ nghe, ‘đừng để một linh hồn Kitô hữu phải bỏ mạng. . . .’ Ta đánh thức tất cả bọn họ dậy. . . . Những người nông dân tụ tập lại và đi cùng ta, . . . người cầm dây thừng, người cầm gậy gỗ, kẻ khác cầm chĩa. . . . Chúng ta phá tung cổng sân quán trọ và tiến thẳng xuống tầng hầm. . . . Và lũ cướp vừa mài xong dao, đang định ra tay sát hại viên thương nhân. Bọn nông dân tóm gọn từng tên một, trói giật cánh trói lại rồi giải lên đồn cảnh sát. Trong niềm vui sướng, viên thương nhân đã thưởng cho họ ba trăm rúp, cho ta năm đồng tiền vàng và ghi lại tên ta. Người ta nói rằng sau đó họ còn tìm thấy xương người dưới tầng hầm, từng đống, từng đống một. . . . Xương người! . . . Thế là chúng cướp bóc người ta rồi đem chôn phi tang để không để lại dấu vết. . . . À mà, sau đó chúng đã bị trừng phạt ở Morshansk.”

Panteley đã kể xong câu chuyện của mình, và ông đảo mắt nhìn những thính giả xung quanh. Họ đang lặng ngác nhìn ông. Nước lúc này đã sôi và Styopka đang hớt bọt.

“Mỡ đã được chưa?” Kiruha thì thầm hỏi.

“Chờ tí. . . . Ngay đây.”

Styopka, mắt đăm đăm nhìn Panteley như thể sợ ông sẽ bắt đầu một câu chuyện nào khác trước khi cậu quay lại, liền chạy về phía những chiếc xe ngựa; chẳng mấy chốc cậu quay lại với một chiếc thau gỗ nhỏ và bắt đầu giã mỡ trong đó.

“Ta còn đi một chuyến khác với một thương nhân nữa, . . .” Panteley lại tiếp lời, vẫn nói bằng giọng trầm thấp và đôi mắt đăm đăm không chớp. “Tên anh ta, như ta còn nhớ đến bây giờ, là Pyotr Grigoritch. Anh ta là một người tử tế, . . . viên thương nhân ấy. Chúng ta cũng dừng chân ở một quán trọ tương tự. . . . Anh ta ở trong nhà còn ta ở ngoài với lũ ngựa. . . . Mọi người trong nhà, chủ quán và vợ hắn, trông có vẻ thân thiện tốt tính; đám thợ thuyền cũng có vẻ ổn cả; thế nhưng các bạn ạ, ta chẳng tài nào chợp mắt được. Trong lòng ta cứ có cảm giác kỳ lạ, . . . một cảm giác kỳ lạ, chính là thế đấy. Cổng mở toang và có rất nhiều người qua lại, vậy mà ta vẫn thấy sợ và thấy bất an. Mọi người đã đi ngủ từ lâu rồi. Đã giữa đêm; chẳng mấy chốc là đến giờ thức dậy, và ta nằm một mình trên chiếc xe mss mà không sao nhắm mắt lại được, cứ như thể ta là một con cú mèo vậy. Rồi thì, các bạn ạ, ta nghe thấy âm thanh này, ‘Túp! Túp! Túp!’ Ai đó đang bò đến gần chiếc xe mss. Ta ngó đầu ra, và thấy một mụ đàn bà nhà quê chỉ mặc chiếc áo lót và chân trần. . . . ‘Bà muốn gì thế, thưa bà?’ ta hỏi. Và mụ ta run lẩy bẩy; khuôn mặt lộ rõ vẻ kinh hoàng. . . ‘Hãy đứng dậy đi, bác nông dân,’ mụ ta nói; ‘mọi người đang mưu tính chuyện ác độc. . . . Chúng định sát hại viên thương nhân của bác đấy. Chính tai ta đã nghe ông chủ thì thầm với vợ hắn. . . .’ Thế nên linh cảm trong lòng ta không phải là vô cớ! ‘Thế cô là ai?’ ta hỏi. ‘Tôi là đầu bếp của chúng,’ mụ ta nói. . . . Đúng vậy! . . . Thế là ta rời khỏi xe mss và đi đến chỗ viên thương nhân. Ta đánh thức anh ta dậy và bảo: ‘Mọi chuyện không mấy ổn đâu, Pyotr Grigoritch. . . . Ngài hãy mau chóng tỉnh ngủ đi, thưa ngài, và mặc quần áo vào ngay khi hãy còn kịp,’ ta nói; ‘và để bảo toàn tính mạng, chúng ta hãy trốn khỏi chốn rắc rối này thôi.’ Anh ta vừa mới mặc áo quần xong thì cánh cửa mở tung ra, lạy Chúa chúng ta ơi! Ta thấy, lạy Mẹ Thiên Chúa! chủ quán và vợ hắn bước vào phòng cùng với ba gã thợ thuyền. . . . Thế là chúng đã xúi giục được đám thợ thuyền nhập bọn với chúng. ‘Viener thương nhân có rất nhiều tiền, chúng ta sẽ chia chấu,’ chúng đã bảo thế với đám thợ. Cả năm tên đều lăm lăm một con dao dài trong tay — mỗi tên một con dao. Tên chủ quán khóa cửa lại và nói: ‘Hãy đọc kinh cầu nguyện đi, hỡi những kẻ lữ hành, . . . và nếu các người dám la hét,’ chúng bảo, ‘chúng ta sẽ không cho các người kịp đọc kinh trước khi chết đâu. . . .’ Làm sao mà chúng tôi la hét được chứ! Cổ họng ta nghẹn đắng lại chẳng thốt nên lời. . . . Viên thương nhân bật khóc và nói: ‘Hỡi những con chiên ngoan đạo! các người đã quyết định sát hại tôi vì tiền tài của tôi làm các người mờ mắt. Thôi được, tùy các người; tôi không phải là kẻ đầu tiên cũng chẳng phải là người cuối cùng. Rất nhiều thương nhân chúng tôi đã bị sát hại tại các quán trọ. Nhưng tại sao, hỡi những người anh em Kitô hữu,’ anh ta nói, ‘lại sát hại người đánh xe của tôi? Tại sao anh ta phải chịu khổ vì tiền của tôi chứ?’ Và anh ta nói câu đó mới tội nghiệp làm sao! Và tên chủ quán đáp lại anh ta rằng: ‘Nếu chúng ta để nó sống sót,’ hắn nói, ‘nó sẽ là kẻ đầu tiên đứng ra làm chứng chống lại chúng ta. Giết một người hay giết hai người thì cũng tội như nhau cả thôi. Cứ đọc kinh cầu nguyện đi, đó là tất cả những gì ngươi có thể làm, nói nhảm nhiều làm gì!’ Viên thương nhân và ta quỳ sụp xuống cạnh nhau, vừa khóc vừa đọc kinh cầu nguyện. Anh ta nghĩ đến những đứa con của mình. Ngày đó ta còn trẻ; ta muốn được sống. . . . Chúng ta nhìn vào những bức ảnh thánh và cầu nguyện, khẩn thiết đến mức bây giờ nghĩ lại vẫn khiến ta rơi lệ. . . . Và vợ tên chủ quán nhìn chúng ta rồi nói: ‘Mấy người tốt ạ,’ mụ ta bảo, ‘đừng ôm hận chúng tôi ở thế giới bên kia và hãy cầu Chúa trừng phạt chúng tôi, bởi chính sự nghèo khó đã đẩy chúng tôi vào bước đường này.’ Chúng tôi vừa cầu nguyện vừa khóc, vừa cầu nguyện vừa khốc, và Chúa đã nghe thấy chúng tôi. Ngài đã thương xót chúng tôi, ta đoán vậy. . . . Đúng vào lúc tên chủ quán túm lấy râu viên thương nhân để rạch cổ họng anh ta bằng con dao thì đột nhiên có tiếng ai đó gõ vào cửa sổ từ ngoài sân! Tất cả chúng tôi giật nảy mình, và bàn tay của tên chủ quán buông thõng xuống. . . . Ai đó đang gõ cửa sổ và hét lớn: ‘Pyotr Grigoritch,’ hắn hét lên, ‘ngài có ở đó không? Chuẩn bị xong chưa, chúng ta đi thôi!’ Bọn chúng thấy có người đến đón viên thương nhân; chúng hoảng sợ và cắm cổ tháo chạy. . . . Và chúng ta vội vã ra sân, đánh xe ngựa, và biến mất tăm chỉ trong một phút. . .”

“Ai đã gõ cửa sổ vậy ạ?” Dymov hỏi.

“Gõ cửa sổ á? Chắc chắn phải là một vị thánh nhân hoặc thiên thần nào đó rồi, vì chẳng còn ai khác cả. . . . Lúc chúng ta đánh xe rời khỏi sân thì trên đường chẳng còn một bóng người. . . . Đó là việc của Chúa làm.”

Panteley còn kể những câu chuyện khác, và trong câu chuyện nào cũng xuất hiện “những con dao dài” và tất cả đều nghe có vẻa như được bịa ra. Liệu ông đã nghe những câu chuyện này từ ai đó, hay chính ông đã tự bịa ra chúng từ quá khứ xa xôi, và sau đó, khi trí nhớ suy giảm, ông đã trộn lẫn những trải nghiệm thực tế của mình với trí tưởng tượng để rồi không thể phân biệt được đâu là thật đâu là giả nữa? Điều gì cũng có thể xảy ra, nhưng thật kỳ lạ là trong dịp này và trong suốt phần hành trình còn lại, bất cứ khi nào có dịp kể chuyện, ông đều thể hiện rõ sự ưu ái không lẫn vào đâu được dành cho hư cấu, và không bao giờ kể về những gì mình thực sự đã trải qua. Vào thời điểm đó, Yegorushka đã coi tất cả là thật và tin tưởng từng lời; sau này, cậu mới thấy thật kỳ lạ khi một con người từng đi khắp nước Nga, chứng kiến và biết bao điều, có vợ con bị thiêu chết, lại không biết trân quý sự giàu có trong cuộc đời mình đến mức cứ mỗi khi ngồi bên đống lửa trại là ông lại im lặng hoặc kể về những chuyện chưa từng có.

Trong bữa cháo, tất cả đều im lặng, suy ngẫm về những gì vừa nghe. Cuộc sống thật khủng khiếp và kỳ diệu, thế nên, dù bạn có kể một câu chuyện rợn gáy cỡ nào ở nước Nga, dù bạn có thêu dệt nó với những ổ cướp, dao dài và những điều kỳ diệu như thế nào đi nữa, nó vẫn luôn tìm thấy một tiếng vang của thực tế trong tâm hồn người nghe, và chỉ có những ai từng chịu ảnh hưởng kha khá bởi học vấn mới nhìn lệch đi với vẻ hoài nghi, và thậm chí ngay cả người đó cũng sẽ im lặng. Cây thánh giá bên đường, những kiện len đen thẳm, không gian rộng lớn của đồng bằng, và số phận của những con người tụ họp bên đống lửa trại — tất cả những điều đó bản thân nó đã vô cùng kỳ diệu và khủng khiếp đến nỗi những sắc thái hoang đường của truyền thuyết và cổ tích đều trở nên nhạt nhòa và hòa quyện vào cuộc sống.

Tất cả những người khác đều ăn chung từ chiếc vạc, nhưng Panteley ngồi tách riêng và ăn cháo của mình từ một chiếc thau gỗ. Chiếc thìa của ông không giống những chiếc thìa của những người khác, mà được làm bằng gỗ bách, có khắc một cây thánh giá nhỏ trên đó. Yegorushka, nhìn ông, nghĩ đến khung kính đựng ảnh thánh nhỏ và khẽ hỏi Styopka:

“Sao ông lại ngồi tách riêng ra thế?”

“Ông ấy là người theo Cựu tín đồ,” Styopka và Vassya thì thầm đáp. Và khi nói điều đó, vẻ mặt họ cứ như đang bàn về một thói xấu hay điểm yếu bí mật nào đó.

Tất cả ngồi im lặng, suy ngẫm. Sau những câu chuyện rợn gáy, chẳng ai còn hứng thú để nói về những chuyện tầm phào nữa. Đột nhiên giữa sự tĩnh mịch, Vassya chồm người lên và, dán đôi mắt đờ đẫn vào một điểm, cậu churt tai lắng nghe.

“Gì thế?” Dymov hỏi cậu.

“Có ai đang đến,” Vassya đáp.

“Mày thấy ở đâu?”

“Đằng kia kìa! Có cái gì trắng trắng. . .”

Chẳng có gì ngoài bóng tối hướng về phía Vassya đang nhìn; tất cả cùng lắng nghe, nhưng họ không nghe thấy bất kỳ âm thanh bước chân nào.

“Hắn đi đường cái quan à?” Dymov hỏi.

“Không, đi băng qua đồng không mông quạnh. . . . Hắn đang đi về hướng này.”

Một phút trôi qua trong im lặng.

“Và biết đâu đó là bóng vị thương nhân được chôn cất ở đây đang đi dạo trên thảo nguyên thì sao,” Dymov nói.

Tất cả liếc nhìn cây thánh giá với vẻ ái ngại, trao nhau ánh nhìn rồi bỗng bật cười. Họ cảm thấy xấu hổ vì nỗi sợ hãi của mình.

“Sao ông ta phải đi lang thang làm gì?” Panteley hỏi. “Chỉ có những kẻ mà đất không dung tha mới phải đi lang thang ban đêm thôi. Còn các thương nhân thì đều ổn cả rồi. . . . Các thương nhân đã đón nhận triều thiên tử đạo.”

Nhưng ngay lập tức họ nghe thấy tiếng bước chân; ai đó đang đi tới rất vội vã.

“Hắn đang vác cái gì kìa,” Vassya nói.

Họ có thể nghe tiếng cỏ sột soạt và những cành cây khô gãy rắc dưới đôi chân của vị lữ khách đang đến gần. Nhưng vì ánh sáng chói lọi của đống lửa trại nên chẳng thể nhìn thấy gì. Cuối cùng, tiếng bước chân đã đến sát bên, và ai đó ho lên một tiếng. Ánh sáng bập bùng dường như rẽ ra; một tấm màn trút xuống khỏi đôi mắt của những người đánh xe, và họ thấy một người đàn ông đang đứng trước mặt mình.

Dù là do ánh sáng bập bùng hay vì ai cũng muốn nhìn rõ mặt người đàn ông đó trước tiên, điều kỳ lạ là ngay cái nhìn đầu tiên vào hắn, tất cả bọn họ đều nhìn thấy, trước hết, không phải là khuôn mặt hay quần áo của hắn, mà là nụ cười của hắn. Đó là một nụ cười cực kỳ đôn hậu, rộng mở, dịu dàng, tựa như nụ cười của một đứa trẻ vừa tỉnh giấc, một trong những nụ cười dễ lây lan mà rất khó để không mỉm cười đáp lại. Khi họ đã nhìn kỹ hơn, người lạ hóa ra là một người đàn ông ba mươi tuổi, có ngoại hình xấu xí và chẳng có gì nổi bật. Hắn là một người Tiểu Nga cao kều, với chiếc mũi dài, tay dài và chân dài; mọi thứ trên người hắn đều dài ngoại trừ cái cổ ngắn ngủi đến mức khiến hắn trông có vẻ gù. Hắn mặc một chiếc áo sơ mi trắng sạch sẽ với phần cổ áo thêu hoa văn, quần dài trắng và đôi bốt cao mới tinh, trông hắn bảnh bao chẳng kém gì ai nếu đặt cạnh đám đánh xe. Trong vòng tay, hắn đang ôm một thứ gì to lớn, màu trắng, thoạt nhìn có vẻ kỳ lạ, và báng súng cũng lấp ló nhô ra từ phía sau vai hắn.

Từ trong bóng tối bước vào vòng tròn ánh sáng, hắn khựng lại như thể hóa đá, và trong nửa phút nhìn chằm chằm vào những người đánh xe như muốn nói: “Hãy nhìn xem tôi có nụ cười đẹp nhường nào này!”

Rồi hắn tiến một bước về phía đống lửa, mỉm cười rạng rỡ hơn nữa và nói:

“Xin chào bánh và muối nhé, các bạn!”

“Xin chào mừng anh!” Panteley đại diện cho tất cả đáp lời.

Người lạ đặt thứ hắn đang ôm trong tay xuống cạnh đống lửa — đó là một con gà gô lớn đã chết — và chào họ thêm một lần nữa.

Tất cả tiến lại gần con gà gô và bắt đầu săm soi.

“Một con chim lớn béo tốt; anh dùng gì để hạ nó vậy?” Dymov hỏi.

“Đạn chùm. Anh không thể bắn trúng nó bằng đạn nhỏ đâu, nó không để anh đến gần thế đâu. Mua đi các bạn! Tôi để lại cho các cậu với giá hai mươi kopeck thôi.”

“Mua về thì làm được gì chứ? Nướng thì ngon đấy, nhưng tôi cá là hầm lên thì dai như giầy da, nhai không nổi đâu. . . .”

“Ồ, tiếc thật đấy! Tôi sẽ đem nó đến chỗ mấy người quý tộc ở trang trại; họ sẽ trả cho tôi nửa rúp ấy chứ. Nhưng mà đường xa quá — tới mười hai dặm lận!”

Người lạ ngồi xuống, cởi súng ra và đặt sang bên cạnh.

Hắn trông có vẻ ngái ngủ và bơ phờ; hắn ngồi mỉm cười, nheo mắt nhìn ánh lửa, dường như đang nghĩ đến điều gì đó rất dễ chịu. Họ đưa cho hắn một chiếc thìa; hắn bắt đầu ăn.

“Anh là ai thế?” Dymov hỏi hắn.

Người lạ không nghe thấy câu hỏi; hắn không trả lời, thậm chí còn chẳng liếc nhìn Dymov. Rất có thể con người hay cười này cũng chẳng cảm nhận được hương vị của bát cháo, bởi vì hắn có vẻ ăn một cách máy móc, đôi khi đưa thìa lên miệng đầy ắp nhưng có lúc lại trống rỗng. Hắn không say, nhưng trong đầu hình như đang nghĩ đến những chuyện vớ vẩn nào đó.

“Tôi hỏi anh là ai cơ mà?” Dymov lặp lại.

“Tôi á?” kẻ lạ mặt giật mình nói. “Konstantin Zvonik ở Rovno. Cách đây ba dặm.”

Và với mong muốn cho thấy ngay lập tức rằng mình không phải là một tên nông dân bình thường, mà là một người có vai vế hơn, Konstantin vội vàng nói thêm:

“Chúng tôi nuôi ong và vỗ béo lợn.”

“Cậu ở với bố mẹ hay ở nhà riêng?”

“Không; giờ tôi ở nhà riêng rồi. Tôi đã ra ở riêng. Tháng này, ngay sau ngày lễ thánh Phêrô, tôi đã lấy vợ. Giờ tôi là người có gia đình rồi! . . . Đám cưới được mười tám ngày rồi đấy.”

“Thế thì tốt quá,” Panteley nói. “Lấy vợ là điều tốt . . . . Được ơn phước của Chúa mà.”

“Cô vợ trẻ ở nhà còn hắn thì lang thang khắp thảo nguyên,” Kiruha cười lớn. “Gã này thật kỳ cục!”

Cứ như thể vừa bị véo vào chỗ hiểm, Konstantin giật mình, cười lớn và đỏ bừng cả mặt.

“Nhưng lạy Chúa, cô ấy có ở nhà đâu!” hắn nói nhanh, rút thìa khỏi miệng và đảo mắt nhìn mọi người với vẻ mặt vui sướng và kinh ngạc. “Cô ấy không có nhà; cô ấy về nhà mẹ đẻ ba ngày rồi! Vâng, đúng vậy, cô ấy đi vắng, và tôi cứ có cảm giác như mình chưa có gia đình vậy. . . .”

Konstantin xua tay và quay đầu đi; hắn muốn tiếp tục suy nghĩ, nhưng niềm vui đang rạng ngời trên khuôn mặt đã ngăn cản hắn làm điều đó. Cứ như thể đang ngồi không yên chỗ, hắn đổi tư thế, cười lớn và lại xua tay. Hắn cảm thấy xấu hổ khi chia sẻ những suy nghĩ hạnh phúc của mình với người lạ, nhưng đồng thời hắn lại khao khát đến cháy bỏng được giãi bày niềm vui của mình.

“Cô ấy về Demidovo thăm mẹ,” hắn vừa nói vừa đỏ mặt và dịch chuyển khẩu súng. “Ngày mai cô ấy sẽ về. . . . Cô ấy bảo sẽ về kịp bữa trưa.”

“Thế cậu nhớ cô ấy à?” Dymov nói.

“Ôi Chúa ơi, vâng, đương nhiên rồi chứ lỵ. Chúng tôi mới cưới nhau chưa được bao lâu mà cô ấy đã đi vắng rồi. . . . Ứi chà! Ồ mà cô ấy là một người ranh mãnh đấy, có Chúa chứng giám! Cô ấy là một cô gái tuyệt vời, xinh đẹp, rất hay cười và hát ca, tràn đầy sức sống và nhiệt huyết! Khi cô ấy ở nhà, đầu óc bạn cứ xoay mòng mòng, còn bây giờ cô ấy đi vắng thì tôi cứ lang thang khắp thảo nguyên như một kẻ ngốc, cứ như thể vừa đánh mất thứ gì vậy. Tôi đã đi bộ từ bữa trưa tới giờ đấy.”

Konstantin dụi mắt, nhìn đống lửa và cười.

“Thế ra cậu yêu cô ấy lắm. . .,” Panteley nói.

“Cô ấy thật tuyệt vời và xinh đẹp,” Konstantin lặp lại, chẳng thèm nghe ông nói; “lại là một tay tề gia nội trợ tháo vát, thông minh và sắc sảo. Cậu sẽ chẳng tìm được người thứ hai như thế giữa chốn dân thường trong cả tỉnh này đâu. Cô ấy đã đi vắng rồi. . . . Nhưng cô ấy cũng đang nhớ tôi, tôi biế-ết chứ! Tôi lạ gì con ác là nhỏ ấy nữa. Cô ấy bảo ngày mai sẽ về kịp giờ ăn trưa mà. . . . Và thử nghĩ xem mới kỳ cục làm sao!” Konstantin suýt hét lên, cất giọng cao hơn một tông và dịch chuyển chỗ ngồi. “Giờ thì cô ấy yêu tôi và buồn bã khi không có tôi, thế mà ban đầu cô ấy nhất quyết không chịu lấy tôi đấy.”

“Thế thì ăn đi đã chứ,” Kiruha nói.

“Cô ấy không chịu lấy tôi,” Konstantin tiếp tục, phớt lờ hắn. “Tôi đã phải đấu tranh với cô ấy suốt ba năm trời! Tôi gặp cô ấy ở hội chợ Kalatchik; tôi yêu cô ấy say đắm, chỉ muốn thắt cổ tự vẫn luôn cho rồi. . . . Tôi sống ở Rovno, cô ấy ở Demidovo, cách nhau hơn hai mươi dặm và tôi chẳng làm gì được cả. Tôi sai mai mối đến hỏi cưới, vậy mà cô ấy chỉ đáp gọn lỏn: ‘Tôi không lấy đâu!’ A cái con ác là này! Tôi gửi hết món quà này đến món quà khác cho cô ấy, nào bông tai, bánh trái, lại thêm cả hai mươi cân mật ong — thế mà cô ấy vẫn bảo: ‘Tôi không lấy!’ Cứ thế đấy. Ngẫm lại thì tôi nào xứng với cô ấy! Cô ấy vừa trẻ trung vừa xinh đẹp, tràn đầy nhiệt huyết, trong khi tôi thì già khú đế: sắp sang tuổi ba mươi rồi, lại còn là một gã trai đẹp mã chính hiệu với cái bộ râu dê, khuôn mặt thì mọc đầy mụn nhọt — sao mà sánh được với cô ấy chứ! Điểm duy nhất để an ủi là nhà chúng tôi khá giả, nhưng nhà bọn Vahramenky cũng khá giả chẳng kém. Họ có tới sáu con bò đực, lại nuôi cả dạo tớ nữa. Các bạn ơi, tôi yêu đến mức như thể mắc chứng dịch hạch ấy. Chẳng tài nào ngủ hay ăn uống gì được; đầu óc lúc nào cũng ngập tràn suy nghĩ và rối bời lên, lạy Chúa phù hộ! Tôi khao khát được gặp cô ấy, thế mà cô ấy lại ở tận Demidovo. Các cậu đoán xem nào? Chúa làm chứng cho tôi, tôi không nói điêu đâu, một tuần tôi đi bộ sang đó tận ba lần chỉ để được ngắm cô ấy một cái. Tôi bỏ bê cả công việc! Tôi phát rồ đến mức suýt chút nữa đã xin làm thuê ở Demidovo để được ở gần cô ấy cơ mà. Tôi khổ sở biết chừng nào! Mẹ tôi phải mời thầy bùa về cúng cả chục lần; bố tôi thì nện cho tôi nhừ đòn. Tôi chịu đựng sự hành hạ đó ròng rã ba năm trời, rồi tôi tự quyết định. ‘Mặc thây đời!’ tôi tự nhủ. ‘Ta sẽ ra thị trấn làm phu xe . . . . Chắc là trời không xe duyên rồi.’ Đến dịp lễ Phục sinh, tôi lại đến Demidovo để nhìn cô ấy lần cuối. . . .”

Konstantin ngửa đầu ra sau và bật lên những tràng cười vui vẻ trong trẻo, cứ như thể hắn vừa lừa được ai đó một vố rất ngoạn mục.

“Tôi thấy cô ấy ở bờ sông cùng đám trai làng,” hắn kể tiếp. “Máu giận dồn lên não tôi. . . . Tôi gọi cô ấy ra một góc và có lẽ suốt một tiếng đồng hồ tôi tuôn ra đủ thứ chuyện với cô ấy. Thế là cô ấy phải lòng tôi đấy! Suốt ba năm trời cô ấy chẳng thèm ngó ngàng tới tôi! thế mà cô ấy lại đem lòng yêu tôi chỉ vì những lời tôi nói hôm đó đấy. . . .”

“Cậu đã nói gì với cô ấy thế?” Dymov hỏi.

“Tôi nói gì á? Tôi chịu, chẳng nhớ nổi. . . Làm sao mà nhớ được cơ chứ? Lúc ấy lời nói cứ tuôn ra như nước chảy từ vòi, chẳng kịp ngừng để thở. Ta-ta-ta! Thế mà bây giờ thì tôi chẳng thốt nổi ra lời nào nữa. . . . Chà, thế là cô ấy đồng ý lấy tôi. . . . Giờ thì cô ấy về thăm mẹ rồi, cái con ác là ấy, và trong lúc cô ấy đi vắng thì tôi lang thang khắp thảo nguyên. Tôi không thể ngồi yên ở nhà nổi! Quá sức chịu đựng đối với tôi rồi!”

Konstantin ngượng ngùng duỗi đôi chân nãy giờ dùng làm ghế ngồi ra, ngả người xuống đất và chống cằm bằng hai nắm tay, rồi lại chồm dậy ngồi thẳng lên. Đến lúc này thì ai nấy đều hiểu rõ mười mươi rằng hắn đang yêu và đang hạnh phúc, hạnh phúc đến nao lòng; nụ cười, ánh mắt và từng cử động của hắn đều thể hiện một niềm hạnh phúc nồng cháy. Hắn không tài nào tìm được chỗ ngồi yên cho mình, và chẳng biết phải tạo dáng thế nào để không bị nuốt chửng bởi vô vàn những suy nghĩ ngọt ngào đang dâng trào. Sau khi trút hết bầu tâm sự trước những người xa lạ này, cuối cùng hắn cũng ngoan ngoãn ngồi im xuống, ngước nhìn đống lửa và chìm đắm trong suy tư.

Chứng kiến con người hạnh phúc này, ai nấy đều cảm thấy chùng xuống và khao khát được hạnh phúc biết bao. Mọi người đều chìm vào mộng tưởng. Dymov đứng dậy, bước đi nhẹ nhàng quanh đống lửa, và qua dáng đi, qua chuyển động của phần bả vai, có thể thấy anh đang bị đè nặng bởi sự chán nản và niềm khao khát khôn nguôi. Anh đứng lặng đi một lát, nhìn Konstantin rồi ngồi xuống.

Đống lửa trại lúc này đã lụi tàn; chẳng còn ánh bập bùng nào nữa, và khoảng sáng đỏ rực đã thu nhỏ lại và mờ hẳn đi. . . . Và khi ngọn lửa tắt dần thì ánh trăng càng lúc càng trở nên rõ rệt. Giờ đây họ có thể nhìn thấy trọn vẹn bề rộng của con đường, những kiện len, phần càng của những cỗ xe ngựa, bầy ngựa đang nhai cỏ; ở phía bên kia con đường là bóng mờ ảo của cây thánh giá thứ hai. . . .

Dymov tì má lên bàn tay và khẽ ngân nga một giai điệu đầy ai oán. Konstantin mỉm cười ngái ngủ và hòa giọng theo bằng một âm vực the thé. Họ hát chừng nửa phút rồi chìm vào im lặng. Emelyan giật mình, cử động khua khua khuỷu tay và ngoáy các ngón tay.

“Các bạn ơi,” hắn nói với giọng van nài, “chúng ta hát bài gì đó về thánh thần đi!” Nước mắt trào ra khóe mi hắn. “Các bạn ơi,” hắn lặp lại, đặt hai tay lên ngực, “chúng ta hát bài gì đó thánh thi đi!”

“Tôi chẳng biết bài nào hết,” Konstantin nói.

Mọi người đều từ chối, thế là Emelyan đành hát một mình. Hắn vung cả hai tay, gật gù cái đầu, há hốc miệng, nhưng từ cổ họng hắn chẳng thốt ra được gì ngoài một tiếng khò khè lạc điệu. Hắn hát bằng cả cánh tay, bằng cái đầu, bằng đôi mắt, thậm chí bằng cả vết sưng trên mặt; hắn hát với tất cả sự say mê và nỗi thống khổ, và càng cố gắng dồn nén lồng ngực để vắt ra dẫu chỉ một nốt nhạc, thì những tiếng khò khè của hắn lại càng thêm lạc điệu.

Yegorushka, cũng như những người khác, bị bao trùm bởi nỗi buồn nản. Cậu bước về phía chiếc xe ngựa của mình, trèo lên đống kiện hàng rồi nằm xuống. Cậu ngước nhìn bầu trời, nghĩ về Konstantin hạnh phúc và người vợ của hắn. Tại sao con người ta lại phải kết hôn? Phụ nữ sinh ra trên đời để làm gì? Yegorushka tự đặt ra những câu hỏi mơ hồ ấy cho bản thân, và nghĩ rằng một người đàn ông chắc chắn sẽ hạnh phúc nếu có một người phụ nữ dịu dàng, vui tính và xinh đẹp luôn sống bên cạnh mình. Không hiểu vì sao cậu lại nhớ đến Nữ bá tước Dranitsky, và nghĩ rằng sống với một người phụ nữ như thế chắc chắn sẽ rất tuyệt; có lẽ cậu sẽ rất vui lòng kết hôn với cô ấy nếu ý nghĩ đó không quá mức xấu hổ. Cậu nhớ lại đôi lông mày, đôi tròng mắt, dáng đi của cô ấy, chiếc đồng hồ có hình người kỵ sĩ. . . . Đêm ấm áp dịu dàng trôi nhẹ xuống người cậu và thì thầm điều gì đó bên tai, và cậu có cảm giác như đó chính là người phụ nữ xinh đẹp kia đang cúi xuống, nhìn cậu mỉm cười và định đặt một nụ hôn lên trán cậu. . . .

Chẳng còn lại gì từ đống lửa ngoài hai đốm đỏ nhỏ xíu cứ nhỏ dần và nhỏ dần. Konstantin và những người đánh xe đang ngồi quanh đó, những bóng người đen sẫm bất động, và người ta có cảm giác số lượng người ở đó đông hơn hẳn lúc trước. Cây thánh giá đôi hiện lên rõ mồn một như nhau, và ở đằng xa tắp, đâu đó bên đường cái quan lóe lên một ánh đỏ — có lẽ là những kẻ khác đang nấu cháo.

“Mẹ Nga của chúng ta là thủ lĩnh của muôn loài!” Kiruha chợt cất giọng khàn đặc, lạc điệu rồi nghẹn ngào tắt tiếng. Tiếng vang của thảo nguyên bắt lấy giọng hắn, mang đi xa, và người ta có cảm giác như chính sự ng u dốt đang lăn trên những chiếc bánh xe nặng nề nghiến qua thảo nguyên vậy.

“Đến lúc đi rồi,” Panteley nói. “Dậy đi các cậu.”

Trong lúc họ đang đánh ngựa vào xe, Konstantin đi bộ dọc theo những chiếc xe ngựa và say sưa nói về người vợ của mình.

“Chào mấy người nhé!” hắn hét lên khi xe bắt đầu lăn bánh. “Cảm ơn lòng hiếu khách của các anh. Tôi lại đi về hướng ngọn đèn kia đây. Quá sức chịu đựng của tôi rồi.”

Và hắn nhanh chóng biến khuất trong làn sương mù, và trong một thời gian dài, người ta vẫn nghe tiếng hắn sải bước rầm rập về hướng ánh đèn để kể cho những người lạ kia nghe về hạnh phúc của mình.

Khi Yegorushka thức dậy vào ngày hôm sau thì trời đã rạng sáng; mặt trời vẫn chưa mọc. Những chiếc xe ngựa đang đứng yên tại chỗ. Một người đàn ông đội mũ trắng và mặc bộ đồ bằng vải xám rẻ tiền, cưỡi trên một chú ngựa con giống Cossack, đang trò chuyện với Dymov và Kiruha bên cạnh chiếc xe đi đầu. Cách đó khoảng một dặm rưỡi phía trước là những dãy nhà kho trắng thấp dài và những ngôi nhà nhỏ lợp ngói; bên cạnh những ngôi nhà nhỏ ấy chẳng thấy bóng dáng sân hiên hay cây cối nào.

“Đấy là làng nào thế ông?” Yegorushka hỏi.

“Đó là Khu định cư Armenia đấy, cháu ạ,” Panteley đáp. “Người Armenia sống ở đó. Họ là những người tốt, . . . người Armenia ấy mà.”

Người đàn ông mặc đồ xám đã ngừng trò chuyện với Dymov và Kiruha; ông ta kìm cương chú ngựa con lại và hướng mắt nhìn về phía khu định cư.

“Đúng là rắc rối thật, cứ ngẫm mà xem!” Panteley thở dài, cũng nhìn về phía khu định cư và rùng mình trước cái lạnh buổi sớm. “Ông ta phái người vào khu định cư lấy giấy tờ, thế mà hắn mãi không chịu về . . . . Lẽ ra ông ấy nên sai Styopka đi mới phải.”

“Ai thế hả ông?” Yegorushka hỏi.

“Varlamov.”

Chúa ơi! Yegorushka vùng dậy ngay lập tức, quỳ gối lên và nhìn chằm chằm vào chiếc mũ trắng. Thật khó lòng nhận ra vị Varlamov bí ẩn khó nắm bắt, kẻ được mọi người lùng sục khắp nơi, lúc nào cũng tất bật “đi tuần tra” và có nhiều tiền hơn cả Nữ bá tước Dranitsky, ở hình bóng của gã đàn ông lùn mặc đồ xám đi bốt cao đang ngồi trên một con ngựa còi cọc xấu xí và trò chuyện với đám nông dân vào cái giờ mà mọi người tử tế đều đang say giấc nồng.

“Ông ấy là người được đấy, một người tốt,” Panteley vừa nói vừa nhìn về phía khu định cư. “Chúa ban sức khỏe cho ông ấy — một quý ông tuyệt vời, Semyon Alexandritch. . . . Trái đất này phải nhờ cậy vào những con người như thế đấy. Đúng thế đấy. . . . Gà gáy chưa mà ông ấy đã thức dậy và đi lại rồi. . . . Người khác thì đang ngủ khò, hoặc mải vui thú với khách khứa ở nhà rồi, đằng này ông ấy ở ngoài thảo nguyên cả ngày, . . . đi kiểm tra khắp nơi. . . . Ông ấy không để lọt lưới việc gì đâu. . . . Không-ồ! Hắn là một gã cừ khôi. . .”

Varlamov đang bàn chuyện gì đó, trong khi mắt vẫn đăm đăm nhìn thẳng. Chú ngựa con bồn chồn đổi chân từ bên này sang bên kia.

“Semyon Alexandritch!” Panteley cất tiếng gọi, đồng thời cất mũ xuống. “Xin ngài cho phép chúng tôi phái Styopka đi!” Emelyan, gọi lớn lên bảo cử Styopka đi đi.”

Nhưng giờ thì cuối cùng người ta cũng thấy một người cưỡi ngựa đang phi tới từ khu định cư. Nghiêng hẳn người sang một bên và vung vòn roi lên đầu như một chàng trai trẻ miền Kavkaz hào hoa muốn làm kinh ngạc tất cả bằng tài cưỡi ngựa của mình, hắn lao về phía những chiếc xe ngựa với tốc độ nhanh như chớp.

“Chắc hẳn đó là một trong những tay chân tuần tra của ông ấy,” Panteley nhận xét. “Ông ấy chắc phải có cả trăm kỵ sĩ như thế hoặc hơn thế nữa.”

Đến được chiếc xe đi đầu, hắn kìm cương dừng ngựa lại, cất mũ chào và trao cho Varlamov một cuốn sổ nhỏ. Varlamov rút vài tờ giấy ra khỏi cuốn sổ, đọc chúng rồi quát lớn:

“Thế còn bức thư của Ivantchuk đâu?”

Kỵ sĩ nọ nhận lại cuốn sổ, nhìn lướt qua mấy tờ giấy rồi nhún vai. Hắn bắt đầu bập bõm nói gì đó, có lẽ là đang thanh minh và xin phép được phi ngựa quay lại khu định cư lần nữa. Chú ngựa con bỗng lồng lên như thể Varlamov vừa nặng cân hơn. Varlamov cũng cựa quậy.

“Đi đi!” ông quát lên giận dữ và giơ roi quất vào người hắn.

Rồi ông quay đầu ngựa lại, vừa lật xem những trang giấy trong sổ vừa thong thả bước đi song song với đoàn xe ngựa. Khi ông đi đến chiếc xe cuối cùng, Yegorushka căng tròn mắt để nhìn cho rõ mặt ông. Varlamov là một người đàn ông lớn tuổi. Khuôn mặt ông, một khuôn mặt nông dân Nga phác mộc bị nắng gió tạt rám nắng với bộ râu xám ngắn, đỏ bừng, ướ đẫm sương đêm và nổi những đường gân xanh nhỏ; nó mang cái vẻ lạnh lùng chuyên tâm công việc hệt như khuôn mặt của Ivan Ivanitch, cùng một ánh nhìn nhiệt thành cuồng tín vì công việc. Nhưng dẫu vậy, người ta vẫn cảm nhận được sự khác biệt lớn nhường nào giữa ông và Kuzmitchov! Chú Ivan Ivanitch lúc nào cũng mang trên mặt, bên cạnh vẻ điềm tĩnh cốt cách làm ăn, cả sự lo âu và phảng phất nỗi sợ rằng mình sẽ không tìm thấy Varlamov, rằng mình sẽ đến muộn, rằng mình sẽ bỏ lỡ một mối giá hời; chẳng có chút gì kiểu cách đó, vốn là đặc trưng của những kẻ nhỏ nhoi và phụ thuộc, có thể nhìn thấy trên khuôn mặt hay dáng dấp của Varlamov. Con người này tự định đoạt giá cả, chẳng tìm kiếm ai và cũng chẳng phụ thuộc vào ai; dẫu bề ngoài có bình dị đến đâu, thì trong mọi thứ, ngay cả ở cách cầm roi, vẫn toát lên một cảm giác quyền uy và uy quyền thâm căn cố đế đối với thảo nguyên.

Khi cưỡi ngựa ngang qua Yegorushka, ông thậm chí chẳng thèm liếc nhìn cậu. Chỉ có chú ngựa con là rủ lòng thương chú ý đến Yegorushka; nó nhìn cậu bằng đôi mắt to ngốc nghếch của mình, và ngay cả nó cũng chẳng hề tỏ ra tò mò. Panteley cúi đầu chào Varlamov; ông nhận ra điều đó, và mắt vẫn không rời khỏi những trang giấy, miệng ngọng nghịu cất lời:

“Khỏe cả chứ, cụ già?”

Cuộc trò chuyện của Varlamov với gã kỵ sĩ và cách ông vung roi rõ ràng đã để lại một ấn tượng áp đảo lên toàn bộ nhóm người. Ai nấy đều ra vẻ đăm chiêu. Kỵ sĩ nọ, cúi gằm vì cơn giận dữ của nhân vật lớn, vẫn chết trân tại chỗ với chiếc mũ trên tay và dây cương buông thõng bên chiếc xe đi đầu; hắn im lặng, dường như vẫn không thể tiếp thu nổi việc ngày mới lại bắt đầu với mình tệ hại đến thế.

“Ông lão ấy là một kẻ khắc nghiệt, . . .” Panteley lầm bầm. “Thật tiếc vì ông ấy lại khắc nghiệt đến vậy! Nhưng ông ấy cũng là người tốt, . . . chẳng vô cớ mà mắng mỏ ai đâu. . . . Chẳng sao cả. . . .”

Sau khi kiểm tra giấy tờ, Varlamov nhét cuốn sổ vào túi; chú ngựa con, như thể biết rõ ý chủ, không cần đợi lệnh đã cất vó lao đi trên đường cái quan.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.