Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4127 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ii

❊ ❊ ❊

Gần trưa, chiếc xe ngựa rẽ khỏi con đường lớn sang bên phải; nó đi chậm lại một quãng ngắn rồi dừng hẳn. Yegorushka nghe thấy tiếng nước chảy róc rách dịu dàng, đầy mơn man, và cảm nhận được một luồng không khí khác mơn man trên mặt với xúc cảm mát rượi tựa nhung là. Xuyên qua một ống dẫn nước bằng cây độc hemlock do một ân nhân vô danh nào đó cắm vào, dòng nước nhỏ giọt róc rách chảy ra từ một ngọn đồi thấp được tạo thành từ những tảng đá khổng lồ kỳ dị. Nước rơi xuống đất, trong vắt, lấp lánh vui tươi dưới ánh mặt trời và thì thầm dịu êm như thể tưởng tượng mình là một dòng lũ cuồn cuộn dữ dội, rồi nhanh chóng chảy ngoặt sang bên trái. Cách nguồn không xa, dòng suối nhỏ phình ra thành một vũng nước; những tia nắng thiêu đốt và đất đai khô cằn tham lam hút cạn và rút kiệt sức sống của nó; nhưng xa hơn một chút, hẳn nó đã hòa vào một lạch nước khác, bởi chỉ cách đó một trăm bước chân, những khóm sậy dày đặc đã xanh mướt và tươi tốt dọc theo lòng suối, và ba con dẽ giun từ đó cất tiếng kêu inh ỏi bay vút lên khi chiếc xe ngựa chạy ngang qua.

Những lữ khách xuống xe nghỉ ngơi bên bờ suối và cho ngựa ăn. Kuzmitchov, cha xứ Christopher và Yegorushka ngồi xuống một tấm chiếu nằm trong dải bóng râm hẹp do chiếc xe ngựa và bầy ngựa đã tháo ách tạo ra. Ý nghĩ dễ chịu nảy ra trong đầu cha xứ Christopher sau khi ngài uống một ngụm nước và ăn một quả trứng luộc chín kỹ liền đòi hỏi được bộc lộ. Ngài nhìn Yegorushka bằng ánh mắt thân thiện, nhai ngấu nghiến, rồi cất lời:

“Ta cũng từng đi học đấy, con ạ; từ thuở bé thơ, Chúa đã ban cho ta sự minh mẫn và hiểu biết, thế nên khi còn là một chú nhóc trạc tuổi con, ta đã vượt trội hơn người khác, là niềm an ủi cho cha mẹ và thầy dạy nhờ sự sáng suốt của mình. Trước năm mười lăm tuổi, ta đã có thể nói và làm thơ bằng tiếng Latinh trôi chảy như tiếng Nga. Ta từng là người mang gậy mục vụ cho Đức Giám Mục Christopher. Có một bận sau thánh lễ, ta nhớ đó là ngày lễ thánh bổn mạng của Đức Hoàng đế Alexandr Pavlovitch kính mến, ngài cởi phẩm phục trước bệ thờ, nhìn ta trìu mến và hỏi: ‘Puer bone, quam appelaris?’ Và ta đáp: ‘Christopherus sum;’ rồi ngài bảo: ‘Ergo connominati sumus’—nghĩa là chúng ta trùng tên nhau. . . Rồi ngài lại hỏi bằng tiếng Latinh: ‘Con là con nhà ai?’ Ta liền đáp, cũng bằng tiếng Latinh, rằng ta là con trai của phó tế Sireysky ở làng Lebedinskoe. Thấy sự lanh lợi và câu trả lời rành mạch của ta, Đức Giám Mục đã ban phước và bảo: ‘Hãy viết thư cho cha con rằng ta sẽ không quên ông ấy, và ta sẽ để mắt chiếu cố con.’ Các vị linh khảo và cha xứ đứng quây quần quanh bệ thờ, nghe chúng ta đối đáp bằng tiếng Latinh, không khỏi ngạc nhiên, và ai nấy đều bày tỏ sự thán phục để ca ngợi ta. Trước khi mọc râu, con ạ, ta đã có thể đọc thông thạo tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp và tiếng Pháp; ta biết triết học, toán học, lịch sử thế tục và mọi môn khoa học. Chúa ban cho ta một trí nhớ tuyệt vời. Thỉnh thoảng, chỉ cần đọc qua một hoặc hai lần là ta đã thuộc lòng. Các thầy dạy và ân nhân đều kinh ngạc, và họ kỳ vọng ta sẽ trở thành một học giả, một ngọn hải đăng của Giáo hội. Ta từng có ý định đến Kiev để tiếp tục việc học, nhưng cha mẹ ta không chuẩn y. ‘Con sẽ học suốt đời sao?’ cha ta bảo; ‘khi nào chúng ta mới thấy con thành tài?’ Nghe những lời ấy, ta từ bỏ việc học và ra làm công chức. . . Tất nhiên, ta không trở thành một bậc học giả, bù lại ta không trái lời cha mẹ; ta là chỗ dựa an ủi cho họ lúc tuổi già và lo cho họ một tang lễ chu đáo. Sự vâng phục trọng hơn việc ăn chay và cầu nguyện.”

“Chắc ngài đã quên hết chữ nghĩa rồi chứ?” Kuzmitchov nhận xét.

“Ta tưởng thế chứ! Tạ ơn Chúa, ta đã bước sang tuổi tám mươi! Chút ít về triết học và hùng biện thì ta vẫn nhớ, chứ ngôn ngữ với toán học thì quên sạch rồi.”

Cha xứ Christopher nheo mắt, trầm ngâm suy nghĩ một phút rồi lẩm bẩm đọc:

“Thực thể là gì? Một tạo vật là một khách thể tự tồn, không cần đến bất cứ thứ gì khác để được trọn vẹn.”

Ngài lắc đầu và cười đầy cảm xúc.

“Dưỡng chất tinh thần!” ngài nói. “Quả thực vật chất nuôi dưỡng thể xác còn dưỡng chất tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn!”

“Học thức thì tốt thật đấy,” Kuzmitchov thở dài, “nhưng nếu chúng ta không bắt kịp Varlamov, thì học thức cũng chẳng giúp ích được mấy.”

“Con người chứ có phải cây kim đâu—tụi mình sẽ tìm ra lão thôi. Lão thế nào cũng đang đi vòng quanh mấy vùng này.”

Lẩn khuất giữa đám cỏ lác là ba con dẽ giun lúc nãy, và trong tiếng kêu ai oán của chúng phảng phất sự hoảng hốt và bực bội vì bị xua đuổi khỏi dòng suối. Đám ngựa vẫn đang chăm chỉ nhai cỏ và khịt khịt mũi. Deniska đi dạo quanh mấy con ngựa, cố tỏ ra dửng dưng trước đống dưa leo, bánh nướng và trứng mà mấy người bề trên đang ăn, nhưng thực chất cậu ta đang dồn hết tâm trí vào bầy ruồi trâu và ruồi ngựa đang bám trên lưng và bụng ngựa; cậu ta dứt khoát đập chết từng con một cách vô cảm, phát ra một thứ âm thanh kỳ lạ, rợn ngợp đầy đắc thắng ở cổ họng, và mỗi khi vồ hụt, cậu lại hắng giọng vẻ bực dọc rồi ngoái nhìn theo những con may mắn trốn thoát.

“Deniska, mày đâu rồi? Lại đây mà ăn,” Kuzmitchov nói, thở dài một hơi thật sâu như dấu hiệu đã ăn xong.

Deniska rụt rè tiến lại tấm chiếu, chọn lấy năm quả dưa leo to và ngả vàng (cậu không dám lấy mấy quả nhỏ và tươi hơn), cầm lấy hai quả trứng luộc đã ngả màu sẫm và nứt vỏ, rồi chần chừ như thể sợ bị đánh vào bàn tay đang chìa ra, dùng ngón tay khẽ chạm vào một chiếc bánh nướng.

“Cầm lấy, cầm lấy đi,” Kuzmitchov giục.

Deniska dứt khoát nhón lấy mấy chiếc bánh, bước ra xa một quãng, rồi ngồi bệt xuống thảm cỏ với tấm lưng quay về phía chiếc xe ngựa. Ngay lập tức, tiếng nhai tóp tép vang lên rõ mồn một khiến đám ngựa cũng phải quay đầu lại nhìn Deniska với ánh mắt đầy ngờ vực.

Ăn xong, Kuzmitchov lôi từ trên xe xuống một cái bao tải đựng thứ gì đó và bảo Yegorushka:

“Ta đi ngủ đây, con nhớ canh chừng kẻo có ai lấy mất cái bao kê đầu của ta đấy.”

Cha xứ Christopher cởi áo cà sa, thắt lưng và chiếc áo khoác dài ra, khiến Yegorushka nhìn thấy liền ngẩn ngơ kinh ngạc. Cậu chưa từng tưởng tượng rằng các linh mục lại mặc quần dài, và cha xứ Christopher đang mặc một chiếc quần bằng vải bố thực sự được nhét vào đôi bốt cao cổ, cùng với một chiếc áo khoác sọc ngắn ngủn. Nhìn ngài trong bộ dạng này, một trang phục chẳng tương xứng chút nào với địa vị tôn nghiêm, lại thêm mái tóc dài và bộ râu xồm xoàm, Yegorushka thấy ngài trông rất giống nhân vật Robinson Crusoe. Cởi bỏ y phục bên ngoài xong, Kuzmitchov và cha xứ Christopher nằm xuống phần bóng râm dưới gầm xe, mặt đối mặt, rồi nhắm mắt lại. Deniska sau khi nhai xong xuôi bèn duỗi cẳng nằm ngửa và cũng nhắm nghiền mắt lại.

“Mày coi chừng kẻo ai dắt mất ngựa đấy nhé!” cậu ta dặn Yegorushka rồi chìm vào giấc ngủ ngay tức khắc.

Sự tĩnh mịch bao trùm. Chẳng còn âm thanh nào khác ngoài tiếng nhai cỏ, khịt mũi của bầy ngựa và tiếng ngáy của những người đang ngủ; đâu đó tận đằng xa, một con chim te te kêu o o, và thỉnh thoảng lại văng vẳng tiếng kêu sắc lẹm của ba con dẽ giun bay tới xem những vị khách không mời đã đi chưa; dòng suối nhỏ róc rách thì thầm, nhưng tất cả những âm thanh ấy chẳng thể phá vỡ sự tĩnh lặng, chẳng làm lay động bầu không khí ngột ngạt, mà trái lại, chúng càng ru ngủ toàn bộ thiên nhiên chìm vào giấc mồng.

Yegorushka ngạt thở vì cái nóng, thứ cảm giác càng trở nên bức bối hơn sau bữa ăn, bèn chạy ù ra đám cỏ lác rồi phóng tầm mắt quan sát xung quanh. Cảnh vật vẫn y hệt như hồi sáng: đồng bằng, những ngọn đồi thấp, bầu trời, khoảng không gian mờ ảo sắc tử đinh hương; chỉ là các ngọn đồi nay đã nằm gần hơn; và cậu không thể nhìn thấy chiếc cối xay gió nữa vì nó đã bị bỏ lại phía sau từ lâu. Phía sau ngọn đồi đá – nơi dòng suối chảy ra – nhô lên một ngọn đồi khác phẳng và rộng hơn; một ngôi làng nhỏ gồm năm sáu nóc nhà bấu víu vào đó. Chẳng có bóng người, chẳng có cây cộ hay bóng râm nào quanh mấy mái tranh; trông ngôi làng như thể đã chết lịm đi trong bầu không khí cháy bỏng và khô cằn. Để giết thời gian, Yegorushka bắt một con châu chấu trong đám cỏ, áp tay đang khum lại vào tai rồi ngẩn ngơ lắng nghe con vật gảy đàn suốt hồi lâu. Khi đã chán thứ âm thanh ấy, cậu đuổi theo một đàn bướm vàng đang bay về phía đám cỏ lác ven dòng suối, để rồi bỗng nhiên thấy mình đã đứng cạnh chiếc xe ngựa từ lúc nào chẳng hay. Ông chú và cha xứ Christopher đang ngủ say sưa; giấc ngủ của họ chắc chắn sẽ kéo dài hai, ba tiếng đồng hồ cho đến khi bầy ngựa nghỉ ngơi lại sức. . . Phải làm sao để vượt qua quãng thời gian đằng đẵng ấy, và trốn tránh cái nóng này ở đâu đây? Quả là một bài toán khó. . . Một cách máy móc, Yegorushka áp môi vào dòng nước nhỏ rỉ ra từ ống dẫn; một cảm giác buốt lạnh lan trong khoang miệng kèm theo mùi hắc của cây độc hemlock. Ban đầu cậu uống ngấu nghiến, rồi cố uống tiếp cho đến khi cái lạnh buốt lan từ miệng khắp toàn thân và nước tràn cả lên áo. Sau đó, cậu tiến lại gần chiếc xe ngựa và ngắm nhìn những gương mặt đang ngủ. Khuôn mặt ông chú vẫn giữ nguyên vẻ bận rộn và kín đáo như trước. Cuồng nhiệt vì công việc, Kuzmitchov lúc nào cũng vậy, ngay cả trong giấc ngủ hay khi ở nhà thờ lúc người ta đang hát khúc ca “Tựa như các Xê-ru-bim”, vẫn suy nghĩ về chuyện mần ăn và chẳng thể nào quên nó dù chỉ một khoảnh khắc; và lúc này, có lẽ chú đang mơ về những kiện len, xe ngựa, giá cả, và Varlamov. . . Trái lại, cha xứ Christopher, một con người mềm mỏng, nông nổi và ngớ ngẩn, chưa từng có giây phút nào trong đời bị ám ảnh bởi thứ gì có thể quấn lấy tâm hồn rồi siết chặt lấy nó như một con trăn lớn. Trong vô số những dự án mà ngài từng nhúng tay vào xưa nay, điều thu hút ngài không hẳn là bản thân công việc, mà là sự nhộn nhịp và những mối giao thiệp với người khác đi kèm theo mỗi công cuộc. Cứ như trong chuyến đi này, ngài hứng thú với hành trình dài, những câu chuyện dọc đường, cảnh ngủ dưới gầm xe và những bữa ăn thất thường hơn là chuyện len lọi, Varlamov hay giá cả. . . Và giờ đây, phỏng theo nét mặt, chắc hẳn ngài đang mơ về Đức Giám Mục Christopher, về cuộc tranh biện bằng tiếng Latinh, về người vợ, về mấy cái bánh kem xốp và đủ thứ chuyện mà Kuzmitchov đời nào mơ tới được.

Trong lúc Yegorushka đang ngắm nhìn khuôn mặt đang say ngủ của họ, cậu chợt nghe thấy tiếng hát dịu dàng; đâu đó từ đằng xa, một người phụ nữ đang hát, thật khó để phân biệt âm thanh phát ra từ đâu và theo hướng nào. Giọng hát trầm buồn, thê lương và ảm đạm như một khúc nhạc tiễn đưa, hầu như không thể nghe rõ, có lúc tưởng chur xuất phát từ bên phải, lúc lại từ bên trái, lúc từ trên cao, rồi từ dưới lòng đất vọng lên, tựa như một linh hồn vô hình đang lơ lửng trên thảo nguyên và cất tiếng ca. Yegorushka ngó quanh nhưng không sao xác định được bài ca kỳ lạ ấy cất lên từ đâu. Rồi khi lắng nghe kỹ hơn, cậu đâm ra tưởng tượng rằng chính thảm cỏ đang hát; trong lời ca khô héo và tàn tạ ấy không có lấy một từ ngữ, nhưng thật ai oán và thiết tha, nó giãi bày rằng nó chẳng có lỗi gì, rằng mặt trời đang thiêu đốt nó một cách oan uổng; nó van xin thiết tha được sống, rằng nó còn trẻ và đáng lẽ đã có thể đẹp đẽ biết bao nếu không có cái nóng và hạn hán; nó vô tội nhưng vẫn cầu xin sự tha thứ và oán trách rằng nó đang quằn quại trong đớn đau, buồn tủi cho chính thân phận mình. . .

Yegorushka lắng nghe một lát, và cậu bắt đầu có cảm giác bài ca thê lương, sầu thảm này khiến bầu không khí càng trở nên nóng bức, ngột ngạt và bức bối hơn. . . Để át đi tiếng hát, cậu chạy ù về phía đám cỏ lác, miệng vừa lẩm nhẩm hát vừa cố dậm chân thật mạnh xuống đất để gây ra tiếng động. Từ đó, cậu phóng tầm mắt nhìn khắp bốn phương và cuối cùng cũng tìm ra kẻ đang hát. Gần túp lều ở tận cùng ngôi làng đứng một người phụ nữ nông dân mặc chiếc váy ngắn, với đôi chân dài ngoẵng gầy guộc như cò. Mụ ta đang gieo thứ gì đó. Một làn bụi trắng uể oải bay ra từ chiếc sàng của mụ xuôi theo sườn đồi. Giờ thì rõ mồn một là mụ đang cất tiếng hát. Cách mụ chừng vài bước chân, một đứa bé trai đầu trần chuồng cồng ngồng chỉ mặc độc chiếc áo sơ mi đang đứng bất động. Như thể bị thôi miên bởi khúc ca, thằng bé đứng như trời trồng, đăm đăm nhìn vào cõi xa xăm, có lẽ là đang nhìn chiếc áo sơ mi đỏ thẫm của Yegorushka.

Tiếng hát dứt bặt. Yegorushka lững thững đi về phía chiếc xe ngựa, và để giết thời gian, cậu lại ra chỗ dòng nước nhỏ.

Và giai điệu thê lương ấy lại vang lên lần nữa. Vẫn là người đàn bà nhà nông chân dài ở ngôi làng bên kia sườn đồi ấy. Cảm giác chán chường lại quay quắt trở lại với Yegorushka. Cậu rời ống nước và ngẩng đầu lên. Cảnh tượng đập vào mắt bất ngờ đến mức khiến cậu hơi hoảng sợ. Ngay trên đầu cậu, đứng trên một trong những tảng đá lớn cục mịch là một đứa bé trai mũm mĩm, chẳng mảnh vải che thân ngoài chiếc áo sơ mi, với chiếc bụng phệ và đôi chân gầy guộc – chính là đứa nhóc ban nãy đứng cạnh người phụ nữ. Nó đang trợn tròn mắt, há hốc miệng đăm đăm nhìn chiếc áo sơ mi đỏ thẫm của Yegorushka và chiếc xe ngựa với vẻ ngạc nhiên ngây dại và thậm chí là sợ hãi, hệt như đang đối diện với những sinh vật đến từ thế giới khác. Sắc đỏ của chiếc áo vừa mê hoặc vừa lôi cuốn nó. Nhưng chiếc xe ngựa và những kẻ đang nằm ngủ bên dưới lại kích thích trí tò mò của nó; có lẽ nó không nhận thức được rằng sắc đỏ dễ chịu và trí tò mò đã kéo mình rời khỏi ngôi làng để đi xuống đây, và lúc này, có lẽ nó đang ngạc nhiên trước sự táo bạo của chính mình. Yegorushka trân trân nhìn nó một hồi lâu, và nó cũng nhìn lại Yegorushka. Cả hai đều im lặng và cảm thấy có chút ngượng ngùng. Sau một khoảng lặng kéo dài, Yegorushka cất tiếng hỏi:

“Tên mày là gì?”

Má kẻ lạ mặt càng phồng to hơn; nó ép sát lưng vào vách đá, trợn tròn hai mắt, mím môi và đáp lại bằng một giọng trầm khàn đặc: “Tit!”

Hai đứa trẻ chẳng thốt thêm lời nào với nhau; sau một thoáng im lặng, đôi mắt vẫn đăm đăm dán vào Yegorushka, vị khách bí ẩn Tit cất một chân lên, dùng gót chân dò dẫm tìm một chỗ bám rồi leo vọt lên mảng đá; từ đó, nó trèo tiếp lên tảng đá cao hơn, lảo đảo ngùi về phía sau và đăm đăm nhìn Yegorushka như thể sợ bị cậu đánh lén từ phía sau, cứ thế nó trèo tuốt lên trên cho đến khi khuất hẳn sau đỉnh đồi.

Nhìn theo bóng nó khuất dần, Yegorushka vòng tay ôm gối và gục đầu lên đó. . . Nắng gắt thiêu đốt sau gáy, cổ và sống lưng cậu. Khúc ca sầu thảm lịm dần, rồi lại dềnh lên lơ lửng trong bầu không khí ngột ngạt đứng gió. Dòng suối nhỏ róc rách đơn điệu, bầy ngựa nhai cỏ, và thời gian trôi đi dằng dặc không hồi kết, cứ như thể chính nó cũng ngưng đọng và đứng bánh lại. Tựa hồ đã có cả trăm năm trôi qua kể từ buổi sáng. Liệu có khi nào thế giới của Chúa, chiếc xe ngựa và bầy ngựa rồi sẽ đứng yên giữa bầu không khí ấy, để rồi hóa đá như những ngọn đồi và nằm bất động mãi mãi ở một xó không? Yegorushka ngẩng đầu lên, nheo đôi mắt đang xót nhức nhìn về phía trước; khoảng không gian mờ ảo sắc tử đinh hương vốn nãy giờ vẫn bất động, nay bắt đầu tròng cành, rồi cùng bầu trời trôi tuột vào cõi xa xăm. . . Nó kéo theo thảm cỏ nâu, đám cỏ lác, và với tốc độ phi thường, Yegorushka trôi đi theo khoảng xa xăm đang bay vụt ấy. Một sức mạnh vô hình lặng lẽ lôi cuốn cậu tiến lên, và cái nóng cùng khúc ca nhàm chán đuổi theo phía sau. Yegorushka cúi gằm đầu và nhắm nghiền mắt lại. . .

Deniska là người thức dậy đầu tiên. Chắc hẳn có con gì đó đã cắn cậu ta, vì cậu giật nảy người, nhanh tay gãi vai rồi lẩm bẩm:

“Mạt kiếp nhà mày, cái đồ ma giáo chết tiệt!”

Rồi cậu ta ra suối, uống nước và thong thả rửa mặt. Tiếng nước khỏa tung và tiếng thở phì phò của cậu đã đánh thức Yegorushka khỏi cơn mê mệt. Thằng bé nhìn khuôn mặt ướt đẫm nước lấm tấm những giọt nước và tàn nhang lớn khiến trông giống như cẩm thạch của Deniska, rồi hỏi:

“Sắp đi chưa anh?”

Deniska nhìn độ cao của mặt trời rồi đáp:

“Chắc là sắp rồi đấy.”

Cậu ta lấy vạt áo lau khô mặt, làm vẻ mặt cực kỳ nghiêm túc rồi nhảy lò cò bằng một chân.

“Này, đố mày đứa nào chạy ra tới bãi cỏ lác trước đấy?” cậu ta thách thức.

Yegorushka đang kiệt sức vì nóng và buồn ngủ nhưng vẫn cố lúp xúp chạy theo. Deniska đã bước sang tuổi hai mươi, là một phu xe ngựa và sắp lấy vợ, thế nhưng tính trẻ con vẫn chưa hề phai mọt. Cậu rất thích thả diều, đuổi bắt bìm bịp, chơi đánh thẻ, chạy đua, và lúc nào cũng hùa theo mấy trò chơi hay cuộc cãi vã của lũ trẻ. Chỉ cần chủ vừa quay lưng đi hoặc chợp mắt là Deniska thế nào cũng dở trò nghịch ngợm như nhảy lò cò hay ném đá. Bất kỳ người lớn nào chứng kiến sự nhiệt tình thuần khiết khi cậu đùa giỡn trong thế giới của trẻ thơ cũng khó lòng mà không thốt lên rằng: “Đúng là cái đồ trẻ con!” Ngược lại, bọn trẻ chẳng thấy có gì kỳ lạ trước sự xâm nhập lãnh địa của anh chàng phu xe to xác ấy. “Cứ để cho ổng chơi,” chúng nghĩ ngợi, “miễn là đừng có đánh nhau là được!” Cũng giống như những chú cún con chẳng hề thấy lạ lùng khi một chú chó lớn tính tình đơn thuần không mời mà đến nhập bọn rồi cùng chơi đùa với chúng.

Deniska vượt lên trước Yegorushka, và rõ ràng là vô cùng đắc ý vì chiến tích đó. Cậu ta nháy mắt với Yegorushka, và để chứng minh mình có thể nhảy lò cò một chân đi bất cứ đâu, liền rủ Yegorushka nhảy đua theo con đường cái rồi từ đó không nghỉ nhịp nào nhảy ngược lại chỗ chiếc xe ngựa. Yegorushka từ chối ngay tắp lự vì đã thở không ra hơi và kiệt sức.

Đột nhiên, Deniska trở nên vô cùng nghiêm nghị, một vẻ mặt thậm chí còn chẳng xuất hiện khi Kuzmitchov mắng mỏ hay dọa nát đầu bằng gậy gộc; lắng tai nghe ngóng, cậu lặng lẽ quỳ một chân xuống và trên mặt hiện lên vẻ nghiêm cẩn cùng sự hoảng hốt hệt như thái độ của những kẻ đang lắng nghe lời tà đạo. Cậu đăm đăm nhìn về một hướng, giơ bàn tay khum lại thành hình chiếc gáo, rồi bất thình lình lao sấp người xuống đất, úp phắt cái khum bàn tay ấy lên thảm cỏ.

“Tóm được rồi!” cậu ta khè khè đắc thắng, rồi đứng dậy, giơ cao một con châu chấu bự chảng trước mặt Yegorushka.

Hai đứa trẻ dùng ngón tay vuốt ve tấm lưng xanh mướt rộng bản của con châu chấu và chạm vào cặp râu của nó, đinh ninh rằng điều này sẽ làm con vật thích thú. Sau đó, Deniska bắt một con ruồi béo múp đang hút máu và đưa cho con châu chấu. Con vật cử động cặp hàm to tướng trông như lưỡi visơ của chiếc mũ giáp với vẻ dửng dưng tột độ, hệt như đã quen biết Deniska từ lâu, rồi cắn đứt bụng con ruồi. Chúng thả con châu chấu ra. Với một tia chớp hồng rực từ đôi cánh lót bên dưới, nó bay vút xuống thảm cỏ và ngay lập tức cất lên tiếng kêu rả rích quen thuộc. Con ruồi cũng được phóng thích. Nó sửa soạn lại đôi cánh, rồi mang cái bụng cụt lủn bay thẳng về phía bầy ngựa.

Một tiếng thở dài vang lên từ gầm xe. Thì ra Kuzmitchov đã tỉnh giấc. Ông nhanh chóng ngẩng đầu lên, lo lắng phóng tầm mắt nhìn về phía xa, và qua cái nhìn lướt qua Yegorushka và Deniska chẳng chút cảm tình hay quan tâm ấy, người ta có thể nhận ra rằng điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí ông khi vừa tỉnh giấc chính là len và Varlamov.

“Cha xứ Christopher, dậy thôi; đến lúc khởi hành rồi đấy,” ông giục giã đầy lo âu. “Dậy đi thôi; chúng ta ngủ quá giờ mất rồi! Deniska, đánh xe vào đi.”

Cha xứ Christopher tỉnh dậy với nụ cười y hệt lúc ngài chìm vào giấc ngủ; gương mặt ngài nhăn nheo và hằn đầy vết gấp do ngủ sâu, trông có vẻ nhỏ lại một nửa. Sau khi rửa mặt và chỉnh đốn y phục, ngài thong thả lôi từ trong túi ra một cuốn thánh vịnh nhỏ đã bám mỡ; và hướng mặt về phương Đông, ngài bắt đầu lẩm bẩm đọc những bài thánh vịnh trong ngày đồng thời làm dấu thánh giá.

“Cha xứ Christopher,” Kuzmitchov cất giọng trách móc, “đến giờ lên đường rồi; ngựa ngẽo xong xuôi cả rồi mà ngài còn. . . trời ạ.”

“Đợi ta một lát, một lát thôi,” cha xứ Christopher lẩm bẩm. “Ta phải đọc thánh vịnh. . . Hôm nay ta chưa đọc.”

“Thánh vịnh để lúc khác đọc cũng được.”

“Ivan Ivanitch, đó là nguyên tắc mỗi ngày của ta. . . Ta không thể bỏ được. . .”

“Chúa sẽ châm chước cho thôi.”

Suốt một phần tư giờ đồng hồ, cha xứ Christopher đứng quay mặt về hướng Đông miệng lẩm bẩm, trong khi Kuzmitchov nhìn ngài với ánh mắt tựa như căm hận và bực bội nhún vai. Ông càng thêm cáu tiết khi cứ sau mỗi câu “Alleluia”, cha xứ Christopher lại hít một hơi thật sâu, nhanh chóng làm dấu thánh giá rồi lặp lại ba lần, cố ý nâng cao giọng để những người khác cùng làm dấu theo: “Alleluia, alleluia, alleluia! Vinh danh Chúa thuộc về Ngài!” Cuối cùng ngài mỉm cười, ngước nhìn lên bầu trời, nhét cuốn thánh vịnh vào túi và tuyên bố:

“Finis! Hết rồi!”

Chỉ một phút sau, chiếc xe ngựa đã bánh lăn trên đường. Hệt như đang đi thụt lùi chứ không phải tiến lên phía trước, những vị lữ khách lại bắt gặp khung cảnh y hệt như hồi trước trưa.

Những ngọn đồi thấp vẫn chìm khuất trong sắc tử đinh hương mờ ảo, và chẳng thấy điểm tận cùng đâu. Thoắt ẩn thoắt hiện là những dải cỏ cao và những đống đá ngổn ngang; những mảnh ruộng rạ lướt qua tầm mắt và đâu đây vẫn bầy quạ đen ấy, vẫn con diều hâu uy nghi đập cánh chậm rãi bay lượn trên bầu trời thảo nguyên. Bầu không khí ngày càng oi bức hơn; dưới cái nắng hầm hập và sự tĩnh mịch ấy, vạn vật như chịu đựng cúi đầu chìm vào trạng thái bùa mê lặng câm. . . Chẳng có gió, chẳng có âm thanh tươi mát phấn chấn nào, chẳng một bóng mây.

Nhưng rồi cuối cùng, khi mặt trời bắt đầu ngả về tây, thảo nguyên, những ngọn đồi và bầu không khí đã cạn kiệt sự nhẫn nại, không thể chịu đựng thêm được nữa liền vùng lên hòng rách đứt xiềng xích. Một đám mây xám tro bông xốp bất ngờ xuất hiện đằng sau những ngọn đồi. Nó trao đổi ánh nhìn với thảo nguyên như muốn bảo: “Ta đây rồi,” rồi chau mày lại. Bỗng nhiên có thứ gì đó bùng nổ trong bầu không khí đứng gió; một cơn cuồng phong dữ dội quét qua, cuồn cuộn gầm rú và rít lên trên khắp thảo nguyên. Ngay tức khắc, tiếng xào xạc cất lên từ thảm cỏ và đám lá khô năm ngoái, bụi cuốn thành những vòng xoắn ốc trên đường, lao vút qua thảo nguyên, mang theo rơm rạ, chuồn chuồn và lông vũ, cuồn cuộn bốc lên cao thành một cột đen xoay tít hướng về phía bầu trời và làm lu mờ cả ánh mặt trời. Những bụi cây gai trốc gốc chao đảo nhảy nhót tung tăng đủ mọi hướng trên thảo nguyên, và có một khóm bị cuốn vào cơn lốc, xoay tít như một con chim, bay vút lên bầu trời, rồi biến thành một hạt bụi đen nhỏ xíu, khuất hẳn tầm mắt. Tiếp sau đó là khóm thứ hai, rồi khóm thứ ba, và Yegorushka chứng kiến hai khóm cây lao vào nhau giữa tầng trời xanh thẳm, quấn chặt lấy nhau như đang vật lộn.

Một con gà gò bay vút lên từ sát bên vệ đường. Vẫy mạnh đôi cánh và chiếc đuôi, dưới ánh nắng rực rỡ, trông nó hệt như con cá thiếc lấp lánh của kẻ câu cá hay một con ruồi nước lao vun vút trên mặt nước nhanh đến mức chẳng thể phân biệt nổi đôi cánh với cặp râu tưởng chừng mọc ở cả phía trước, phía sau lẫn khắp mọi bề. . . Rung rẩy trong không trung như một con trùng với muôn sắc màu lấp lánh, con gà gò bay vút lên cao theo một đường thẳng, rồi có lẽ vì hoảng sợ trước đám mây bụi, nó lách mình sang một bên, và ánh lấp lánh từ đôi cánh của nó còn vương lại mãi trong tầm mắt. . .

Kế đó, một con gà gô tràng hạt vụt bay lên khỏi đám cỏ, hốt hoảng vì trận cuồng phong và chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nó bay xuôi theo chiều gió chứ không bay ngược gió như tất cả những loài chim khác, khiến toàn bộ lông vũ dựng ngược cả lên, thân hình phồng rộp to bằng con gà mái trông vô cùng giận dữ và oai vệ. Chỉ có bầy quạ đen đã sống lâu năm trên thảo nguyên và quen với những thói đồng bóng của nó là vẫn điềm tĩnh lượn lờ trên thảm cỏ, hoặc chẳng thèm đếm xỉa gì đến thế sự, cứ thản nhiên dùng cái mỏ cứng cáp mổ xuống nền đất cứng.

Tiếng sấm gầm ì ào vang lên từ phía sau những ngọn đồi; một luồng gió tươi mát ùa tới. Deniska huýt sáo vui vẻ và quất roi giục ngựa. Cha xứ Christopher và Kuzmitchov đưa tay giữ chặt mũ và đăm đăm nhìn về hướng những ngọn đồi. . . Một trận mưa rào mới dễ chịu làm sao!

Thêm một nỗ lực, thêm một cuộc giằng co nữa thôi, tưởng chừng như thảo nguyên đã có thể lấn lướt. Thế nhưng sức mạnh áp bức vô hình kia dần siết chặt gọng kìm lên gió và bầu không khí, dập tắt bụi bặm, và sự tĩnh mịch lại quay về như chưa từng có chuyện gì xảy ra, đám mây trốn biệt, những ngọn đồi nung nắng bất lực chau mày, không khí lại chìm vào tĩnh lặng, và đâu đó chỉ còn tiếng chim te te hoảng hốt kêu van cho số phận của mình. . .

Chẳng bao lâu sau đó, buổi chiều buông xuống.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.