Chu Trọng Kiệt và Lưu Liễu đợi nửa tiếng dưới nhà Mạc Mạc. Chu Trọng Kiệt bắt đầu sốt ruột, không ngừng than vãn trời quá nóng, giục Lưu Liễu bật điều hòa trên xe. Hôm nay là thứ Bảy. Tối qua, Mạc Mạc đã báo với họ hôm nay mình sẽ đi làm theo đúng thời gian bình thường. Đây là yêu cầu của cảnh sát, Mạc Mạc phải cho Lưu Liễu và Chu Trọng Kiệt biết hành tung của mình.
“Em có cảm thấy có gì đó sai sai không? Theo lẽ thường, bây giờ chị ta đã đến chỗ làm rồi mới phải, sao hôm nay lại có hứng ngủ nướng? Hôm qua, chị ta đã nói với chúng ta hôm nay sẽ đi làm như mọi ngày, chẳng lẽ anh nghe nhầm?” Chu Trọng Kiệt lau mồ hôi, điều chỉnh lại cánh gió của điều hòa để mình mát hơn. Như mọi ngày, bọn họ tới dưới nhà Mạc Mạc đợi, lâu nhất là 5 phút cô ta sẽ đi ra. Nếu biết trước hôm nay phải đợi lâu thế này, thế nào Lưu Liễu cũng đỗ xe ở chỗ râm mát. Nắng hè quá kinh khủng, mặt trời mới lên cao bằng ngọn sào đã có thể nung chảy mặt đường nhựa. Lưu Liễu nhớ lại lạc đà Tường Tử của Lão Xá[1], rồi cảnh Tường Tử kéo xe dưới nắng hè.
Lưu Liễu liếc nhìn Chu Trọng Kiệt đang hơi chật vật, cô cười cười rồi nhắm mắt lại, nói giễu cợt: “Anh không phải cậu ấm nhà đại phú đại quý, sao lại y hệt công tử bột thế? Có chút vất vả thế này mà cũng không chịu được à?”
Chu Trọng Kiệt giơ điện thoại lên: “Báo cáo tình hình cho bố anh đi, nói là Mạc Mạc ngủ nướng, hôm nay có thể sẽ ở nhà, bây giờ chúng ta rút. Đã hơn mười ngày rồi, suốt ngày chỉ làm việc này, chẳng có tí vinh dự gì cả.”
“Hôm qua, chị ta nói rất rõ là hôm nay đi làm, nếu nghỉ cũng nên thông báo cho chúng ta mới phải.” Lưu Liễu không thèm để ý đến Chu Trọng Kiệt, cô mở mắt ra, quay sang nhìn anh: “Công việc của anh rất thiêng liêng, anh làm việc không vinh dự cũng đừng kéo em vào. Hơn nữa, có việc gì là việc không vinh dự chứ?”
“Dù sao cũng phải có chút kĩ thuật, đúng không? Còn việc ngồi trông chừng này ai cũng làm được, làm sao thể hiện được năng lực của chúng ta? Cái này không cho vào báo cáo tổng kết cuối năm được, em nói xem phải viết thế nào? Tôi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trông chừng và bảo vệ người bị hại à?” Chu Trọng Kiệt nhìn cửa sổ nhà Mạc Mạc: “Đều tại người phụ nữ này. Không có thành tích sẽ không được bình bầu tiên tiến, không được bình bầu tiên tiến sau này sẽ không lên được trưởng phòng.”
“Chu Trọng Kiệt, anh làm cái gì mà cứ cằn nhằn suốt thế? Em nói cho anh biết, làm việc này muốn lập thành tích thì khó nhưng nếu muốn mắc khuyết điểm thì quá dễ.”
“Làm thế nào?”
“Nếu Mạc Mạc xảy ra chuyện, anh không phát hiện kịp thời thì đó chính là khuyết điểm nghiêm trọng chứ còn gì nữa. Cho nên anh phải ngoan ngoãn, nghiêm túc hoàn thành nhiệm vụ.”
Chu Trọng Kiệt suy nghĩ một lát, liếc nhìn cửa sổ nhà Mạc Mạc rồi nhìn Lưu Liễu, đột nhiên ý thức được gì đó bèn kêu lên đầy ảo não “Mẹ kiếp”. Mặc dù anh nói rất nhỏ nhưng vẫn bị Lưu Liễu nghe thấy.
“Chu Trọng Kiệt, anh nói cái gì đấy?” Lưu Liễu ghét nhất là đàn ông nói câu này bên tai mình, điển hình của người ngu xuẩn mà cứ tưởng là cá tính.
Dường như Chu Trọng Kiệt không nghe thấy câu hỏi của Lưu Liễu, cũng không chú ý đến vẻ khinh thường trên mặt cô, anh nói: “Lưu Liễu, em mau báo cáo với trưởng phòng Chu, xin chỉ thị, không thể ngồi ở đây mãi được.”
“Cần thì anh đi mà báo cáo! Sao anh lười thế, không chịu được vất vả gì cả.” Lưu Liễu lấy điện thoại ra, chỉ chỉ cửa sổ nhà Mạc Mạc, nói: “Gọi điện cho chị ta là được, hỏi xem chị ta ở trong nhà đến bao giờ” trong khi tay bấm số.
Lưu Liễu gọi điện thoại, biểu cảm trên mặt cô trở nên nghiêm túc. Cô nhìn Chu Trọng Kiệt, nói: “Điện thoại không kết nối.”
“Để anh đi gõ cửa.” Nói xong, Chu Trọng Kiệt xuống xe ngay lập tức, lát sau đã quay về. Lưu Liễu vừa gọi xong một cuộc điện thoại, Chu Trọng Kiệt chỉ nghe thấy cô nói: “Được rồi, tạm biệt.”
“Không có ai nghe máy. Có lẽ chị ta không ở nhà, có khi nửa đêm đi hẹn hò với ai rồi đi thẳng từ khách sạn đến chỗ làm cũng nên. Em vừa gọi điện cho ai thế? Kết nối được rồi à?”
“Không. Em gọi điện đến chỗ làm của Mạc Mạc, đồng nghiệp của chị ta nói hôm nay chị ta không đi làm, cũng không xin nghỉ, bên ấy cũng đang tìm cách liên lạc với chị ta.”
“Bây giờ có thể báo cáo với trưởng phòng Chu rồi chứ? Nếu anh báo cáo, thế nào ông ấy cũng nghi ngờ chúng ta muốn làm biếng.”
Lưu Liễu gọi điện thoại cho Chu Sĩ Khiêm báo cáo tình hình. Chu Sĩ Khiêm đang ở nhà cha mẹ của Mạc Mạc, nói chuyện với bố mẹ cô ta để tìm hiểu tình hình.
Ông dặn Lưu Liễu đừng gác máy rồi hỏi Mạc Đại Khuê: “Con gái ông hiện đang ở đâu?”
Hai ông bà kinh ngạc, tới tấp lắc đầu tỏ ý không biết.
5 giờ sáng nay, Chu Sĩ Khiêm ngồi xe của Liêu Ngu về. Lúc đang đi trên đường, Liêu Ngu nói một câu: “Không ai hiểu con bằng cha mẹ” và đề nghị ông đến nhà bố mẹ Mạc Mạc, đằng nào cũng tiện đường. Câu này đã nhắc nhở ông. Sau khi xuống xe ở tòa nhà đài phát thanh, Liêu Ngu về nhà trong thành phố, còn Chu Sĩ Khiêm lái xe đến nhà Mạc Đại Khuê rồi ở đó cho đến tận bây giờ.
Nhận được điện thoại của Lưu Liễu, trong đầu Chu Sĩ Khiêm thoáng hiện lên dự cảm chẳng lành.
“Trưởng phòng Chu, làm thế nào bây giờ ạ? Chu Trọng Kiệt đề nghị về đội. Hôm nay là thứ Bảy.” Lưu Liễu nhếch miệng nhìn Chu Trọng Kiệt, Chu Trọng Kiệt nghe cô nói như vậy bèn làm bộ định đánh cô.
“Thằng nhóc này! Hai đứa ở yên đấy, chú đến ngay.” Chu Sĩ Khiêm vừa nói vừa đứng dậy định đi. Mạc Đại Khuê sốt sắng: “Cảnh sát Chu, con gái tôi bị làm sao à? Không xảy ra việc gì chứ?”
Chu Sĩ Khiêm vừa đi ra ngoài vừa nói nhưng không ăn nhập với câu hỏi: “Ông bà cứ ở nhà, đừng đi đâu hết.”
Chu Sĩ Khiêm xuống lầu, lên xe, hú còi cảnh sát, chạy như điên trên đường.
Mạc Đại Khuê vội vàng gọi điện cho Mạc Mạc, đúng là không thể kết nối. Hai vợ chồng ngơ ngác nhìn nhau, điện thoại của con gái chưa bao giờ rơi vào tình trạng này. Mạc Đại Khuê dặn dò Trì Thanh Liên ở nhà trông cháu, ông phải đi xem thế nào. Từ sau khi Triệu A Trân bị đâm kim, Trì Thanh Liên vẫn kinh hồn bạt vía. Mạc Mạc không dám nói với cha mẹ chuyện mình bị ném chậu hoa và đầu độc để ông bà đỡ lo sợ.
Chu Sĩ Khiêm cảm thấy đầu hơi đau, chai rượu để lâu năm đó lại bốc lên đầu. Ông vừa lên xe đã gọi ngay cho Lưu Liễu: “Mày bảo Chu Trọng Kiệt trèo từ ban công nhà bên cạnh vào xem, làm ngay lập tức. Chú đang trên đường rồi, lát nữa sẽ đến.”
“Trưởng phòng Chu, có cần yêu cầu chi viện không ạ?”
“Xác nhận tình huống rồi tính tiếp.” Chu Sĩ Khiêm nói xong thì gác máy.
Lúc này, giao thông không thông thoáng. Nghe thấy tiếng còi cảnh sát, xe cộ tới tấp nhường đường. Do có dòng xe tốc độ rùa bò hai bên làm nền nên xe của Chu Sĩ Khiêm trông lao nhanh như chớp.
Chu Trọng Kiệt gõ cửa nhà hàng xóm của Mạc Mạc ở căn hộ bên cạnh rồi trèo từ ban công nhà đó sang ban công nhà cô ta. Trong nhà, rèm cửa sổ kéo kín mít. Anh không tìm được lối vào dù chỉ là một khe hở. Chu Trọng Kiệt gõ cửa sổ, bên trong không hề có hồi đáp.
“Ném cho anh một tảng đá để đập kính.” Chu Trọng Kiệt gọi Lưu Liễu ở bên dưới.
Lưu Liễu đến bồn cây cảnh tìm kiếm, chỉ tìm được một mẩu gạch to bằng quả óc chó. Cô giơ lên cho Chu Trọng Kiệt xem: “Không được, quá nhỏ.”
Chu Trọng Kiệt cởi một chiếc giày ra rồi cầm mũi giày đập vỡ một tấm kính, luồn tay vào mở cửa sổ từ bên trong. Lưu Liễu nhìn thấy bóng dáng Chu Trọng Kiệt loáng cái đã chui vào nhà. Cô chạy lên cầu thang, mở cửa nhà Mạc Mạc nhưng không được.
“Chu Trọng Kiệt! Chu Trọng Kiệt!” Lưu Liễu đập cửa, mãi mới nghe thấy tiếng mở khóa.
Chu Trọng Kiệt vừa mở cửa đã nói năng lộn xộn: “Xảy ra chuyện rồi! Còn sống.”
Lưu Liễu nhìn về phía sau Chu Trọng Kiệt, thấy Mạc Mạc mặc đồ ngủ nằm nghiêng trên sàn nhà, áo ngủ màu trắng đầy máu, trên bụng bên trái cắm một con dao gọt trái cây.
Hai người nhìn nhau, Lưu Liễu lập tức chạy xuống lầu, Chu Trọng Kiệt thì trở lại bên cạnh Mạc Mạc, xác nhận trên người cô ta không có vết thương khác mới cẩn thận bế lên, vội vàng chạy xuống. Lúc này, Lưu Liễu đã nổ máy xe, quay đầu xong xuôi và dùng bộ đàm trên xe báo cáo tình hình với Chu Sĩ Khiêm.
Lưu Liễu đợi Chu Trọng Kiệt đặt Mạc Mạc lên ghế sau rồi bật còi cảnh sát, lao như bay đến bệnh viện gần nhất. Chưa đi được bao xa thì cô nhìn thấy xe của Chu Sĩ Khiêm cũng hú còi lao như điên về phía mình.
“Trưởng phòng Chu, cháu nhìn thấy chú rồi, bây giờ bọn cháu đến bệnh viện, chưa kịp bảo vệ hiện trường.”
Chu Sĩ Khiêm chỉ nói một câu “Biết rồi”, hai chiếc xe đi lướt qua nhau, cuốn theo bụi bặm bay lên cao.
Lúc Chu Sĩ Khiêm đi vào tiểu khu, cư dân sống trong tòa nhà đã bị kinh động. Họ đứng ở ban công nhà mình hóng chuyện. Thứ Bảy là thời gian phù hợp để ngủ nướng, có người bị tiếng còi cảnh sát làm cho giật mình tỉnh dậy, vừa đứng bên cửa sổ đánh răng vừa nhìn xuống bên dưới, suy đoán có chuyện gì đã xảy ra trong buổi sáng cuối tuần thế này, vì sao lại có xe cảnh sát hú còi ở đây.
Đột nhiên, trong đầu Chu Sĩ Khiêm hiện ra cảnh tượng lúc ông đi vào tiểu khu Quan Trang cũng có rất nhiều người dựa vào cửa sổ, ban công nhà mình và nhìn ông một cách đầy hứng thú. Chỉ có điều hôm đó trời vừa mới mưa, có người ăn bánh quẩy trên ban công, còn hôm nay thì không.
Chu Sĩ Khiêm đỗ xe xong lập tức lên lầu. Chu Trọng Kiệt đi quá vội vàng, ngay cả cửa cũng không kịp đóng. Chu Sĩ Khiêm đứng ở cửa, nhìn thấy ngay trên sàn phòng khách có một vũng máu, lúc Chu Trọng Kiệt bế Mạc Mạc lên đã làm máu dưới thân cô ta loang ra. Có vài giọt máu rải từ chỗ đó ra đến cửa, nhất định là rỏ xuống lúc Chu Trọng Kiệt bế cô ta đi xuống lầu.
20 phút sau, Vương Hồng Tiến và Lai Tấn Thăng dẫn người đến, mọi người bắt đầu bận rộn trong ngoài. Trong phòng không có dấu vết xô xát, trên sàn nhà có thủy tinh vỡ, cửa sổ ban công cũng vỡ một lỗ to, là “kiệt tác” của Chu Trọng Kiệt. Rèm cửa sổ chưa kéo ra, gió từ lỗ hổng thổi vào làm rèm bay phần phật. Cùng với rèm cửa sổ lúc lên cao khi xuống thấp, trong phòng cũng lúc sáng lúc tối. Chu Sĩ Khiêm kéo hết rèm ra, căn phòng lập tức sáng ngời.
Chu Sĩ Khiêm phát hiện dây điện thoại trong phòng bị cắt đứt và một chiếc điện thoại di động ngâm trong bồn cầu, ông biết đó là điện thoại của Mạc Mạc. Ông vớt nó lên, giao cho nhân viên.
Chăn trong phòng ngủ không gấp, dép lê xếp dưới cửa sổ rất chỉnh tề, hiển nhiên Mạc Mạc đi chân đất từ phòng ngủ ra phòng khách.
Vương Hồng Tiến vừa gọi điện thoại cho Chu Trọng Kiệt, đã nắm được tình hình cơ bản. Chu Trọng Kiệt báo cáo với Vương Hồng Tiến rằng anh đã đưa người bị hại đến bệnh viện gần nhất, đang chuẩn bị phẫu thuật.
Vương Hồng Tiến nhìn hiện trường, hết sức nghi hoặc, lẩm bẩm: “Hung thủ đi vào bằng cách nào?” Nói xong, ông ta nhìn Chu Sĩ Khiêm: “Không đánh nhau, cửa sổ khóa… Đây là thủ đoạn quen thuộc của hung thủ vụ án trước!” Ông ta vỗ mạnh vai vào Chu Sĩ Khiêm một cái, đồng thời nhấn mạnh: “Nhất định là hắn!”
“Vụ án trước không có người sống. Hơn nữa, thủ đoạn gây án rất chuyên nghiệp, không giống việc làm của cùng một người.” Chu Sĩ Khiêm rút một điếu thuốc, ngồi xuống sofa rồi châm lửa.
“Anh Chu, thái độ của anh đối với vụ án này thay đổi rất nhanh, không giống phong cách vốn có của anh.” Lai Tấn Thăng phát hiện một chiếc túi ni lông trong góc tường phía sau cửa, bên trong nhét đồ đạc linh tinh căng phồng, xem ra là rác chưa kịp xử lí. Ông ta nói xong lại lục xem những thứ bên trong: “Ơ, trong này có tiêu bản!”. Ông ta giơ một chiếc lọ thủy tinh lên cho Vương Hồng Tiến và Chu Sĩ Khiêm nhìn: “Người bị hại của chúng ta còn có sở thích này… Có vẻ là…”
Vương Hồng Tiến lập tức đi tới, cầm cái lọ lên xem xét: “Giống hệt bộ phận cơ thể người. Có thể là thứ hung thủ để lại.”
“Đó là ruột thừa của Triệu Quan Nhất, chồng của người bị hại.” Chu Sĩ Khiêm nói.
“Làm sao anh biết?”
“Vợ của Triệu Quan Nhất nói với tôi. Cô ta còn nói lúc hỏa táng Triệu Quan Nhất sẽ phải hỏa táng luôn thứ này, xem ra quên rồi.”
Vương Hồng Tiến vừa nghe lập tức nhét chiếc lọ vào tay Lai Tấn Thăng: “Bỏ lại chỗ cũ đi, bỏ lại chỗ cũ đi!”
“Đội trưởng Vương cũng mê tín cơ à? Ngay cả mảnh xác người anh cũng cầm rồi, thế mà còn sợ cầm cái này à?”
“Không phải tôi mê tín mà là thứ này sẽ khiến tôi nghĩ đến hiện trường Triệu Quan Nhất bị người ta phân xác, đúng là quá kinh tởm đẫm máu. Cả đời này tôi không muốn nhớ lại chuyện đó nữa đâu. Thật đấy!”
Dưới lầu ầm ĩ, Vương Hồng Tiến chạy ra ngoài ban công xem. Bên dưới có đám đông tụ tập xem náo nhiệt, họ đứng ngoài dây cách li, bàn tán sôi nổi. Có mấy người đến sớm đang ra sức khoe khoang với mọi người những gì mình hóng được. Vương Hồng Tiến lệnh cho mấy cảnh sát trong phòng:“Xuống đuổi hết những người không phận sự dưới kia đi” rồi lại lẩm bẩm tức giận: “Lần nào cũng thế, lần nào cũng thế, có cái gì mà các người không tò mò không?”
Vương Hồng Tiến nổi giận đùng đùng mở tủ lạnh, do dự một lát lại đóng vào. Ông ta muốn dùng nước đá để hạ nhiệt tâm trạng khó chịu của mình. Cũng may điều hòa trong phòng vẫn bật, ít nhất không nóng đến mức mồ hôi nhễ nhại.
Chu Sĩ Khiêm đi một vòng quanh phòng rồi lại ngồi xuống sofa, nhìn vết máu dưới đất, ngẩn người như bị mất hồn. Vết máu đã được khoanh lại. Trong đầu ông cố gắng tái hiện cảnh tượng khi xảy ra vụ án. Đêm hôm qua hoặc rạng sáng nay, khả năng rạng sáng cao hơn, nếu không, người bị hại có thể tử vong do mất máu quá nhiều vì thời gian bị thương dài. Người bị hại nghe thấy động tĩnh nên lặng lẽ dậy xem xét. Bởi vì trong nhà tắt đèn, cửa sổ kéo kín mít nên rất tối, hung thủ tấn công từ chính diện, sau đó, sợ bị bại lộ nên chạy trốn. Vấn đề là hung thủ vào nhà bằng cách nào?
Có vẻ Vương Hồng Tiến nhìn thấu tâm tư của Chu Sĩ Khiêm nên nói: “Để tôi nói cho anh biết nhé. Hung thủ có chìa khóa. Hiện trường vụ án tiểu khu Quan Trang và ở đây không khác nhau nhiều. Tôi khẳng định hung thủ có chìa khóa, nếu không thì sao đi vào được?”
“Vậy thì phải nghĩ xem làm sao hắn có được chìa khóa.”
Vương Hồng Tiến quay ra hỏi Lai Tấn Thăng: “Chính trị viên, làm sao hung thủ có chìa khóa nhà này?”
Lai Tấn Thăng đáp: “Đã lấy được chìa khóa phòng trọ tại tiểu khu Quan Trang thì cũng có thể lấy được chìa khóa ở đây. Hai chiếc chìa khóa có thể là của cùng một người, trong cùng một chùm.”
Vương Hồng Tiến xoa cằm: “Như vậy lại càng cho thấy hung thủ là cùng một người. Ông ta nhìn Chu Sĩ Khiêm, chờ câu trả lời khẳng định của ông, nhưng Chu Sĩ Khiêm vẫn lơ đãng nhìn vết máu như người mất hồn.”
Vương Hồng Tiến đẩy ông một cái: “Chu Sĩ Khiêm, trên vết máu có cái gì hả? Anh nhìn lâu lắm rồi đấy.”
Chu Sĩ Khiêm nói: “Tôi đoán không ra cách hung thủ đột nhập vào nhà. Tôi đã kiểm tra khóa cửa, không phải loại bình thường. Loại khóa này không thể mở từ bên ngoài được.”
“Sau đó thì sao?”
“Sau đó à? Làm gì có nhiều sau đó như vậy. Tôi đâu có nhiều sức lực mà suy nghĩ lung tung chứ. Tôi có biện pháp tốt hơn để biết hung thủ đi vào nhà như thế nào.”
Vương Hồng Tiến và Lai Tấn Thăng gần, kêu lên đồng thanh. Vương Hồng Tiến hỏi: “Biện pháp gì?”
Chu Sĩ Khiêm cười cười: “Hỏi.”
“Đi đâu hỏi? Hỏi ai?”
“Bệnh viện, người bị hại.” Chu Sĩ Khiêm trả lời.
“Nói thế mà cũng nói, cái này là chắc chắn rồi.” Vương Hồng Tiến cảm thấy bị trêu đùa, có chút chán nản.
Chu Sĩ Khiêm đã đến đây nhiều lần nên ông rất quen thuộc bài trí trong nhà. Lúc Mạc Mạc định bán nhà đã dọn phòng, sau đó lại khôi phục nguyên trạng. Ông lại đi một vòng, phát hiện mép trên cửa sổ phòng khách quay về hướng bắc có một mảnh giấy màu trắng. Mảnh giấy mắc ở đó bị gió thổi đung đưa, phát ra tiếng sột soạt, không nhìn kĩ rất khó phát hiện. Ông đứng lên ghế, gỡ mảnh giấy xuống. Trên tờ giấy trắng kích thước dài khoảng 30x10 xentimét này có một chữ D rất to, được tô đậm, phía dưới là một kí hiệu hình tia chớp. Ông để ý vị trí dán mảnh giấy trên cửa sổ có nhiều lớp giấy mỏng, cho thấy nơi này đã dán nhiều lần.
“Cái gì vậy?” Vương Hồng Tiến ngẩng lên nhìn.
“Ai biết. Có lẽ phía trên có thần chú vẽ bằng nước cơm.” Chu Sĩ Khiêm nói: “Một tờ giấy trắng, không biết dùng làm gì?”
Chu Sĩ Khiêm nhớ đến tờ bùa mà ông nhìn thấy ở tiểu khu Quan Trang. Nhưng tờ bùa đó dán vào cửa chính, mà giấy làm bùa có màu vàng, bên trên vẽ thần chú bằng mực đỏ. Còn cái này chỉ có một chữ cái và một kí hiệu được viết bằng bút chì tô đậm trên một tờ giấy trắng, lại còn dán ở trong nhà. Nhìn từ cách dán, chữ cái, kí hiệu có thể thấy nó hướng ra ngoài cửa sổ. Chu Sĩ Khiêm nhìn ra ngoài, ở tòa nhà đối diện có mấy người nhìn về phía ông. Qua khoảng trống giữa hai tòa nhà có thể nhìn thấy một tòa cao ốc cách đây rất xa. Đó là tòa nhà chọc trời ven sông nổi tiếng của thành phố, ba năm trước vẫn là kiến trúc cao nhất của khu vực này, sau đó bị một tòa nhà ở ngoại ô phía tây vượt qua.
Chu Sĩ Khiêm đưa mảnh giấy cho Vương Hồng Tiến, Vương Hồng Tiến nhìn lướt qua rồi nói: “Đây là bùa. Nhất định chủ nhà cảm thấy căn nhà này không cát lợi nên dán bùa để trấn phong thủy.”
“Đây không phải bùa, không giống ở tiểu khu Quan Trang.” Lai Tấn Thăng bên cạnh vừa nhìn lướt qua đã kết luận. “Đúng là có liên quan đến phong thủy nhưng đây không phải bùa, bởi vì trên đó không có cấp cấp như luật lệnh. Đây là trấn vật.”
Để chứng minh cho ý kiến của mình, Lai Tấn Thăng chỉ tòa nhà cao tầng xa xa, nói: “Nhìn thấy không. Bây giờ, tòa nhà đó là công trình xây dựng cao thứ hai của thành phố, cách nơi này mấy cây số. Theo phong thủy học, cái này gọi là tháp nhọn hướng vào nhà. Bây giờ là hạ nguyên bát vận[2], phương vị đó là vị trí của hung tinh nên nhất định phải dùng thứ này để hóa giải. Nó gọi là trấn vật.”
Vương Hồng Tiến nhìn Lai Tấn Thăng đang dương dương tự đắc: “Anh học cả phong thủy cơ à? Đây là mê tín chứ đâu.”
“Không hiểu chuyện mê tín thì sao biết mảnh giấy thần bí tại hiện trường dùng để làm gì.” Một câu của Lai Tấn Thăng làm cho Vương Hồng Tiến không biết nói sao.
❀ ❀ ❀
[1] Lão Xá (1899-1966): Nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc. Tường Tử là nhân vật chính trong tác phẩm Tường lạc đà của ông.
[2] Hạ nguyên bát vận: Thuật ngữ phong thủy, chỉ chu kì thứ 28 (1864 - 2043), thuộc vận 8 (2004 - 2023) hạ nguyên, do sao Bát Bạch làm chủ quản. (ND)