Năm Mươi Hai Câu Chuyện Dành Cho Phái Nữ

Lượt đọc: 67 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
By Robert Overton.

❊ ❊ ❊

Trước khi kể cho các bạn nghe câu chuyện cụ thể về chị của Smith (Stanislaus Yarrow mở lời), tôi muốn đưa ra vài nhận xét chung về các cô chị nói chung.

Chị em gái có hai loại — chị của mình và chị của người khác. Có những cậu con trai — đặc biệt là mấy đứa lớn tuổi — coi chị của mình còn tệ hơn cả chị của người khác.

("Phải đấy, phải đấy," Martin Abbott kêu lên, người bị nghi ngờ kịch liệt là đã đem lòng yêu bà cô chưa chồng của Tiến sĩ Audlem, dẫu bà cũng chẳng hơn bốn mươi tuổi là mấy).

Nhưng ý kiến chung của đám con trai là tất cả các bà chị — hay thực ra là tất cả con gái — đều vô tích sự và phiền phức.

("Chuẩn không cần chỉnh," một tá tiếng gọi đồng thanh hưởng ứng).

Bản thân tôi xưa kia cũng nghĩ vậy. Nhưng chính chị của Smith đã dạy cho tôi cái nhìn cao cả hơn về phái nữ. Tôi thừa nhận họ có những nhược điểm — mà họ đâu có muốn thế. Thỉnh thoảng tôi còn nghi ngờ không biết đám con trai chúng ta có hoàn hảo nổi không cơ mà. Tôi hoàn toàn thừa nhận rằng trong cách hành xử và điệu bộ của con gái nói chung có một vẻ ngớ ngẩn nhất định. Còn lâu tôi mới chối cãi chuyện họ cứ chít chít ét ét lên dù chẳng có lý do gì đáng để chít chít ét ét cả. Cũng chẳng ích gì khi phủ nhận chuyện họ sợ chuột. Ngay cả chị của Smith cũng rùng mình thấy rõ khi tôi đề nghị tặng con chuột khoang to nhất của mình cho cô ấy, để làm sở hữu riêng đời đời kiếp kiếp. Nhưng chúng ta nên rộng lượng và cố gắng bỏ qua những chuyện ấy, bởi vì, như tôi vừa nói đấy, họ nào có muốn thế đâu.

Điều mà tôi vẫn đinh ninh khăng khăng chính là con gái dẫu sao vẫn có một thứ cốt cách gan góc thực sự. Đây là cách tôi suy luận ra điều đó: Chị của Smith là một tay cừ khôi — chị của Smith là con gái — do đó, vì một đứa con gái có thể là một tay cừ khôi, thì những cô con gái khác, những bà chị khác, cũng có thể là những tay cừ khôi.

Bây giờ xin kể câu chuyện có thật của tôi. Để tách bạch hoàn cảnh diễn ra câu chuyện ra khỏi bản thân câu chuyện, trước hết tôi xin kể cho các bạn nghe về hoàn cảnh ấy.

Smith và tôi ở hai nhà liền kề nhau, và là những người bạn rất thân, đặc biệt là vào những khoảng thời gian nhất định. Cậu ấy là một chàng trai vô cùng hào phóng — sẵn sàng cho bạn bất cứ thứ gì mình có. Hồi cậu ấy bị ngã bệnh nằm liệt giường vào mùa hè năm ngoái, tôi đã lẻn vào phòng ngủ của cậu ấy qua đường hiên nhà để thăm nom, thế là cậu ấy truyền luôn bệnh sốt ban đỏ cho tôi. Cậu ấy là một chàng trai hào phóng đến mức chẳng bao giờ muốn giữ riêng cho mình thứ gì. Căn bệnh cứ ở lại với cả hai chúng tôi lâu nhất có thể, và để lại cho chúng tôi một cơ thể yếu ớt hơn rất nhiều so với trước. Nhận thấy cả hai đứa đều cần được thay đổi không khí thật lâu và thật triệt để, bố của Smith và bố tôi đã bàn bạc với nhau, và cuối cùng quyết định gửi chúng tôi đến Bắc Wales trong suốt thời gian còn lại của mùa hè và mùa thu. Ý định đó nhanh chóng được thực hiện.

Nói cho đúng nghĩa đen thì họ không hẳn là "gửi" chúng tôi đi, bởi vì họ đã cùng đi với chúng tôi. Thực ra, cả một toa xe lửa đông đúc nhà chúng tôi đã hộc tốc lăn bánh về hướng Tây Bắc từ ga Paddington — cụ thể là Smith, tôi, bố mẹ của Smith, bố mẹ tôi, vô số thùng các-tông, va-li, bưu kiện, và cả chị của Smith nữa. Tôi nhắc đến cô ấy sau cùng bởi vì vào thời điểm đó cô ấy đứng ở vị trí bét bảng trong sự đánh giá của tôi.

Chúng tôi đã có một chuyến đi tuyệt vời, đến một nhà ga nhỏ xinh xắn nằm khuất nẻo và biệt lập với thế giới bên ngoài, cái tên nhà ga toàn phụ âm và phát âm phải mất ba cú hắt xì, một tiếng ho cùng hai lần thở hổn hển. Từ nhà ga, chúng tôi còn phải đi một quãng đường dài mới đến được trang trại hẻo lánh nơi các ông bố đã thuê phòng.

Ở căn trang trại cổ kính tuyệt diệu này, chẳng mấy chốc chúng tôi — Smith và tôi — đã cảm thấy quen thuộc như ở nhà. Nó nằm trong một thung lũng đẹp tuyệt trần. Những ngọn đồi sừng sững mọc lên bao quanh tứ phía. Ngay trên đỉnh của một vài ngọn núi, tuyết phủ gần như quanh năm. Thung lũng, suối nhỏ, dòng nước và những ngọn thác cứ gọi là vô kể.

Sau hai tuần, hai người bố của chúng tôi phải quay về London, để lại đằng sau là các bà mẹ, chúng tôi, và chị của Smith.

Ôi, khoảng thời gian đó chúng tôi đã sống sung sướng làm sao! Smith vô tình bắn vào chân tôi bằng súng của bác nông dân — chính Smith lại suýt chết đuối ở hai dòng suối khác nhau, và có lần bị cuốn qua một ngọn thác, rồi đập người vào đá. Cả ba lần ấy, mặt cậu ta đều chuyển sang màu đen sì khi được vớt lên. Tôi ngã xuống một vực thẳm trên núi, và được cứu lên với sự khó khăn tột cùng. Một lần khác, bác nông dân nhà bên bắt quả tang chúng tôi đang đột nhập, và nện cho mỗi đứa một trận nhừ tử bằng gậy cho đến khi mỏi nhừ tay chẳng cầm nổi nữa thì thôi. Smith bị một con chó nghi là dại cắn phải, còn một con ngựa thì đá vào bụng tôi.

Mọi thứ ngập tràn niềm vui và sự phấn khích. A! Chẳng biết bao giờ chúng ta mới lại có được những khoảng thời gian như thế nữa đây? Chúng tôi còn dò hỏi xem liệu mình có may mắn mắc bệnh sốt ban đỏ lần thứ hai hay không.

Lúc bấy giờ, chị của Smith toàn ré lên trước những tai nạn của chúng tôi; cô ấy sợ hãi chẳng dám nhập bọn với chúng tôi trong bất kỳ cuộc phiêu lưu nào. Cô ấy trạc tuổi tôi, và chỉ kém Smith có một tuổi, nhưng lại nhát như cáy — hoặc tụi tôi nghĩ thế, vì trông cô ấy đúng là như vậy. Ban đầu chúng tôi cũng cố gắng động viên, lôi kéo cô ấy hòa nhập một chút; nhưng chẳng ích gì — đành phải mặc kệ cô ấy tự loay hoay một mình.

Smith thường bảo thế mỗi khi chúng tôi lên đường đi dạo: "Cậu ấy chẳng có đủ gan dạ để đi cùng chúng ta đâu — cứ để cậu ấy ở nhà mà chơi với lũ gà."

Các bạn phải hiểu rằng chúng tôi không hề ghét bỏ cô ấy — chúng tôi chỉ khinh thường cô ấy mà thôi. Tôi nghĩ sự khinh miệt còn tồi tệ hơn cả sự ghét bỏ — dẫu sao đi nữa, nó cũng khó chịu đựng hơn. Hết tuần này qua tuần khác trôi qua, cho đến tận khi cuối tháng Chín đang đến gần. Chỉ vài ngày nữa thôi là chúng tôi lại được về nhà.

Giờ đây, dẫu cho các ngọn đồi có cao đến đâu, vẫn có một ngọn sừng sững vượt trội hơn hẳn những ngọn khác. Ngay từ đầu, Smith và tôi đã được cảnh báo là không được bén mảng chinh phục vị vua của các loài núi này, ngọn núi có chiếc vương miện khi thì hiện rõ, khi lại ẩn khuất trong mây mù. C càng được cảnh báo là không nên làm, chúng tôi lại càng muốn làm cho bằng được. Thực tế là chúng tôi đã thử leo mấy lần, nhưng lần nào cũng bị cản trở. Một hay hai lần gì đó, ông Griffiths — người nông dân mà chúng tôi ở trọ — đã bắt gặp lúc chúng tôi vừa xuất phát và bắt quay đầu trở lại.

"Càng lên gần phía đỉnh ngọn núi ấy," ông nói trong lần cuối cùng, "có một nơi cực kỳ khó tiếp cận trừ khi đi bằng một lối duy nhất, người ta gọi đó là 'Tổ Đại Bàng'. Đã có nhiều mạng người bỏ lại nơi đó rồi. Ngọn đồi vô cùng nguy hiểm — các khe vực vừa dốc vừa sâu. Hãy tránh xa nó ra. Còn khối ngọn đồi khác để trèo mà lại chẳng nguy hiểm đến thế."

Lời nhắc đến Tổ Đại Bàng ấy là thứ vượt quá sức chịu đựng của chúng tôi. Chúng tôi thừa sức hình dung ra chính xác cái địa điểm mà ông ấy nhắc tới. Thử tưởng tượng được ở trên đó cùng bầy đại bàng ở gần bầu trời xem — thử tưởng tượng việc tìm tổ chim nằm giữa những đám mây xem!

Smith quả quyết nói: "Yarrow, chúng ta phải làm cho bằng được."

Tôi liều lĩnh hùa theo, trích dẫn từ một cuốn sách từng đọc: "Hoặc là bỏ mạng trong lúc mưu sự."

Tất nhiên điều chúng tôi muốn nói là trước khi chuyến đi kết thúc, chúng tôi phải leo lên ngọn đồi đó, ít nhất là lên đến Tổ Đại Bàng.

Việc sắp phải trở về London khiến chúng tôi chẳng còn thời gian để chần chừ nữa. Chúng tôi chỉ còn vỏn vẹn bốn ngày trọn vẹn.

Smith nói: "Chúng ta sẽ xuất phát ngay sau bữa trưa ngày mai."

Tôi đáp: "Nhất trí luôn."

Ngày hôm sau đã đến. Bữa trưa ở trang trại vẫn luôn kết thúc sớm sau một giờ, và đến hai giờ, sau khi đã lén lút trốn đi một cách êm thấm, chúng tôi bắt đầu hành trình leo sườn núi. Hơn một tiếng đồng hồ trôi qua, chúng tôi tiến những bước chậm chạp nhưng dễ dàng, cứ chốc chốc lại dừng chân nghỉ ngơi tầm một hai phút. Chắc là chúng tôi đã lên được một quãng đường đáng kể, thế nhưng cả đỉnh núi lẫn Tổ Đại Bàng đều chẳng có vẻ gì là gần hơn là bao. Chúng tôi cứ thế lầm lũi tiến lên và leo cao hơn, bước đi nhanh hơn và quyết tâm không nghỉ ngơi nữa. Chúng tôi nhận ra trời lạnh hơn rất nhiều, và liếc nhìn đầy lo âu về phía mặt trời đang khuất dần.

Chúng tôi gặp một người chăn cừu đang đi xuống, bèn chặn lại để hỏi dăm ba điều. Ông ấy bảo rằng có một lối đi dễ và một lối đi khó để đến được Tổ Đại Bàng. Lối dễ là đi theo lối mòn mòn dẫn lên đồi phía bên trái. Lối đó sẽ đưa chúng tôi vượt qua cái điểm ấy. Vẫn tiếp tục đi theo lối mòn uốn lượn sang phải, chúng tôi sẽ tìm thấy lối xuống tương đối dễ dàng để đến "tổ của loài đại bàng", trừ khi đi lạc đường và ngã lăn cù xuống một trong vô số các sườn dốc đứng.

Chúng tôi hỏi: "Thế còn lối khó là lối nào?"

Mỉm cười, ông chỉ thẳng lên sườn núi. Đi theo hướng đó thì chẳng xa mấy đâu — chỉ có điều hướng ấy sẽ đưa chúng tôi đi xa hơn mức cần thiết. Chúng tôi ngước nhìn ngọn núi hiểm trở không một bóng người — và hiểu ý ông muốn nói gì. Chúng tôi buộc phải chọn con đường an toàn hơn và dài hơn.

Smith lên tiếng: "Không phải chúng tôi sợ con đường kia đâu nhé."

Tôi phụ họa: "Dĩ nhiên rồi."

Người chăn cừu uổng công can ngăn chúng tôi đừng tiếp tục tiến lên trong ánh chiều tàn: ông vô ích khi cảnh báo chúng tôi về những mối nguy hiểm sẽ phải đối mặt. Chúng tôi cảm ơn ông, thoái thác bằng một cái cớ vớ vẩn nào đó rằng sẽ đi thêm "một chút" nữa, rồi kiên quyết quay người đi tiếp lên "lối mòn" mà ông vừa chỉ cho. Nó chẳng phải là kiểu đường mòn mà chúng tôi vẫn hay đi một chút nào.

Cứ tiến lên, tiến lên mãi — tôi chẳng biết mình đã đi được bao xa. Nhưng càng đi xa, chúng tôi càng trở nên lầm lì ít nói. Đứa nào cũng biết rằng đứa kia đang ngày càng cảm thấy bất an hơn sau mỗi bước chân. Đứa nào cũng biết rằng đối phương sẽ không đời nào chịu nhận mình là kẻ nhát gan đầu tiên.

Trời lạnh đến ghê rợn. Trời tối đến ghê rợn.

Smith nói: "Chẳng mấy chốc trăng sẽ mọc thôi."

Tôi đáp: "Ừ; đến lúc đó chúng ta sẽ ổn thôi. Cái gì thế này?"

Trời tối quá nên chẳng nhìn thấy gì, nhưng chúng tôi cảm nhận được nó trên mặt mình. Chúng tôi đưa tay sờ lên tay áo và cảm nhận thấy nó ở đó.

Tuyết!

Cả hai chúng tôi lúc đó đều chịu thua, và hèn nhát thừa nhận chẳng thèm che giấu nữa. Chúng tôi quay đầu đi xuống, tìm đường về nhà. Ban đầu chúng tôi còn cố tình không tin vào điều đó, nhưng chẳng mất bao lâu thì cả hai đều từ bỏ cái màn giả vờ ấy.

Cả hai cùng kêu lên: "Chúng ta lạc đường rồi!"

Đúng là tình cảnh của chúng tôi lúc bấy giờ đấy. Giữa đêm đen lạnh giá, giữa một cơn bão đang gầm rú kéo đến rất nhanh và những bông tuyết rơi dày đặc, chúng tôi đã lạc lối trên những ngọn núi hoang vu xứ Wales.

Chúng tôi lảo đảo bước đi. Suốt một khoảng thời gian dài — tôi chẳng biết là bao lâu, chỉ biết là rất dài — chúng tôi cứ thế lảo đảo mò mẫm. Đó là từ duy nhất tôi có thể dùng, bởi vì chẳng mấy chốc chúng tôi chẳng còn phân biệt nổi mình đang đi lên hay đi xuống, sang trái hay sang phải nữa. Chúng tôi tê cóng và hoang mang tột độ. Trời trên ấy lạnh quá, dẫu cho tháng Mười vẫn chưa chính thức bắt đầu, khiến chúng tôi mơ hồ nghĩ rằng nếu không tiếp tục di chuyển, chúng tôi sẽ bị đóng băng cứng ngắc và chịu chung số phận với nhiều nhà leo núi khác.

Các bạn phải nhớ rằng chúng tôi chẳng có gì để ăn, chẳng có gì để uống, và chỉ mặc mỗi quần áo mùa hè trên người. Chẳng đứa nào có đồng hồ, nên chúng tôi chỉ có thể đoán mò giờ giấc. Hy vọng của Smith rằng trăng sẽ sớm mọc đã không thành hiện thực, bởi vì vòm trời phía trên tối đen như mực chẳng khác nào phía dưới mặt đất.

Cuối cùng thì một chuyện khủng khiếp đã xảy ra. Chân chúng tôi trượt cùng một lúc, và ngay khoảnh khắc tiếp theo, cả hai đứa đang rơi tõm vào khoảng không. Cú trượt ngã xuống vực thẳm trước đó của tôi chẳng thấm tháp gì so với cú rơi kinh hoàng trong bóng tối ấy. Chỉ có một điều duy nhất cứu mạng chúng tôi. Trước khi va xuống đất, chúng tôi đã xoay sở làm giảm bớt lực rơi bằng cách túm lấy rễ và cành của mấy bụi cây thấp lè tè mà chúng tôi sờ thấy dù chẳng nhìn thấy gì. Nhờ thế mà chúng tôi trượt chậm hơn từ bấu víu này sang bấu víu khác, cho đến khi nện thẳng xuống mặt đất với một tiếng thịch nặng nề. Cảm giác lúc đó giống như mặt đất đang đập vào người chúng tôi thì đúng hơn.

Smith hét lên một tiếng đau đớn — rồi mọi thứ chìm vào tĩnh lặng.

Smith ngất lịm. Tôi khóc. Smith tỉnh lại và khóc. Tôi nín khóc, và đến lượt mình ngất xỉu. Chẳng gì bằng việc nói ra sự thật. Cả hai chúng tôi đều cầu nguyện. Tôi sẽ không kể cho các bạn nghe về chuyện đó đâu, bởi vì cầu nguyện là việc để làm, chứ không phải để đem ra bàn tán.

Chúng tôi không dịch chuyển đi đâu nữa cả. Cú ngã vừa rồi đã chứng minh rằng việc di chuyển là quá nguy hiểm. Tội nghiệp Smith tội nghiệp chẳng thể nhúc nhích nổi. Cậu ấy thậm chí không thể đứng dậy. Cậu ấy thử một lần rồi lại khuỵu xuống với một tiếng kêu oai oái. Cậu ấy đã bị trật cổ chân.

Xin hãy tưởng tượng trong giây lát rằng cuộc phiêu lưu này đang được diễn trên sân khấu, và hãy buông tấm màn nhung xuống. Giờ hãy tưởng tượng tấm màn được kéo lên một lần nữa.

Trong lúc đó, cơn bão đã tan. Gió thôi gầm rú, tuyết thôi rơi. Bầu trời bên trên chúng tôi không còn đen kịt nữa, chúng tôi có thể nhìn thấy một phần ngọn núi sụt xuống từ chân mình vào thung lũng sâu hoắm vô hình bên dưới. Chúng tôi có thể nhìn thấy đủ để nhận ra mình đang ở đâu. Chúng ta đang ở trong Tổ Đại Bàng. Khát vọng của chúng tôi đã thành hiện thực — nhưng theo một cách thức thật trớ trêu làm sao! Chúng tôi đến được nơi này chẳng phải bằng lối mòn cũng chẳng phải bằng con đường dốc đá gập ghềnh — chúng tôi lăn từ trên đỉnh xuống; chúng tôi bay xuyên qua không trung cùng những bông tuyết.

Những bông tuyết xinh đẹp! Smith thì tàn phế không thể cứu vãn, còn tôi — bông tuyết còn lại — đơn giản là một khối sống bầm dập và trầy xước. Chúng tôi phải trải qua phần đêm lạnh lẽo còn lại bị treo lơ lửng trên độ cao đến đến chóng mặt này. Chúng tôi buộc phải đợi cho đến sáng — nếu như vẫn còn sống sót qua đêm nay.

Cái gì đằng kia thế — ở phía tít tắp đằng kia kìa?

Một ánh đèn! Rất nhiều ánh đèn. Chúng đang di chuyển — đang tiến lên. Chúng đã đến chỗ chúng ta gặp người chăn cừu — người đã chỉ cho chúng tôi hai lối đi.

Họ đã dừng lại. Lắng nghe! Âm thanh gì thế kia?

Một tiếng hô — một tiếng gọi — vang to và kéo dài, tựa như rất nhiều người đang cùng gọi.

Hoan hô! Chúng ta được cứu rồi. Bác nông dân đã cử một đội cứu hộ đến để tìm và cứu chúng tôi. Hoan hô!

Dồn hết sức lực — tất cả những gì còn lại — tôi đáp lại tiếng gọi. Smith cũng hùa theo tôi hết sức có thể. Một lần, hai lần, ba lần chúng tôi cùng hô lên. Chúng tôi bắt được tiếng vọng từ xa báo hiệu rằng tiếng kêu của mình đã được lắng nghe.

Trong một phút, những ngọn đèn đứng yên tại chỗ. Sau đó — khi những người cầm đèn phát ra một tiếng hô lớn khác như muốn báo cho chúng tôi biết rằng họ đã định vị được vị trí và đang tới — chúng tôi nhìn thấy những chiếc đèn lồng lóe sáng tiến lên theo lối mòn dẫn qua đầu chúng tôi, rồi vòng tới Tổ Đại Bàng. Ông Griffiths, người am hiểu tường tận mấy ngọn đồi này chẳng khác gì đất đai trong nông trại của nhà mình, đã chỉ cho họ biết chúng tôi đang ở đâu dựa vào hướng phát ra những tiếng kêu cứu hoảng loạn của chúng tôi.

Thế nên hãy phấn đẩu lên nào, Smith — họ đang đến kìa.

Nhưng sao họ đến lâu thế — mà chúng tôi thì vừa lạnh vừa tê cóng cả người. Smith lại sắp ngất xỉu rồi. Tôi e rằng mình cũng vậy — các bạn phải nhớ là tôi đã bị tơi tả hết cả người. Sẽ còn lâu lắm cứu viện mới tới nơi đây.

Thế sao? Thế thì cái ánh đèn đơn độc đang dò dẫm bò lên vách đá lởm chởm bên dưới chúng ta là gì? Ai đang đến với chúng ta theo lối "khó", đi thẳng lên sườn núi hiểm trở vậy? Chắc chắn là Griffiths rồi — ông ấy đang bò qua những khối đá gồ ghề — ông ấy đang bấu chặt lấy rễ cây và cành lá, vung người vượt qua các khe vực. Người chăn cừu đã bảo là không làm nổi cơ mà — thế mà Griffiths đang làm đấy thôi. Tay ông ấy chắc là rách bươm hết cả rồi!

Chắc là tôi chưa đến nỗi ngất hẳn, bởi vì tôi thấy ngọn đèn lồng của Griffiths đang đến ngày một gần hơn.

Nghe này! Tôi có thể nghe thấy tiếng ông ấy — chỉ có điều giọng nghe yếu ớt quá. Đó là vì bản thân tôi bây giờ cũng đang quá yếu, dù tôi vẫn cố gắng gọi giật lại để Griffiths biết chính xác chúng tôi đang ở đâu....

Griffiths đã đến nơi rồi. Griffiths đang chăm sóc cho lão Smith tội nghiệp. Giờ thì ông ấy vòng tay ôm lấy người tôi. Griffiths đang đổ một thứ nước ấm vào cổ họng tôi, thứ nước kéo sự sống quay trở lại trong cơ thể. Tôi có thể cảm nhận thấy tim mình đang đập trở lại. Tôi đỡ hơn rồi. Tôi sẽ bắt tay Griffiths cho mà xem. Chắc chắn chốc nữa tôi sẽ làm thế. Nhưng đây lại là bàn tay của Chị Smith!

Sự gượng gạo của phong cách kịch nghệ này, và của thì hiện tại này, là quá sức chịu đựng đối với tôi rồi, thế nên tôi hy vọng các bạn đã hiểu rõ chuyện gì đã xảy ra. Chỉ vài lời để tóm lại thôi.

Khi đội cứu hộ do ông Griffiths thành lập — ngay sau khi rõ mười mươi là Smith và tôi đã bị lạc — xuất phát, chị của Smith đã đi theo họ. Griffiths lệnh cho cô ấy quay về. Cô ấy quay về, chộp lấy một chiếc đèn lồng và một bình tông cho riêng mình (nhân lúc nhóm người chia nhau ra — quả là một cô gái chu đáo làm sao!), rồi bám theo và nhập lại vào đoàn. Khi họ dừng lại và hô hào để tìm xem chúng tôi ở chỗ quái nào, ông lại ra lệnh cho cô ấy quay về lần nữa, nhưng lúc đó cô ấy đã kịp nghe thấy cuộc hội ý vội vã dẫn đến quyết định chọn con đường an toàn hơn để tiếp cận chúng tôi. Cô ấy đã nghe về "hai lối đi", và cô ấy dám chọn cái lối mà ai nấy đều sợ hãi. Việc leo lên vách núi đã được đề xuất, nhưng chỉ có mỗi chị của Smith là có gan làm chuyện đó. Đây là đứa con gái mà chúng tôi từng khinh miệt và chế giễu. Đây là đứa con gái mà chúng tôi từng bảo hãy cứ ở nhà mà chơi với lũ gà!

Khoảng một tiếng đồng hồ sau khi cô ấy đến chỗ chúng tôi cùng "sự trợ giúp đầu tiên" có lẽ đã cứu mạng chúng tôi, chúng tôi nhìn thấy ánh đèn của nhóm Griffiths trên đỉnh đồi phía trên. Chúng tôi cùng hô vang đáp lời, và họ lập tức thả một sợi dây xuống, kéo chúng tôi lên. Từ lâu trước đó, chị của Smith đã băng bó cái cổ chân bị thương của cậu ấy một cách gọn gàng và nhẹ nhàng bằng chính chiếc khăn tay của cô ấy và khăn tay của chúng tôi.

Các bạn phải chứng kiến nét mặt của bác nông dân — và quả thực là cả nét mặt của tất cả những người khác nữa — khi họ nhận thức được cách thức mà cô bé đã lên được tới chỗ chúng tôi.

Cô ấy cứ chối đây đẩy rằng mình chẳng biết bản thân đang làm gì — rằng những gì làm được trong bóng tối thì ban ngày cô ấy chẳng thể nào làm nổi. Tất cả những gì tôi quan tâm chỉ là sự thật rằng cô ấy đã thực hiện đúng những gì tôi vừa kể với các bạn.

Nhắc lại cái luận điểm mà tôi đã đưa ra ngay lúc bắt đầu — về việc con gái rốt cuộc vẫn có một cốt cách gan góc thực sự — các bạn sẽ hiểu ý tôi là gì khi tôi kết thúc câu chuyện của mình bằng câu nói quen thuộc, Q. E. D.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.