Chu Sĩ Khiêm không nhớ mình trở lại ô tô như thế nào. Ông uống liền hai chai nước nhưng vẫn không áp nổi luồng hơi trong lòng. Luồng hơi này lúc thì nóng hầm hập, như lồng hấp vừa mở ra, khói trắng nóng bỏng bốc lên khiến ông không thể nào thở nổi, lúc thì rét căm căm, có cảm giác như đang nằm trong chăn ấm đột nhiên bị giội một gáo nước đá vào đầu, lạnh đến mức ông phải rùng mình, răng va vào nhau lập cập. Ông vui một hồi, lo một hồi, giận một hồi, đau xót một hồi. Thế rồi, nước mắt ông tuôn trào.
Ông rút bức ảnh chụp cả nhà trong ví ra, miệng lẩm bẩm: “Lai Phượng à, tôi sắp tìm được nó rồi. Bà chờ nhé, chỉ mấy ngày nữa thôi, tôi sẽ đến tìm bà, báo cáo cụ thể quá trình cho bà nghe. Mạnh Kiệt, rốt cuộc con có còn trên đời nữa không? Bố biết con nhất định vẫn còn sống, nếu không, con nhất định phải báo mộng cho bố, biết không?”
Chu Sĩ Khiêm đang khóc thì Mạc Mạc gọi điện thoại tới. Ông lau mắt, lúc ấy mới nhớ ra mình phải gọi điện cho cô.
Mạc Mạc nghe thấy giọng nói của ông có vẻ khang khác, còn nghe được tiếng xì mũi.
“Cảnh sát Chu, ngài không sao chứ?”
“Tôi không sao. Cô tìm tôi có chuyện gì mà sốt ruột thế, một hồi đã gọi đến hai cuộc điện thoại rồi.”
“Tôi muốn nhờ ngài một việc. Tôi có thể gặp ngài nói chuyện trực tiếp không? Tôi đang rất vội.” Mạc Mạc cho rằng nhờ người khác thì nên nói chuyện trực tiếp để thể hiện lòng thành, tốt nhất là đến nhà Chu Sĩ Khiêm, mua chút quà cho ông nữa.
“Tôi về hưu rồi. Lúc chưa về đã chẳng có ai coi tôi ra gì, bây giờ về rồi lại càng không. Nhưng cô cứ nói đi, nếu có thể giúp được thì tôi nhất định sẽ cố gắng.”
Mạc Mạc nói với ông chuyện kiện tụng và nhấn mạnh mấy ngày nữa sẽ phải ra tòa, nếu thua kiện thì cô và con gái sẽ trắng tay.
Chu Sĩ Khiêm dùng sức nháy mắt vài cái rồi dụi dụi, nghĩ chuyện khá nghiêm trọng. Nhưng ông lại cảm thấy mình không giúp được gì.
“Cái này…” Ông hơi do dự. Ông luôn cho rằng người không nhờ vả người khác thì lúc nào cũng có thể đứng thẳng lưng, nhưng khi nhờ vả thì vừa mở miệng đã phải cúi thấp. Thế nên, ông không nhờ vả ai vì không muốn mình trở nên thấp kém.
Bây giờ, ông mới hiểu từ chối người khác là một chuyện rất gian nan. Nỗi xấu hổ cũng khiến ông sinh ra cảm giác bỗng dưng mình “thấp xuống”.
“Không sao, ngài không tiện thì thôi ạ.”
“Tôi nhớ chuyện của cô rồi. Để tôi tranh thủ tìm hiểu tình hình rồi nói tiếp.” Chu Sĩ Khiêm nói xong thì cúp máy ngay, thầm nghĩ mình đâu quen biết ai. Bây giờ, người ta làm sao ấy nhỉ? Có chuyện gì cũng phải tìm người. Đến bệnh viện phải tìm người quen, mua sắm phải tìm người quen, con đi học cũng phải tìm người quen, kiện cáo lại càng phải tìm người quen. Vương Hồng Tiến từng nói với ông rằng ở công ty, muốn thăng chức mà không có người quen thì dù cống hiến đến chết cũng chẳng để làm gì, nhất là trong công ty quốc doanh. Ông ta nói với ông không chỉ một lần: “Anh Chu, tôi mà có tài như anh thì tôi lên chức cục trưởng từ lâu rồi, vì tôi có người quen ở trên.”
Chu Sĩ Khiêm nhìn đám đông đi qua đi lại trên đường, tự nói với mình: “Một đám bệnh nhân quần áo chỉnh tề. Chúng ta đều là bệnh nhân tâm thần. Bây giờ, mình phải đi tìm một bệnh nhân tâm thần khác.”
Ông phải đi tìm Hà Tài Quan, Lai Tấn Thăng đã cho ông biết địa chỉ. Hôm Chu Sĩ Khiêm về hưu, Hà Tài Quan đã đến đại đội hình sự để trình báo vấn đề của Chu Sĩ Khiêm, đồng thời lại họ tên và địa chỉ của mình. Chu Sĩ Khiêm cho rằng Hà Tài Quan sẽ còn đến nhưng sau đó, hắn không xuất hiện nữa.
Hà Tài Quan thuê một căn hầm rẻ tiền, bên trong kê một cái giường, có tủ âm tường, đầu giường đặt một chiếc ghế xếp. Lúc Chu Sĩ Khiêm tìm được Hà Tài Quan, cửa hầm đang mở, đèn cũng sáng, còn hắn đang nhắm mắt nằm trên ghế xếp, một chiếc nạng dựa bên cạnh.
Hà Tài Quan nghe thấy tiếng bước chân, không đợi Chu Sĩ Khiêm lên tiếng đã mở mắt.
“Cảnh sát Chu.” Có lẽ vì căn hầm u ám hoặc vì Hà Tài Quan vẫn còn mê ngủ, hắn phải phân biệt một hồi mới xác định được người đến là Chu Sĩ Khiêm. Hắn nhếch miệng cười. Hàm răng của hắn rụng gần hết, chỉ còn lại một chiếc răng cửa vừa to vừa dài. Khi hắn nói, răng cửa lung lay, có thể rụng bất cứ lúc nào.
Trong những năm Hà Tài Quan ngồi tù, cách một thời gian Chu Sĩ Khiêm lại đến gặp hắn, mỗi năm ít nhất 1 lần. Ông chỉ hi vọng hắn có thể cho biết tung tích của con gái mình. Trong hơn 30 năm, đây là lần đầu tiên gặp nhau ở ngoài nhà tù, hai người nhất thời đều cảm thấy là lạ. Lúc này, bốn mắt nhìn nhau đều lạnh như băng.
Chu Sĩ Khiêm nhìn mặt Hà Tài Quan không thấy có tí biểu cảm ngạc nhiên nào, như thể hắn ở đây chính là để đợi ông đến.
Quả nhiên, Hà Tài Quan nói: “Tao biết mày sẽ đến”. Hắn vẫn nằm dựa lưng trên ghế, vẫy tay với Chu Sĩ Khiêm, ra hiệu cho ông vào phòng.
Chu Sĩ Khiêm đi tới bên cạnh Hà Tài Quan, tóm cổ áo hắn rồi xách lên. Trên mặt Hà Tài Quan vẫn giữ nụ cười đó, ánh mắt đó, tỏ rõ ý khiêu khích và chế nhạo vô tận.
“Tao không còn nhiều thời gian. Trước khi lâm chung, tao muốn hoàn thanh tâm nguyện đời này của tao…” Hà Tài Quan liếc mắt về phía sau, ra hiệu cho Chu Sĩ Khiêm nhìn chiếc giường. Chu Sĩ Khiêm buông tay, phát hiện trên giường có một đống chai lọ lớn nhỏ đựng các loại thuốc.
“Hai quả thận hỏng hết rồi. Người ta bảo khỏi cần lọc máu nữa, dùng tạm ít thuốc vậy. Tao sắp chết rồi.” Vẻ ngoài của Hà Tài Quan già hơn rất nhiều so với tuổi thật của hắn.
“Ở trong tù, tao đã được mở mang đầu óc, bởi vì tao chỉ làm một việc. Bây giờ, tao mới biết người sống ở trên đời chỉ làm mỗi việc này vĩnh viễn sẽ không hối hận. Mày có biết là việc gì không?” Giọng điệu của Hà Tài Quan giống như bề trên đang răn dạy đứa trẻ.
Thấy Chu Sĩ Khiêm không nói, hắn nói tiếp: “Tao biết là mày cũng không biết. Bây giờ tao nói với mày.” Hà Tài Quan nhấn mạnh: “Học tập….”
Chu Sĩ Khiêm nắm chụp đèn treo trên đỉnh đầu rồi kéo gần về phía Hà Tài Quan một chút. Hắn nói: “Mày rất bất ngờ lắm đúng không? Có phải mày cảm thấy rất tự ti không? Không có văn hóa đúng là rất tự ti, bởi vì ai cũng có văn hóa. Nhưng đáng tiếc, trên thế giới này có quá nhiều thằng ngu tự cho mình là đúng. Muốn người khác cho rằng mình hiểu nhiều biết rộng nhưng lại không chịu đọc sách. Mà thực ra, vì có đọc cũng không hiểu nên không có văn hóa, thế là tự ti. Đặc biệt là người như mày, tự cho là có chút địa vị, chút danh tiếng, nhưng văn hóa vĩnh viễn là vết sẹo của mày. Mày chẳng biết cái gì nhưng luôn muốn người ta cho rằng mày hiểu hết tất cả, cái gì mày cũng giỏi. Mày thích nói to trong đám đông, bởi vì mày muốn khiến người khác chú ý đến mình. Mày vừa mở miệng đã chỉ trích người khác, bởi vì mày cho rằng làm vậy nghĩa là mày tài giỏi hơn người ta. Mày chính là kẻ đáng thương.”
Bởi vì chỉ còn một chiếc răng nên Hà Tài Quan nói chuyện thều thào, miệng mở rất to, có vẻ rất khoa trương. Chu Sĩ Khiêm buông chụp đèn ra, bóng điện đung đưa trở về chỗ cũ. Những cái bóng trong phòng cũng lắc lư theo bóng đèn.
Hà Tài Quan chống nạng đứng lên rồi khập khiễng đi đến trước mặt Chu Sĩ Khiêm. Hai người gần như dán sát vào nhau. Hà Tài Quan hơi khom người, lưng cũng hơi còng, chân phải co lên, chỉ có mũi chân chạm đất. Bởi vì đang chống nạng nên vai phải của hắn nhô lên. Hà Tài Quan cố gắng ngẩng mặt nhìn Chu Sĩ Khiêm, bóng hai người lúc dài lúc ngắn theo ánh đèn đong đưa trên đỉnh đầu.
Hà Tài Quan nói: “Tao biết mày hận không thể giết tao nhưng lại không muốn để tao chết. Mày hận không thể giết tao là bởi mày nhận định tao bắt cóc con mày, nhưng không muốn để tao chết vì mày vẫn chưa tìm được nó. Đúng không? Mày đang cực kì mâu thuẫn, đúng không? Bao nhiêu năm nay, mày vẫn sống trong mâu thuẫn, thù hận, áy náy và cả bất lực. Mày đã phá rất nhiều vụ án lớn, bắt bao nhiêu kẻ buôn người, tự biến mình thành vệ sĩ của nhân dân, căm ghét cái ác, nhưng mày vẫn không che giấu nổi bản tính tư lợi của mày. Mày không phải anh hùng, mày là hung thủ hại chết con trai tao!”
Hà Tài Quan ngồi lên giường rồi nói tiếp: “Mày phải cảm ơn tao. Nếu không có tao, đến khi về hưu, mày vẫn chỉ là một cảnh sát hộ khẩu ở thị trấn. Nhỉ?”
Hà Tài Quan nói liền một mạch. Dường như, hắn nói hết những lời đã tích tụ mấy chục năm chỉ trong vài phút đồng hồ. Hắn dùng gót chân đá mấy cái vào thùng giấy dưới gầm giường: “Đây là những cuốn sách tao đã đọc trong tù. Tất cả tiền công đều để mua sách. Làm việc khỏe thân thể, đọc sách khỏe đầu óc. Nếu mày có hứng thú thì tao tặng đấy. Dù sao tao cũng không có con trai, thà tặng cho người khác khi còn sống để kiếm chút ân tình còn hơn làm đồ bỏ khi tao chết.”
Bỗng Chu Sĩ Khiêm kéo vạt áo sơ mi trong thắt lưng ra, tay phải gãi lưng, há miệng hít vào mấy hơi. Hà Tài Quan tưởng ông đang gãi ngứa nên nhìn ông một cách hứng thú.
Chu Sĩ Khiêm bước về phía trước, tay trái đè vai Hà Tài Quan, tay phải bóc một miếng cao dán loại to trên lưng ra rồi dán lên miệng hắn. Ông tiện tay rút dây lưng ra, quất Hà Tài Quan một trận. Miệng gã đàn ông bị miếng dán bịt kín, chỉ kêu được mấy tiếng ú ớ.
Chu Sĩ Khiêm cài lại thắt lưng rồi nhìn quanh căn hầm. Ngoài chiếc ghế nằm cũ kĩ thì chẳng có gì khác để ngồi. Ông kéo chiếc ghế cũ lại gần và ngồi xuống, phát ra tiếng cót két.
Hà Tài Quan vất vả bóc miếng dán ra, mùi thảo dược nồng nặc khiến hắn nôn khan.
Hà Tài Quan đã thở đều trở lại, xoa bên vai bị quất: “Tao biết mày sẽ đến. Mày đến tìm con đúng không? Tao ra tù trước khi chết chính là để nói với mày việc này, nhưng mày vừa đánh tao nên tao sẽ không nói cho mày biết cái gì hết. Ngày mai mày đến, mang cho tao ít nước táo, nếu tao vui biết đâu sẽ nói với mày. Nếu không, cho dù mày đánh chết tao thì tao cũng không nói một chữ nào. Còn nữa, tao đang được tạm tha, rất dễ phải quay trở lại nhà tù. Nếu thế thì cả đời này mày đừng hòng nhìn thấy tao nữa, mày cũng không bao giờ biết được con gái mày còn sống hay đã chết.”
Chu Sĩ Khiêm nhìn Hà Tài Quan. Ánh mắt hắn rất bình tĩnh, rất lạnh lùng, đến mức không nhìn ra một chút dấu vết tức giận vì bị đánh.
Chu Sĩ Khiêm chậm rãi đứng lên, lấy miếng dán mới dán vào vị trí cũ trên lưng, sau đó đi ra cửa.
Hà Tài Quan ở phía sau nói: “Bảo mày đi mà mày đi ngay thế. Nhận thua rồi à? Đừng quên mai mang cho tao một chai nước ép trái cây, phải là nước táo ép tươi, không được mua loại ép sẵn.” Nói xong, hắn bật cười như vừa thắng trận.
Hôm sau, khi Chu Sĩ Khiêm đến tìm Hà Tài Quan, hắn vẫn nằm trên ghế gấp, vẫn mở mắt, chỉ nói: “Cảnh sát Chu, mày đến rồi à?”
Chu Sĩ Khiêm đi tới, hai tay tóm cổ Hà Tài Quan rồi lôi hắn dậy, làm cho hắn ngồi thẳng lên.
“Mày không mang nước táo đến à?”
Chu Sĩ Khiêm luồn tay vào túi quần sau. Hà Tài Quan tưởng ông lại định bịt miệng mình bằng miếng dán nên vô thức ngửa người ra sau. Chu Sĩ Khiêm lấy ra một chiếc lọ nhỏ, nhét vào lòng Hà Tài Quan làm hắn đau nhói. Hắn ngẩng lên, thoáng nhìn Chu Sĩ Khiêm một cái rồi mỉm cười, tay vặn nắp lọ uống một ngụm. Chu Sĩ Khiêm biết gã này không phải thực sự muốn uống nước ép táo mà có hàm ý khác.
Hà Tài Quan hả lòng hả dạ nói cảm ơn rồi đưa cho Chu Sĩ Khiêm chiếc lọ không: “Phiền mày lấy cho tao cái nạng.” Chiếc nạng đang ở ngay bên tay mình nhưng hắn lại thích để Chu Sĩ Khiêm đích thân đưa cho. Hắn nhìn Chu Sĩ Khiêm, chậm rãi vươn tay ra, đợi ông lấy nạng đưa cho mình.
Chu Sĩ Khiêm không nhìn thấy vẻ biết ơn trong mắt Hà Tài Quan mà chỉ toàn ý khiêu khích. Chu Sĩ Khiêm cầm nang nhét vào tay hắn. Lúc này, hắn mới vất vả đứng lên, khập khiễng đi tới giường rồi ngồi xuống, lại đưa nạng cho Chu Sĩ Khiêm, nhìn ông dựng nó dựa vào bên giường.
Hà Tài Quan bật cười ha hả. Cái răng cửa vừa to vừa dài rung rung như đang xem hài kịch.
Hà Tài Quan cười đến chảy cả nước mắt, Chu Sĩ Khiêm mặc kệ, đợi hắn nói chuyện.
“Ngồi đi, cảnh sát Chu. Mày rất có thành ý, vì con mà mày cam chịu làm đầy tớ cho kẻ khác. Tao rất cảm động. Còn nữa, nước táo ép mà mày mang đến rất ngon, nhưng hơi ít…”
Dường như Hà Tài Quan biết sự kiên nhẫn của Chu Sĩ Khiêm đang tiêu hao gần hết. Hắn chỉ chỉ tủ âm tường bằng gỗ: “Ở bên trong…”
Chu Sĩ Khiêm mở tủ ra. Bên trong đầy các loại chai lọ lộn xộn.
“Hộp sắt… Đúng, chính là cái đó.”
Đó là một chiếc hộp sắt dùng để đựng bánh quy. Chu Sĩ Khiêm đưa hộp cho Hà Tài Quan, hắn thổi bụi bám trên nắp rồi nói: “May mà tao gửi cái này trong tù chứ để ở nhà cũ thì mất từ lâu rồi. Thế nên, tao ngồi tù cũng là may mắn của mày.”
Hà Tài Quan mở hộp, lấy ra một tờ đăng kí kết hôn màu đỏ, không nhìn kĩ còn tưởng là tờ bìa gập đôi, bên ngoài có hình một con rồng và một con phượng hoàng.
“Mày cầm cái này đi tìm bà ta, cứ nói là tao bảo mày đi. Bà ta nhìn thấy cái này nhất định sẽ tin mày.”
Hà Tài Quan đưa giấy đăng kí kết hôn cho Chu Sĩ Khiêm. “Năm đó, bà ta chạy về nhà ngoại rồi lấy chồng khác… Con của mày do bà ta bế đi.”
“Nói vậy nghĩa là con tôi còn sống.”
“Chu Sĩ Khiêm, mày không biết năm đó tao hận mày đến mức nào đâu. Tao định bắt mày cũng phải nếm trải cảm giác con mình bị người khác hại chết. Hôm ấy, tao dùng kẹo que bắt cóc con gái mày, sau đó tao muốn để vợ tao chứng kiến tận mắt cảnh tao báo thù cho con trai.” Hơi thở của Hà Tài Quan ngày càng dồn dập: “Hôm đó, tao đặt con mày lên đường ray. Để bảo đảm thành công, tao đã cho nó uống thuốc ngủ từ trước. Kế hoạch của tao chính là làm giả thành tai nạn giao thông. Thế là tao vừa có thể báo thù vừa thoát được tội lỗi. Nhưng khi vợ tao nhìn thấy đứa bé trên đường ray, bà ta lại thay đổi ý định và bế nó đi.”
“Bây giờ, vợ ông ở đâu?”
“Hồi ấy, bà ta ở nhà mẹ đẻ, quen biết một người đàn ông. Gã đó là thợ sửa đáy nồi từ phía nam đến. Những năm đó, trong thôn hay có người như vậy đến, chuyên sửa đáy nồi đáy chậu bị hỏng, nói giọng địa phương phía nam nghe không hiểu. Tao đã đến thôn nhà bà ta hỏi thăm. Gã đó là người Giang Tây, sửa miễn phí cho nhà bà ta ba cái nồi, mấy cái bát và một cái vại to, thế là bà ta đi theo gã sửa nồi này. Mẹ vợ tao bảo một nghề cho chín còn hơn chín nghề, lại chỉ mặt tao nói gã hơn tao bao nhiêu lần. Từ đó, tao không còn nghe được tin tức gì của vợ tao cho đến khi tao gặp chuyện.”
Hà Tài Quan nói tiếp: “Bà ta tên thật là Vương Cúc Hoa, thường gọi là Lan Hoa. Mày đến thôn nhà bà tà, cứ hỏi Lan Hoa nhà ông Ba địa chủ. Rất nhiều người lấy tên này nhưng Lan Hoa nhà ông Ba địa chủ thì chỉ có một, không sai được.”
Chu Sĩ Khiêm nhìn tờ giấy đăng kí kết hôn từ mấy chục năm trước, tên của bên nữ là Vương Mai Hoa. Không đợi ông hỏi, Hà Tài Quan đã nói: “Lúc đăng kí, cán bộ hỏi tên gì, bà ta nói tên khai sinh là Cúc Hoa, tên thường gọi là Lan Hoa, nói đi nói lại mấy lần, lúc về nhà xem lại mới biết tên đăng kí viết thành Mai Hoa. Nhưng không sao, mày cứ đến thôn đó tìm Lan Hoa nhà ông Ba địa chủ là được.”
“Thôn đó là thôn nào?”
“Tào Trang. Chính là thôn ở phía nam nhà tao, mày biết mà.”
Năm đó, Chu Sĩ Khiêm làm cảnh sát hộ khẩu ở thị trấn mấy năm. Ông biết rất rõ thôn Tào Trang này.
Chu Sĩ Khiêm nhìn Hà Tài Quan, cảm thấy khuôn mặt này không còn quá đáng ghét nữa.
Hà Tài Quan cười: “Tao sắp chết rồi, chuyện này cũng đến lúc phải kết thúc. Mày cầm tờ giấy đăng kí kết hôn này đến Tào Trang hỏi thăm tung tích vợ tao, nhất định bà ta sẽ tin mày. Nếu bà ta hỏi mày vì sao tao không tự đi thì mày cứ ăn ngay nói thật, nhưng đừng nói là tao sắp chết.” Hà Tài Quan lấy bao thuốc trong túi quần, đổ hết thuốc ra ngoài rồi rút giấy bạc lót trong bao, lại lấy mẩu bút chì trong quần ra, viết số điện thoại, đưa cho Chu Sĩ Khiêm: “Đây là số điện thoại của tao. Mày tìm được người thì đưa cho bà ta số này. Trước khi chết, tao muốn nói chuyện với bà ta.”
Chu Sĩ Khiêm kẹp mảnh giấy bạc vào tờ đăng kí kết hôn rồi cất ở túi áo trong. Ông lại lấy mấy trăm đồng đặt trên giường. Hà Tài Quan không từ chối.