Tuyển Tập Truyện Ngắn Project Gutenberg

Lượt đọc: 4549 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Một Sự Cố Trong Những Chuyến Đi Của Tôi

❊ ❊ ❊

Tôi đang trên đường trở về sau buổi lễ tối. Chiếc đồng hồ trên tháp chuông của Tu viện Svyatogorsky ngân lên những tiếng chuông du dương, êm dịu như một khúc dạo đầu, rồi điểm mười hai giờ. Sân trong rộng lớn của tu viện nằm dưới chân những Ngọn núi Thánh bên bờ sông Donets, được bao bọc bởi các dãy nhà khách cao như một bức tường. Giờ đây, trong màn đêm chỉ được thắp sáng lờ mờ bởi những chiếc đèn lồng, ánh đèn hắt qua các cửa sổ và những vì sao, nơi đây trông như một nồi cháo lẩu náo nhiệt đầy chuyển động, âm thanh và sự hỗn độn kỳ lạ nhất. Trải dài từ đầu này đến đầu kia, tầm mắt đi đến đâu chỉ thấy toàn xe ngựa, kiệu và xe mui kín kiểu cổ, xe tải, xe chở hàng vây quanh bởi những bầy ngựa đen trắng và những con bò sừng dài. Người ta hối hả ngược xuôi, những tu sĩ áo đen vạt dài luồn lách đi lại về mọi hướng. Những cái bóng và vệt sáng hắt ra từ cửa sổ lướt qua xe cộ cùng đầu người và ngựa, trong chập choạng hoàng hôn, tất cả biến thành những hình thù kỳ dị và ngộ nghĩnh: chỗ này những chiếc càng xe chổng ngược lên trời, chỗ kia đôi mắt lửa xuất hiện trên đầu một con ngựa, nọ thì một thầy tu bỗng mọc ra đôi cánh đen... Khắp nơi râm ran tiếng nói chuyện, tiếng ngựa khịt mũi nhai cỏ, tiếng xe kẽt kẹt, tiếng trẻ con khóc hờ. Những dòng người mới vẫn liên tục bước qua cổng và những cỗ xe đến muộn tiếp tục trờ tới.

Những hàng thông mọc chen chúc trên ngọn núi cheo leo, cây nọ chồng lên cây kia, ngả đầu vào mái nhà khách, ngó xuống sân trong như nhìn vào một cái hố sâu và lắng nghe đầy kinh ngạc; trong bụi rậm tối thum thủm của chúng, tiếng chim cu gáy và chim sơn ca không ngớt vang lên... Ngắm nhìn cảnh tượng hỗn độn, lắng nghe âm thanh náo động ấy, người ta có cảm giác rằng trong cái nồi lẩu nhốn nháo này chẳng ai hiểu nổi ai, rằng ai nấy đều đang tìm kiếm thứ gì đó mà sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, và rằng đám đông xe cộ, kiệu hoa cùng con người này sẽ chẳng thể nào thoát đi được.

Hơn mười nghìn người đã đổ về Ngọn núi Thánh nhân các ngày lễ của Thánh John Thần học và Thánh Nikolay Đồ tể nhiệm màu. Không chỉ các tòa nhà khách mà ngay cả lò bánh mì, phòng may vá, xưởng mộc, nhà để xe đều chật cứng người không còn chỗ chứa... Những người đến vào lúc chiều tối túm tụm lại như ruồi mùa thu sát những bức tường, quanh các giếng nước trong sân, hay ở những lối đi hẹp của nhà khách, chờ được xếp chỗ nghỉ qua đêm. Các thầy tu, già có trẻ có, bận rộn không ngừng nghỉ, chẳng có lấy một phút nghỉ ngơi hay hy vọng được thay ca. Dù là ban ngày hay đêm muộn, họ vẫn tạo ấn tượng là những con người đang vội vã đi đâu đó và bị cuốn đi bởi việc gì đó. Thế nhưng, bất chấp sự kiệt sức cùng cực, gương mặt họ vẫn rạng ngời sự can đảm và niềm mến khách chân tình, giọng nói thân thiện, cử động nhanh nhẹn... Đối với bất kỳ ai đến, họ đều phải tìm chỗ ngủ, lo đồ ăn thức uống; với những người khiếm thính, chậm hiểu hoặc hỏi quá nhiều, họ phải giải thích dài dòng và mệt mỏi, phải kể cho họ nghe vì sao không còn phòng trống, mấy giờ có lễ, nơi nào bán bánh thánh, vân vân. Họ phải chạy đôn chạy đáo, khuân vác, nói năng không ngớt, nhưng hơn thế nữa, họ còn phải lịch sự, khéo léo, phải cố gắng sắp xếp sao cho những người Hy Lạp đến từ Mariupol vốn quen sống đầy đủ hơn người Tiểu Nga được xếp ở cùng những người Hy Lạp khác, sao cho một nữ chủ tiệm nào đó từ Bakhmut hay Lisitchansk ăn mặc như phu nhân không cảm thấy bị xúc phạm khi xếp chung với nông dân. Tiếng kêu gọi cứ vang lên liên tục: "Cha ơi, làm ơn cho chúng con ít kvass! Làm ơn cho chúng con ít cỏ khô!" hay "Cha ơi, con xưng tội xong rồi có được uống nước không?". Và thầy tu lại phải đi lấy kvass hoặc cỏ khô, hoặc đáp lại: "Hãy đến hỏi cha xứ đi, thưa bà, chúng tôi không có thẩm quyền cho phép." Lại một câu hỏi nữa nối tiếp: "Thế cha xứ ở đâu ạ?", và thầy tu lại phải giải thích phòng của cha xứ nằm ở đâu. Giữa bộn bề công việc tất bật ấy, họ vẫn phải tranh thủ đến nhà thờ làm lễ, phục vụ ở khu vực dành cho tầng lớp quý tộc, và trả lời tường tận hàng đống câu hỏi cần thiết lẫn vô bổ mà những người hành hương thuộc tầng lớp trí thức rất thích tuôn ra xung quanh. Quan sát họ suốt hai mươi tư tiếng đồng hồ, tôi thấy khó mà tưởng tượng nổi những bóng đen di chuyển ấy ngồi xuống lúc nào và ngủ vào lúc nào.

Khi tôi từ buổi lễ tối trở về và bước vào tòa nhà khách nơi tôi được phân phòng, vị tu sĩ phụ trách khu ngủ đang đứng ở ngưỡng cửa, và bên cạnh ông, trên bậc thềm, là một nhóm mấy người đàn ông và phụ nữ ăn mặc như dân thị thành.

– Thưa ngài, – vị tu sĩ chặn tôi lại và nói, – ngài có làm ơn cho phép thanh niên này ngủ nhờ phòng ngài một đêm được không? Nếu ngài rộng lòng ban ơn cho chúng tôi! Có quá nhiều người mà chẳng còn chỗ nào trống cả — thật sự là khủng khiếp lắm rồi!

Rồi ông chỉ tay về phía một bóng người thấp bé mặc chiếc áo khoác nhẹ và đội mũ rơm. Tôi đồng ý, và người bạn đồng hành bất đắc dĩ liền lẽo đẽo theo sau. Mở chiếc ổ khóa nhỏ ở cửa phòng, dù muốn hay không, tôi cũng buộc phải nhìn vào bức tranh treo trên cột khung cửa ngang tầm mắt mình. Bức tranh mang tựa đề "Suy ngẫm về cái chết", vẽ một tu sĩ đang quỳ, đắm mình nhìn vào một cỗ quan tài và một bộ xương nằm trong đó. Phía sau lưng người đó đứng một bộ xương khác, có vẻ chắc thịt hơn và đang vác một lưỡi hái.

– Chẳng có bộ xương nào lại thế kia cả, – người bạn đồng hành của tôi nói, chỉ tay vào vị trí đáng lẽ phải là xương chậu của bộ xương. – Nói chung, anh biết đấy, tinh thần phẩm được cung cấp cho người dân không phải loại hạng nhất đâu, – cậu ta nói thêm, rồi thở dài một hơi dài và rất ảo não qua đường mũi, cốt để cho tôi thấy rằng mình đang đối thoại với một người thực sự am hiểu về tinh thần phẩm.

Trong lúc tôi đang tìm diêm để thắp nến, cậu ta lại thở dài một tiếng nữa và cất lời:

– Hồi ở Kharkov, tôi đã vào nhà hát giải phẫu mấy lần và tận mắt nhìn thấy xương cốt ở đó; tôi thậm chí còn vào cả nhà xác rồi cơ. Tôi có làm vướng chân ngài không thế?

Phòng tôi chật chội và tồi tàn, chẳng có bàn ghế gì ngoài một chiếc tủ ngăn kéo chắn ngang cửa sổ, cái lò sưởi và hai chiếc ghế bành gỗ nhỏ kê sát tường đối diện nhau, để lại một lối đi hẹp ở giữa. Trên những chiếc ghế sofa đặt mấy tấm nệm mỏng trông đã gỉ sét, cùng với hành lý của tôi. Có hai chiếc ghế sofa, vậy là căn phòng này rõ ràng dành cho hai người, và tôi đã chỉ điều đó cho người bạn đồng hành xem.

– Dù sao thì họ cũng sắp đánh chuông gọi đi lễ rồi, – cậu ta nói, – và tôi sẽ không làm phiền ngài lâu đâu.

Vẫn mang mặc cảm rằng mình đang làm phiền và tỏ ra lúng túng, cậu ta bước những bước đầy tội lỗi về phía chiếc ghế sofa nhỏ của mình, thở dài ngao ngán rồi ngồi xuống. Khi ngọn nến mỡ cừu với ánh lửa leo lắt, chậm chạp đã bớt bập bùng và cháy sáng đủ để soi rõ cả hai chúng tôi, tôi mới nhìn ra hình dáng của cậu ta. Đó là một thanh niên chừng hai mươi hai tuổi, gương mặt tròn trịa và dễ mến, đôi mắt đen láy như trẻ thơ, ăn mặc theo kiểu thị dân trong bộ quần áo xám rẻ tiền. Nhìn làn da và đôi vai gầy của cậu ta, có thể đoán rằng cậu ta không quen làm lao động chân tay. Cậu ta mang một vẻ ngoài rất khó định hình; người ta không thể coi cậu ta là sinh viên, cũng chẳng thể xem là người buôn bán, lại càng không phải công nhân. Nhưng nhìn vào gương mặt thu hút và đôi mắt trẻ thơ đầy thân thiện ấy, tôi không sao tin được rằng cậu ta thuộc về cái đám lang thang bịp bợm — những kẻ ngập tràn ở mọi tu viện có phân phát thức ăn và chỗ ở, tự nhận mình là sinh viên thần học bị đuổi vì dám bảo vệ công lý, hay là những ca viên nhà thờ đã mất giọng... Có cái gì đó rất đặc trưng, rất điển hình và rất quen thuộc trên gương mặt ấy, nhưng chính xác là gì thì tôi không tài nào nhớ ra hay nhận ra nổi.

Cậu ta ngồi im lặng suốt một hồi lâu, trầm ngâm suy nghĩ. Có lẽ vì tôi đã không tỏ ra tán thưởng những nhận xét của cậu ta về xương cốt và nhà xác, nên cậu ta nghĩ rằng tôi đang khó chịu và không bằng lòng vì sự hiện diện của mình. Lôi từ trong túi ra một cây xúc xích, cậu ta săm soi nó trước mắt rồi ngập ngừng lên tiếng:

– Xin lỗi vì đã làm phiền ngài... ngài có dao không ạ?

Tôi đưa dao cho cậu ta.

– Xúc xích gì mà tởm thế, – cậu ta vừa nhăn mặt vừa tự cắt cho mình một mẩu nhỏ. – Mấy cửa tiệm ở đây toàn bán đồ bỏ đi mà chém đẹp khủng khiếp... Tôi cũng muốn mời ngài một miếng, nhưng chắc ngài chẳng thèm ăn đâu. Ngài có dùng chút nào không?

Trong cách ăn nói của cậu ta cũng có nét gì đó rất điển hình, tương đồng lớn với những nét đặc trưng trên gương mặt, nhưng rốt cuộc là nét gì thì tôi vẫn chưa thể phán đoán được. Để tạo sự tin tưởng và cho cậu ta thấy rằng tôi không hề khó chịu, tôi bèn nhận một miếng xúc xích được mời. Quả thực nó rất tệ; chắc phải có bộ răng của một con chó nhà dữ dằn lắm mới nhai nổi thứ này. Vừa nhai mỏi cả hàm, chúng tôi vừa trò chuyện; cả hai bắt đầu phàn nàn với nhau về sự lê thê của các buổi lễ.

– Quy củ ở đây suýt soát với núi Athos đấy, – tôi nói, – nhưng ở Athos các buổi lễ ban đêm kéo dài tới mười tiếng, còn vào các ngày đại lễ thì tận mười bốn tiếng! Cậu nên đến đó mà cầu nguyện!

– Vâng, – người bạn đồng hành đáp lời và lắc đầu, – tôi ở đây đã ba tuần rồi. Và ngài biết đấy, ngày nào cũng làm lễ, ngày nào cũng làm lễ. Những ngày thường thì nửa đêm họ đánh chuông gọi làm giờ kinh sáng, năm giờ sáng làm lễ sớm, chín giờ làm lễ muộn. Chẳng tài nào mà ngủ nghỉ được chút gì. Ban ngày thì nào thánh thi, nào kinh nguyện đặc biệt, nào kinh chiều... Hồi chuẩn bị chịu các bí tích, tôi mệt mỏi rã rời tưởng như sắp ngã quỵ. – Cậu ta thở dài rồi nói tiếp: – Hơn nữa, không đi nhà thờ thì kỳ cục lắm... Các thầy tu cho người ta phòng ở, cho ăn uống, và ngài biết đấy, không đi thì thấy ngượng nghịu làm sao. Chịu đựng một hai ngày thì còn được, chứ tận ba tuần liền thì quá sức — quá sức chịu đựng rồi! Ngài ở đây lâu không?

– Tôi đi vào chiều mai.

– Còn tôi thì ở lại thêm nửa tháng nữa cơ.

– Thế hóa ra không phải ở đây có quy định không được lưu lại lâu thế sao? – tôi hỏi.

– Vâng, đúng thế thật: nếu ai ở lại quá lâu, bám víu ăn nhờ ở đậu các tu viện, họ sẽ được mời đi. Ngài cứ nghĩ xem, nếu cứ để đám vô sản ở lại đây bao lâu tùy thích thì sẽ chẳng bao giờ còn phòng trống, và họ sẽ ăn sạch cả cái tu viện này mất. Đúng là như vậy. Nhưng các tu sĩ đã châm chước ngoại lệ cho tôi, và tôi hy vọng họ sẽ chưa đuổi tôi đi vội trong một thời gian nữa. Ngài biết đấy, tôi là một người cải đạo.

– Ý cậu là sao?

– Tôi là một người Do Thái đã chịu phép rửa tội... Mới gần đây tôi mới gia nhập Chính thống giáo.

Lúc này tôi mới hiểu ra điều mà ban đầu tôi hoàn toàn không sao tài nào lý giải nổi từ gương mặt cậu ta: đôi môi dày, thói quen giật giật khóe miệng bên phải và chiếc lông mày bên phải lên mỗi khi nói chuyện, cùng thứ ánh sáng dầu dặc đặc trưng trong đôi mắt chỉ có ở người Do Thái. Tôi cũng hiểu luôn cả cách dùng từ của cậu ta... Qua câu chuyện trò tiếp sau đó, tôi được biết tên cậu ta là Alexandr Ivanitch, trước kia từng mang tên Isaac, quê ở tỉnh Mogilev, và cậu đã đến Ngọn núi Thánh từ Novotcherkassk — nơi cậu đã tiếp nhận đức tin Chính thống giáo.

Ăn xong đoạn xúc xích, Alexandr Ivanitch đứng dậy, nhướng cao lông mày bên phải và đọc kinh trước bức tượng thánh. Chiếc lông mày vẫn giữ nguyên vẻ nhướng lên ấy khi cậu ngồi phịch xuống chiếc ghế sofa nhỏ và bắt đầu kể sơ lược cho tôi nghe về cuốn tiểu sử dài đằng đẵng của mình.

– Từ khi còn nhỏ xíu, tôi đã ấp ủ tình yêu với sự học, – cậu ta mở đầu bằng một giọng điệu tựa hồ như không phải đang nói về chính mình mà về một nhân vật vĩ đại nào đó trong quá khứ. – Cha mẹ tôi là những người Do Thái nghèo khó; họ sinh sống bằng nghề buôn bán nhỏ lẻ; họ sống như những kẻ ăn mày ấy, ngài biết đấy, trong cảnh nhơ nhớp. Thật ra, tất cả mọi người ở đó đều nghèo đói và mê tín; họ không thích học thức, bởi vì học thức, một cách rất tự nhiên, sẽ kéo con người ta rời xa tôn giáo... Họ là những kẻ cuồng tín đáng sợ... Dù có thế nào đi nữa, cha mẹ tôi cũng quyết không cho tôi đi học, họ muốn tôi theo nghiệp buôn bán và chẳng cần biết gì ngoài bộ kinh Talmud... Nhưng ngài thấy đấy, có phải ai cũng có thể dành cả cuộc đời mình để tranh giành từng miếng cơm manh áo, vùi mình trong bùn nhơ và lẩm bẩm đọc kinh Talmud đâu chứ. Thỉnh thoảng, mấy vị sĩ quan và địa chủ có ghé qua quán trọ của tía tôi, họ hay bàn tán về đủ thứ chuyện mà những ngày ấy tôi chưa từng dám mơ tới; và dĩ nhiên, điều đó thật sức hấp dẫn và khiến tôi khát khao ganh tỵ. Tôi từng khóc lóc, nài nỉ họ cho tôi đi học, nhưng họ chỉ dạy tôi đọc tiếng Do Thái chứ chẳng chịu hơn. Có lần tôi nhặt được một tờ báo tiếng Nga bèn mang về nhà định gấp con diều. Thế là tôi bị đòn một trận tơi bời dù có biết đọc tiếng Nga đâu. Đương nhiên, sự cuồng tín là điều khó tránh khỏi, bởi vì bất kỳ dân tộc nào cũng có xu hướng bản năng là bảo vệ bản sắc quốc gia của mình, nhưng hồi đó tôi nào hiểu được điều ấy và đã vô cùng phẫn nộ...

Sau khi thốt ra một nhận xét mang tính trí thức như thế, Isaac — hay đúng hơn là con người trước kia của cậu ta — càng nhướng cao lông mày bên phải hơn nữa đầy mãn nguyện và liếc nhìn tôi, giống như một con gà chọi nhìn hạt ngô, ra vẻ như muốn nói: "Thế đấy, cuối cùng thì ngài cũng thấy rõ rành rành rằng tôi là một người có học thức rồi chứ gì?". Nói thêm vài câu nữa về sự cuồng tín cùng nỗi khao khát ánh sáng tri thức không thể kìm nén của bản thân, cậu ta tiếp tục:

– Tôi biết làm sao được chứ? Tôi bèn bỏ trốn đến Smolensk. Ở đó tôi có một người họ hàng làm nghề tráng lại các chảo đồng và làm thợ thiếc. Dĩ nhiên, tôi rất mừng khi được làm việc dưới quyền ông ấy, vì lúc đó tôi chẳng có gì trong tay để sống qua ngày; chân thì đi đất, người mặc rách rưới... Tôi thầm nghĩ ban ngày mình sẽ làm việc còn ban đêm và ngày Thứ Bảy thì học tập. Tôi đã làm đúng như thế, nhưng cảnh sát phát hiện tôi không có hộ chiếu nên đã áp giải tôi giao trả về cho tía tôi theo từng chặng đường...

Alexandr Ivanitch nhún một bên vai và thở dài.

– Biết làm sao bây giờ? – cậu ta nói tiếp, và quá khứ càng hiện lên sống động trong tâm trí bao nhiêu, thì chất giọng Do Thái của cậu ta lại càng trở nên đậm đặc bấy nhiêu. – Cha mẹ tôi trừng phạt tôi rồi giao tôi cho ông nội — một lão già Do Thái cuồng tín — để giáo hóa lại. Nhưng tôi lại trốn đi vào ban đêm để đến Shklov. Và khi ông chú tìm cách bắt tôi ở Shklov, tôi lại chuồn đến Mogilev; ở đó hai ngày rồi tôi cùng một người bạn đồng hành lên đường đi Starodub.

Sau đó trong câu chuyện, cậu ta còn nhắc đến Gomel, Kiev, Belaya Tserkov, Uman, Balta, Bendery và cuối cùng là tới Odessa.

– Ở Odessa, tôi lang thang suốt một tuần liền, thất nghiệp và bụng đói cồn cào, cho đến khi được một nhóm người Do Thái chuyên đi quanh thành phố mua quần áo cũ cưu mang. Lúc đó tôi đã biết đọc biết viết và đã học toán đến phân số, tôi rất muốn được vào học nơi nào đó nhưng lại chẳng có nổi một xu dính túi. Tôi biết làm sao? Suốt sáu tháng trời tôi đi khắp Odessa để thu gom quần áo cũ, nhưng lũ khốn người Do Thái đó chẳng chịu trả một đồng tiền công nào cho tôi cả. Tôi tức tối quá nên bỏ đi. Rồi tôi đi tàu thủy đến Perekop.

– Để làm gì thế?

– Ồ, chẳng để làm gì cả. Một người Hy La hứa sẽ cho tôi việc làm ở đó. Tóm lại, cho đến tận năm mười sáu tuổi, tôi cứ lang thang như thế, chẳng có công việc ổn định cũng chẳng có gốc gác gì cho đến khi tới Poltava. Ở đó, một sinh viên người Do Thái phát hiện ra tôi có ước vọng được học hành bèn viết cho tôi một lá thư giới thiệu gửi mấy sinh viên ở Kharkov. Dĩ nhiên là tôi khăn gói đến Kharkov ngay. Các sinh viên hội ý với nhau rồi bắt đầu ôn luyện cho tôi thi vào trường kỹ thuật. Và ngài biết đấy, tôi phải công nhận rằng những sinh viên mà tôi gặp ở đó thật tuyệt vời đến mức tôi sẽ không bao giờ quên cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Chưa nói đến chuyện họ cho tôi ăn ở, họ còn dẫn dắt tôi vào con đường đúng đắn, làm thức tỉnh tư duy trong tôi, chỉ cho tôi mục đích của cuộc sống. Giữa họ có những con người trí thức xuất chúng mà bây giờ đã trở nên nổi tiếng. Lấy ví dụ như Grumaher, chắc ngài đã từng nghe danh rồi chứ?

– Chưa, tôi chưa nghe bao giờ.

– Chưa nghe bao giờ á! Anh ấy từng viết những bài báo vô cùng sắc sảo trên tờ Nhật báo Kharkov, và đang chuẩn bị để làm giáo sư. Chà, tôi đã đọc rất nhiều sách và tham gia các hội nhóm sinh viên — nơi người ta không hề thốt ra một lời nào tầm thường. Tôi ôn thi trong sáu tháng, nhưng vì để vào trường kỹ thuật thì phải trải qua toàn bộ chương trình toán học cấp trung học, Grumaher khuyên tôi nên thử sức thi vào học viện thú y — nơi họ tuyển học sinh trung học từ năm thứ sáu. Dĩ nhiên là tôi bắt đầu cắm cổ ôn thi. Tôi vốn chẳng muốn làm bác sĩ thú y đâu, nhưng họ bảo tôi rằng sau khi hoàn thành chương trình ở học viện thú y, tôi sẽ được nhận thẳng vào khoa y mà không cần phải thi cử gì nữa. Tôi đã học thuộc lòng toàn bộ giáo trình Kühner; tôi có thể đọc trôi chảy tác phẩm của Cornelius Nepos theo kiểu lật sách đọc liền tay; còn tiếng Hy Lạp thì tôi đọc ngấu nghiến gần như toàn bộ sách của Curtius. Nhưng ngài biết đấy, chuyện nọ xọ chuyện kia... sinh viên thì lục đục bỏ đi, tương lai của tôi thì bấp bênh, rồi tôi nghe tin u tôi đã cất công đến Kharkov lùng sục tìm kiếm tôi khắp nơi. Thế là tôi đành bỏ đi. Tôi biết phải làm sao đây? Nhưng may mắn thay, tôi lại hay tin ở đây, trên tuyến đường sắt Donets, có một trường đào tạo nghề mỏ. Tại sao tôi lại không vào đó học cơ chứ? Ngài cũng biết là trường mỏ đào tạo ra những đốc công khai mỏ — một vị trí béo bở tuyệt vời. Tôi biết có những mỏ than mà các đốc công kiếm được mức lương tới mười lăm nghìn một năm cơ đấy. Quá tuyệt... Thế là tôi nộp đơn vào đó...

Với vẻ mặt sùng kính đầy ngưỡng mộ, Alexandr Ivanitch lần lượt kể lể khoảng hai tá môn khoa học hóc búa được giảng dạy tại trường mỏ; cậu mô tả chi tiết về ngôi trường, cấu trúc của các hầm lò và điều kiện làm việc của thợ mỏ... Sau đó, cậu kể cho tôi nghe một câu chuyện kinh hoàng nghe cứ như bịa đặt, mặc dù tôi không thể không tin vì giọng điệu kể của cậu quá chân thật và nỗi kinh hoàng hiện rõ trên gương mặt mang nét Semitic ấy là hoàn toàn chân thành.

– Hồi tôi đang làm thực hành, có một tai nạn thế này xảy ra với tôi suýt chết! – cậu ta nói, nhướng cả hai lông mày lên. – Hồi đó tôi đang làm việc ở một mỏ than nằm trong khu vực Donets. Chắc ngài đã từng thấy cách người ta đưa người xuống mỏ rồi chứ. Ngài còn nhớ khi họ khởi động cỗ máy quay để guồng cuốn hoạt động, một cái gàu treo trên ròng rọc sẽ hạ xuống hầm lò, trong khi cái gàu kia đi lên; khi cái thứ nhất bắt đầu đi lên thì cái thứ hai lại đi xuống — y hệt như cái giếng có hai cái gàu múc vậy. Số là hôm đó, tôi bước vào gàu và bắt đầu hạ xuống, ngài có tưởng tượng được không, bỗng nhiên tôi nghe thấy một tiếng: Rrr! Đứt xích mất rồi, và tôi rơi tõm xuống địa ngục cùng với chiếc gàu và đoạn xích đứt... Tôi rơi từ độ cao hai mươi thước, úp mặt ngực và bụng xuống, trong khi chiếc gàu vì nặng hơn nên đã chạm đáy trước tôi, và tôi đập mạnh phần vai này vào mép gàu. Lúc đó ngài biết đấy, tôi bất tỉnh nhân sự. Tôi cứ đinh ninh là mình chết chắc rồi, và ngay khoảnh khắc ấy tôi lại đối mặt với một thảm họa mới: chiếc gàu thứ hai — cái đang đi lên — vì mất đi trọng lượng đối trọng nên đang lao xuống với tiếng động rầm rầm nhằm thẳng vào đầu tôi... Tôi phải làm sao đây? Nhận thức được tình thế hiểm nghèo, tôi nép sát vào vách tường, co người lại và chờ đợi chiếc gàu lao xuống giáng một đòn chí mạng vào đầu mình ngay giây lát tiếp theo. Tôi nhớ đến tía và u, nhớ đến Mogilev và Grumaher... Tôi cầu nguyện... Nhưng may mắn thay... nghĩ lại mà tôi vẫn thấy rợn tóc gáy...

Alexandr Ivanitch nở một nụ cười gượng gạo và dùng tay xoa trán.

– Nhưng may là nó rơi sượt qua bên cạnh tôi và chỉ quệt nhẹ vào sườn này thôi... Nó lột bay cả áo khoác, áo sơ mi lẫn da thịt của tôi ở mờ sườn bên này, ngài biết đấy... Sức va đập khủng khiếp lắm. Sau đó tôi bất tỉnh luôn. Người ta kéo tôi lên và đưa vào bệnh viện. Tôi nằm điều trị ở đó bốn tháng trời, và các bác sĩ bảo tôi đãớm lao phổi rồi. Giờ thì lúc nào tôi cũng ho và đau tức ngực. Tinh trạng tâm lý của tôi thì tồi tệ khủng khiếp... Cứ hễ ở một mình trong phòng là tôi lại bị nỗi kinh hoàng bủa vây. Đương nhiên, với tình trạng sức khỏe như thế, chuyện làm đốc công khai mỏ là điều hoàn toàn bất khả thi. Tôi đành phải bỏ dở trường mỏ...

– Thế bây giờ cậu đang làm gì? – tôi hỏi.

– Tôi đã thi đậu sát hạch làm giáo viên làng rồi. Bây giờ tôi thuộc về giáo hội Chính thống giáo, và tôi có quyền đứng lớp giảng dạy. Ở Novotcherkassk — nơi tôi chịu phép rửa tội — họ rất quan tâm đến tôi và hứa sẽ bố trí cho tôi một chân giáo viên ở trường giáo xứ. Nửa tháng nữa tôi sẽ đến đó và tiếp tục xin việc.

Alexandr Ivanitch cởi chiếc áo khoác ngoài ra, chỉ còn mặc chiếc áo sơ mi có thêu cổ áo kiểu Nga và thắt lưng vải.

– Đến giờ đi ngủ rồi, – cậu ta vừa nói, vừa cuộn chiếc áo khoác lại làm gối vừa ngáp dài. – Hồi trước ngài biết đấy, tôi hoàn toàn chẳng có chút khái niệm gì về Chúa cả. Tôi từng là một kẻ vô thần. Nằm viện điều trị, tôi bắt đầu nghĩ về tôn giáo và ngẫm nghĩ sâu hơn về đề tài ấy. Theo quan điểm của tôi, chỉ có duy nhất một tôn giáo khả dĩ đối với một người có tư duy, đó là đạo Khrít. Nếu ngài không tin vào Chúa Khrít thì chẳng còn gì khác trên đời để mà tin nữa... phải không nào? Do Thái giáo đã lỗi thời và tồn tại được chỉ nhờ vào những đặc thù riêng biệt của chủng tộc Do Thái mà thôi. Khi nền văn minh chạm đến người Do Thái, sẽ chẳng còn mảy may dấu vết nào của Do Thái giáo sót lại nữa đâu. Ngài cứ để ý mà xem, tất cả thanh niên Do Thái giờ đây đều là những kẻ vô thần. Tân Ước chính là phần tiếp nối tự nhiên của Cựu Ước, đúng thế không?

Tôi bắt đầu dò hỏi những lý do đã thúc đẩy cậu ta đưa ra một bước ngoặt nghiêm trọng và táo bạo đến vậy là thay đổi tôn giáo, nhưng cậu ta cứ lặp đi lặp lại mãi một câu: "Tân Ước là phần tiếp nối tự nhiên của Cựu Ước" — một công thức rõ ràng không phải của riêng cậu mà đi góp nhặt được — thứ hoàn toàn chẳng cắt nghĩa được chút thắc mắc nào của tôi. Bất chấp mọi nỗ lực và mưu mẹo dò la của tôi, những nguyên do ấy vẫn nằm trong vòng bí mật. Nếu có thể tin rằng cậu ta đã tiếp nhận Chính thống giáo xuất phát từ niềm tin thực sự như miệng cậu ta vẫn lớn tiếng tuyên bố, thì bản chất và nền tảng của niềm tin ấy là gì — điều đó hoàn toàn không sao nắm bắt nổi qua lời lẽ của cậu ta. Ngược lại, cũng hoàn toàn không thể giả định rằng cậu ta cải đạo vì những động cơ vụ lợi tầm thường: bộ quần áo rách rưới rẻ tiền, việc tiếp tục tá túc ăn bám vào tu viện, cùng một tương lai mịt mờ chẳng có gì đảm bảo, tất cả đều chẳng có vẻ gì là vụ lợi cả. Chẳng còn cách nào khác ngoài việc chấp nhận thực tế rằng, người bạn đồng hành của tôi đã bị xô đẩy sang bước đường cải đạo bởi chính cái tinh thần bất định, bứt rứt từng hất văng cậu ta như một mẩu gỗ mục trôi dạt từ thị trấn này sang thị trấn khác — thứ mà cậu ta, dùng một thứ công thức chung chung quen thuộc, gọi là cơn khát khao hướng về ánh sáng tri thức.

Trước khi đi ngủ, tôi ra hành lang uống nước. Lúc quay vào, người bạn đồng hành của tôi đang đứng thừ người giữa phòng và nhìn tôi bằng ánh mắt hoảng hốt. Gươg mặt cậu ta tái nhợt đi, và trên trán lấm tấm những hạt mồ hôi.

– Thần kinh của tôi đang ở trạng thái tồi tệ khủng khiếp, – cậu ta lẩm bẩm với một nụ cười méo mó, – tồi tệ lắm! Đó là một cơn rối loạn tâm lý cấp tính. Nhưng chuyện đó không can chi đâu.

Và cậu ta lại bắt đầu triết lý về việc Tân Ước là phần tiếp nối tự nhiên của Cựu Ước, rằng Do Thái giáo đã qua thời... Chắt lọc từng câu chữ, cậu ta có vẻ như đang cố gắng gom góp những mảnh vỡ của niềm tin để dập tắt sự bất an trong tâm hồn, để chứng minh với chính mình rằng việc rũ bỏ tôn giáo của tổ tiên chẳng có gì là kinh khủng hay kỳ quái cả, mà cậu đã hành động như một con người có tư duy tự do khỏi mọi thành kiến, và do đó cậu hoàn toàn có thể đường hoàng ở lại một mình trong căn phòng với lương tâm của chính mình. Cậu ta đang cố gắng thuyết phục bản thân, và ánh mắt khẩn khoản cầu cứu sự đồng tình từ tôi.

Trong khi đó, ngọn bấc to cồng kềnh trên cây nến mỡ cừu của chúng tôi đã cháy lớn. Trời lúc này đã hừng sáng. Qua khung cửa sổ nhỏ tối tăm đang dần ngả sang sắc xanh, chúng tôi có thể nhìn rõ mồn một cả hai bờ sông Donets lẫn lùm sọc sồi bên kia sông. Đã đến lúc phải ngủ rồi.

– Ngày mai ở đây sẽ rất thú vị đấy, – người bạn đồng hành của tôi nói khi tôi thổi tắt ngọn nến và lên giường nằm. – Sau lễ sớm, đoàn rước kiệu sẽ đi bằng thuyền từ Tu viện sang Tu viện nhỏ.

Nhướng cao lông mày bên phải và nghiêng đầu sang một bên, cậu ta đọc kinh trước các bức tượng thánh, rồi cứ để nguyên quần áo mà ngả lưng lên chiếc ghế sofa nhỏ.

– Ừm, – cậu ta nói, trở mình sang phía bên kia.

– Sao cơ? – tôi hỏi.

– Hồi tôi chấp nhận đạo Chính thống ở Novotcherkassk, u tôi đang đi tìm tôi ở Rostov. Bà cảm nhận được rằng tôi có ý định đổi đạo, – cậu ta thở dài rồi nói tiếp: – Tính ra đã sáu năm rồi tôi không về thăm quê ở tỉnh Mogilev. Chắc bây giờ em gái tôi đã lấy chồng rồi ấy chứ.

Sau một thoáng im lặng, nhận thấy tôi vẫn còn thức, cậu ta bắt đầu thì thầm kể chuyện ơn Chúa, chẳng mấy chốc nữa họ sẽ giao việc cho cậu, và cuối cùng thì cậu cũng sẽ có một mái nhà của riêng mình, một vị trí ổn định, miếng cơm manh áo được đảm bảo... Còn tôi thì đang nghĩ thầm rằng con người này sẽ chẳng bao giờ có nổi một mái nhà của riêng mình, chẳng có lấy một vị trí ổn định hay sự đảm bảo nào cho miếng cơm manh áo cả. Cậu ta mơ mộng lớn tiếng về một ngôi trường làng cứ như thể đó là Đất Hứa; cũng giống như đa số mọi người, cậu mang trong mình thành kiến chống lại đời sống rày đây mai đó, xem nó như một điều gì đó ngoại lệ, bất bình thường và ngẫu nhiên giống như một cơn bệnh, và đang tìm kiếm sự cứu rỗi trong một cuộc sống đời thường bình lặng. Giọng điệu của cậu ta phơi bày rõ ràng rằng bản thân cậu ý thức rất rõ về tình trạng bất bình thường của mình và cảm thấy hối tiếc vì điều đó. Cậu ta tỏ ra như thể đang ngầm xin lỗi và biện minh cho chính mình.

Cách tôi chưa đầy một thước là một kẻ lang thang vô gia cư; trong những căn phòng của nhà khách và bên những chiếc xe ngựa ngoài sân giữa đám người hành hương, có tới hàng trăm kẻ lang thang vô gia cư như thế đang mong chờ trời sáng, và xa hơn nữa, nếu ta có thể hình dung về toàn cõi nước Nga rộng lớn, một đám đông khổng lồ những sinh linh bơ vơ lạc lõng ấy đang sải bước trong giờ phút này dọc theo những con đường cái quan và lối mòn, tìm kiếm một điều gì đó tốt đẹp hơn, hoặc đang đợi bình minh trong giấc ngủ tại các quán trọ ven đường, quán rượu nhỏ, hay ngả mình trên thảm cỏ dưới bầu trời quang [...] Khi chìm vào giấc ngủ, tôi tưởng tượng không biết tất cả những con người này sẽ ngạc nhiên và thậm chí sung sướng đến nhường nào nếu tìm ra được những lý lẽ và ngôn từ để chứng minh với họ rằng cuộc đời họ cũng chẳng cần phải thanh minh thanh nga với bất kỳ ai hơn là bất kỳ cuộc đời nào khác. Trong giấc ngủ mơ màng, tôi nghe thấy tiếng chuông nhà thờ bên ngoài ngân lên não nề như thể đang tuôn trào những giọt nước mắt cay đắng, và tiếng thầy tu cất giọng hô vang mấy bận:

– Lạy Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót chúng con! Mau đến dự lễ thôi!

Lúc tôi thức giấc, người bạn đồng hành đã không còn trong phòng nữa. Trời đã hửng nắng và tiếng lạo xạo của đám đông vọng qua khung cửa sổ. Bước ra ngoài, tôi hay tin buổi lễ đã kết thúc và đoàn rước kiệu đã khởi hành đi Tu viện nhỏ từ lâu. Dân chúng tụ tập thành từng nhóm lang thang bên bờ sông, và vì cảm thấy được rảnh rỗi nên chẳng biết phải làm gì với bản thân: họ không thể ăn uống gì vì thánh lễ muộn ở Tu viện nhỏ vẫn chưa kết thúc; các cửa hàng của tu viện — nơi đám đông hành hương rất thích chen chúc hỏi giá — vẫn đang đóng cửa. Bất chấp sự mệt mỏi, nhiều người trong số họ vì quá chán nản nên đã lê la đi bộ đến Tu viện nhỏ. Con đường mòn từ Tu viện lớn dẫn sang Tu viện nhỏ — hướng mà tôi đang rảo bước — uốn lượn như một con rắn dọc theo vách núi cao dựng đứng, lúc lên lúc xuống, luồn lách giữa những tán sồi và thông. Phía dưới, dòng Donets lấp lánh phản chiếu ánh mặt trời; phía trên, vách đá phấn sần sùi sừng sững màu trắng phau, điểm xuyết những chùm lá non xanh rực rỡ của sồi và thông ở đỉnh — những loài cây mọc chen chúc chồng lên nhau, cách nào đó vẫn bám trụ được trên vách đá thẳng đứng mà không bị rơi xuống. Những người hành hương nối đuôi nhau thành một hàng dọc lầm lũi trên đường mòn. Đa phần họ là người Tiểu Nga đến từ các vùng lân cận, nhưng cũng có rất nhiều người từ phương xa cất bước đi bộ đến từ các tỉnh Kursk và Orel; trong dải lụa người nhiều màu sắc ấy còn có cả những kiều dân gốc Hy Lạp từ Mariupol — những con người vạm vỡ, điềm đạm và thân thiện, hoàn toàn khác xa với đám đồng hương ốm yếu thoái hóa đang lấp đầy các thị trấn vùng biển phía nam của chúng ta. Lại có cả những người đàn ông vùng Donets mặc quần chẽn viền đỏ, và những người di cư từ tỉnh Tavritchesky. Không ít những người hành hương thuộc tầng lớp lơ lửng vô định hình giống như Alexandr Ivanitch của tôi; họ là người loại gì và đến từ đâu thì hoàn toàn không sao nhận biết nổi qua gương mặt, trang phục hay tiếng nói. Con đường mòn kết thúc ở bến đỗ thuyền nhỏ, từ đó có một con đường hẹp rẽ trái đi về phía Tu viện nhỏ, xuyên cắt qua quả núi. Ngay bến đỗ có hai chiếc thuyền lớn nặng nề mang vẻ ngoài dữ dằn, trông giống như những chiếc thuyền độc mộc New Zealand thường thấy trong tác phẩm của Jules Verne. Một chiếc thuyền trải thảm trên các hàng ghế dành riêng cho giáo sĩ và ca đoàn, chiếc còn lại không trải thảm thì dành cho đại chúng. Khi đoàn rước đang trên đường quay về, tôi thấy mình lọt thỏm giữa đám đông những kẻ may mắn đã chen chúc được lên chiếc thuyền thứ hai. Số lượng người được chọn đông đến mức chiếc thuyền gần như chẳng dịch chuyển nổi, và người ta buộc phải đứng yên bất động suốt cả chuyến đi, đồng thời phải cẩn thận kẻo mũ bị bóp méo. Cảnh sắc trên đường thật tuyệt diệu. Cả hai bờ sông — một bên cao, dốc đứng và trắng xóa với những hàng thông sồi rủ bóng, cùng đám đông đang hối hả rảo bước quay về trên đường mòn; bên kia thoải dải với những đồng cỏ xanh mướt và lùm sọc sồi tắm mình trong ánh nắng — trông thật hạnh phúc và đê mê như thể buổi sáng tháng Năm nợ vẻ đẹp quyến rũ của nó chỉ riêng cho chúng vậy. Ánh nắng phản chiếu trên dòng Donets chảy xiết lấp loáng dao động rồi tản mát chạy đi khắp ngả, những tia nắng dài nhảy nhót trên áo lễ, trên những lá cờ phướn và trên những giọt nước tung tóe do mái chèo khua lên. Tiếng thánh thi Phục sinh, tiếng chuông ngân, tiếng khua nước của mái chèo, tiếng chim hót, tất cả hòa quyện vào không gian tạo nên một âm hưởng dịu dàng và hài hòa. Chiếc thuyền chở các linh mục và cờ phướn đi đầu; ở đuôi thuyền, bóng đen của một tu sĩ đứng bất động như bức tượng.

Khi đoàn rước tiến sát đến Tu viện, tôi nhận ra Alexandr Ivanitch trong nhóm những người được chọn. Cậu ta đứng ở tận hàng đầu, miệng há hốc vì sung sướng và cặp lông mày bên phải nhướng ngược lên, đắm đuối chiêm ngưỡng đoàn rước. Gương mặt cậu ta rạng rỡ hẳn lên; có lẽ vào những khoảnh khắc như thế này, khi xung quanh có biết bao nhiêu người và cảnh vật sáng bừng rực rỡ, cậu ta cảm thấy vô cùng mãn nguyện với chính mình, với tôn giáo mới và với lương tâm của bản thân.

Lát sau, khi chúng tôi đang ngồi trong phòng uống trà, gương mặt cậu ta vẫn bừng sáng nét mãn nguyện; biểu cảm cho thấy cậu ta hài lòng cả với tách trà lẫn với tôi, rằng cậu ta đánh giá cao việc tôi là một người trí thức, nhưng cũng thừa sức để diễn tròn vai của mình một cách xuất sắc nếu có bất kỳ chủ đề trí thức nào được khơi mào...

– Xin ngài cho biết, tôi nên đọc sách tâm lý học nào nhỉ? – cậu ta bắt đầu câu chuyện trí thức bằng cái nhăn mũi quen thuộc.

– Ơ kìa, cậu cần nó để làm gì chứ?

– Không thể làm giáo viên nếu không có kiến thức về tâm lý học. Trước khi dạy dỗ một đứa trẻ, tôi phải thấu hiểu tâm hồn nó đã chứ.

Tôi bảo cậu ta rằng chỉ riêng tâm lý học thôi thì chưa đủ để thấu hiểu tâm hồn một đứa trẻ, hơn nữa, môn tâm lý học đối với một giáo viên chưa nắm vững các phương pháp kỹ thuật dạy đọc, viết và tính toán sẽ là một sự xa xỉ thừa thãi hệt như toán học cao cấp vậy. Cậu ta sẵn sàng đồng ý với tôi ngay, rồi bắt đầu say sưa miêu tả nhiệm vụ của một người thầy giáo khó khăn và nặng nề biết bao, việc nhổ bỏ tận gốc rễ những xu hướng quen thuộc hướng về cái ác và sự mê tín ở trẻ khó đến mức nào, làm sao để rèn luyện cho đứa trẻ tư duy trung thực và độc lập, truyền thụ vào tâm hồn chúng tôn giáo đích thực, ý thức về phẩm giá cá nhân, về sự tự do, vân vân. Đáp lại những lời đó, tôi góp ý đôi câu. Cậu ta lại đồng ý. Quả thực, cậu ta đồng ý một cách vô cùng dễ dãi. Hiển nhiên là bộ não của cậu ta không thực sự nắm bắt chắc chắn cho lắm về những "chủ đề trí thức" này.

Cho đến tận thời điểm tôi rời đi, chúng tôi cứ thong thả dạo bước cùng nhau quanh tu viện, giết thời gian qua ngày hè dài đằng đẵng. Cậu ta không rời nửa bước suốt cả phút nào; chẳng biết là do đã cảm mến tôi hay vì sợ hãi sự cô đơn nữa! Tôi nhớ có lần chúng tôi ngồi bên nhau dưới một lùm keo vàng trong một trong những khu vườn nhỏ rải rác trên sườn núi.

– Nửa tháng nữa tôi sẽ rời khỏi đây; – cậu ta nói, – đã đến lúc phải đi rồi.

– Cậu định đi bộ à?

– Từ đây tới Slavyansk tôi sẽ đi bộ, rồi đáp tàu hỏa đến Nikitovka; từ Nikitovka có nhánh đường sắt rẽ nhánh, và dọc theo nhánh đường sắt đó tôi sẽ đi bộ tuốt tới Hatsepetovka, ở đó có một nhân viên gác chắn tàu mà tôi quen sẽ giúp tôi tiếp tục hành trình.

Tôi hình dung ra thảo nguyên hoang vắng, trơ trọi nằm giữa Nikitovka và Hatsepetovka, rồi tưởng tượng cảnh Alexandr Ivanitch đang sải bước trên đó mang theo những nỗi hoài nghi, nỗi nhớ nhà và nỗi sợ hãi sự cô đơn... Cậu ta đọc được sự chán chường thoáng qua trên mặt tôi liền thở dài.

– Chắc bây giờ em gái tôi đã lấy chồng rồi ấy chứ, – cậu ta lẩm bẩm nói một mình, và để xua đi những suy nghĩ u ám, cậu ta vội chỉ tay lên đỉnh vách đá rồi bảo:

– Đứng trên ngọn núi kia là có thể nhìn thấy Izyum đấy.

Lúc chúng tôi đang leo núi thì cậu ta gặp một tai nạn nhỏ. Chắc là cậu ta vấp ngã, làm rách toạc chiếc quần vải bông và toác cả phần đế giày.

– Chậc! – cậu ta vừa nhăn mặt vừa tháo chiếc giày ra để lộ bàn chân trần không tất. – Thật là phiền toái quá đi mất!... Lại thêm một rắc rối phát sinh nữa cơ chứ... Đúng thế đấy!

Cứ xoay đi lật lại chiếc giày trước mặt như thể không dám tin là phần đế đã hỏng hoàn toàn, cậu ta cứ đứng nhăn nhó, thở dài và chép miệng mãi không thôi.

Trong va li của tôi có một đôi giày bốt cũ nhưng trông vẫn thời trang, có mũi nhọn và dây buộc. Tôi mang theo phòng hờ khi cần và chỉ đi vào những ngày mưa gió. Lúc quay trở về phòng, tôi bèn khéo léo lựa lời ngoại giao nhất có thể rồi đem đôi giày ấy ra tặng cậu ta. Cậu ta đón nhận và nói với vẻ đầy đường hoàng:

– Lẽ ra tôi phải cảm ơn ngài, nhưng tôi biết là ngài coi những lời cảm ơn chỉ là khách sáo thông thường.

Cậu ta vui mừng như một đứa trẻ trước đôi giày mũi nhọn có dây buộc ấy, thậm chí còn thay đổi cả kế hoạch của mình.

– Thế thì chỉ một tuần nữa là tôi sẽ lên đường đi Novotcherkassk, chứ không đợi đến nửa tháng nữa đâu, – cậu ta vừa lẩm bẩm vừa nghĩ ngợi. – Mang những đôi giày thế này thì tôi chẳng còn gì phải ngại ngùng khi ra mắt cha đỡ đầu của mình nữa. Hồi nãy tôi có phải chần chừ chưa muốn đi vì chưa có nổi bộ quần áo tử tế đâu chứ...

Khi bác đánh xe đang khênh chiếc va li của tôi ra ngoài, một thầy tu mang gương mặt phúc hậu thoáng chút mỉm cười châm biếm bước vào để quét dọn phòng. Alexandr Ivanitch có vẻ bối rối, ngượng ngùng và rụt rè lên tiếng hỏi:

– Tôi vẫn ở đây hay phải đi chỗ khác ạ?

Cậu ta không sao quyết định nổi việc chiếm dụng cả một căn phòng cho riêng mình, và rõ ràng lúc này đã bắt đầu thấy ngượng ngùng vì cứ sống ăn bám vào tu viện. Cậu ta có vẻ rất quyến luyến không muốn rời xa tôi; để kéo dài khoảnh khắc cô đơn càng lâu càng tốt, cậu ta xin phép được tiễn tôi một đoạn đường.

Con đường từ tu viện vốn được đục đẽo tốn không ít công sức vào lòng ngọn núi đá phấn, uốn lượn hướng lên cao, ngoằn ngoèo hầu như xoắn ốc quanh sườn núi, vắt qua những rễ cây và luồn dưới những tán thông râm mát trĩu nặng...

Sông Donets là thứ đầu tiên biến mất khỏi tầm mắt chúng tôi, tiếp theo là khoảng sân tu viện với hàng ngàn con người, rồi đến những mái nhà lợp tôn xanh... Vì đang leo lên cao nên mọi thứ dường như đều chìm lún vào một cái hố sâu. Cây thánh giá trên mái nhà thờ được những tia nắng chiều tà rọi vào bỗng lóe lên thứ ánh sáng rực rỡ ở đáy vực thẳm rồi vụt tắt. Chẳng còn lại gì ngoài những tán sồi, hàng thông và con đường trắng phau. Nhưng rồi cỗ xe của chúng tôi cũng vươn lên tới vùng đất bằng phẳng, và tất cả cảnh sắc kia đã ở lại phía dưới và sau lưng chúng tôi. Alexandr Ivanitch nhảy xuống xe, mỉm cười buồn bã, liếc nhìn tôi lần cuối bằng đôi mắt trẻ thơ của cậu ta, rồi biến mất khỏi cuộc đời tôi mãi mãi...

Những ấn tượng về Ngọn núi Thánh đã lùi vào dĩ vãng thành ký ức, và trước mắt tôi hiện ra một cảnh tượng mới: đồng cảnh phẳng lặng, khoảng trời xa ngút ngàn màu nâu trắng, lùm cây ven đường, và xa hơn nữa là một chiếc cối xay gió đứng bất động, trông có vẻ chán chường vì trong ngày lễ nên không được phép vẫy những cánh quạt của mình.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anton Pavlovich Chekhov

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.