Ở Trung Quốc, các tác phẩm miêu tả đời sống lầu xanh rất nhiều, có tác phẩm viết bằng tinh thần nhân đạo, có tác phẩm thưởng thức với thái độ săn lùng sự lạ. Việc có thể điềm tĩnh đối diện với thế giới lầu xanh, đặt nó vào hệ thống lớn của toàn bộ văn hóa Trung Quốc để quan sát thì lại rất ít. Kỳ thực, "đạo ở chỗ nào, mỗi lúc càng xuống thấp", một chốn xã hội "hạ cửu lưu" như lầu xanh, lại chính là nơi hội tụ đủ mọi mặt muôn màu muôn vẻ của văn hóa xã hội. Nghiên cứu văn hóa Trung Quốc mà mưu toan né tránh lầu xanh, thì chắc chắn có rất nhiều vấn đề sẽ không thể bàn luận rõ ràng.
Hai chữ lầu xanh, nghĩa ban đầu là "lầu tô điểm bằng sơn xanh". Ban đầu nó không chỉ kỹ viện, mà là những ngôi nhà tương đối hoa lệ nói chung, đôi khi dùng làm từ thay thế cho các bậc hào môn cao cửa. "Thái Bình Hiển Lãm", "Tấn Thư" và rất nhiều thơ văn đời Ngụy Tấn Nam Bắc Triều đều sử dụng "lầu xanh" theo nghĩa này. Nhưng do "nhà cửa hoa lệ" có liên quan đến đời sống diêm dúa xa hoa, trong lúc vô tri vô giác, ý nghĩa của lầu xanh đã xảy ra sự lệch lạc, bắt đầu gắn liền với kỹ nữ. Sau đời Đường, ý nghĩa lệch lạc ấy lấn át, lầu xanh trở thành từ chuyên chỉ chốn hoa lệ phong lưu, so với các từ như Bình Khang, Bắc Lý, Hành Viện, Chương Đài... thì cũng chỉ nhiều hơn một chút cảm giác hình ảnh, nhiều hơn một chút hơi hướng phong nhã mà thôi.
Tại sao lại có sự xuất hiện của thứ như lầu xanh? Nói cho cùng, đây là sản phẩm của thế giới đàn ông. Từ khi loài người bước vào xã hội phụ quyền, phụ nữ bị đàn ông thống trị và đùa cợt đã trở thành sự thật không thể tránh khỏi. Về nguồn gốc của kỹ nữ, xưa nay trong ngoài nước có đủ loại quan điểm khác nhau. Ví dụ có một thuyết tôn giáo cho rằng kỹ nữ vốn là nữ tư tế trong đền thần, giống như nữ vu thời Ân Thương. Thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, nhà sử học Hy Lạp Herodotus từng ghi chép về những người kỹ nữ trong thần điện Babylon gọi là làm tròn phận sự vì nữ thần, nhưng thực tế là để cho đàn ông hưởng lạc. Còn ở Trung Quốc, tình hình lại khá phức tạp. Ý nghĩa ban đầu của từ "sướng kỹ" không phải chỉ những người phụ nữ dùng thể xác đổi lấy tiền bạc, mà chỉ "nữ nhạc", tức là những người biểu diễn ca múa là nữ giới. Sách sử ghi chép, kỹ nữ sớm nhất ở Trung Quốc phải kể đến Hồng Nhai Kỹ thời Tam Hoàng. Tương truyền Hạ Kiệt nuôi dưỡng nữ nhạc lên đến 3 vạn người. Bắt đầu từ "cung kỹ" của bậc thống trị tối cao, các tầng thống trị đều sở hữu gia kỹ với đủ mọi tên gọi, như thị cơ, tiểu thiếp, thanh kỹ, ca kỹ, vũ kỹ, mỹ nhân... Mà dân thường thì dựa vào "vu kỹ" để thỏa mãn dục vọng chiếm hữu từ hai người phụ nữ trở lên. Sự hợp lưu của gia kỹ và vu kỹ, liền xuất hiện quan kỹ, tức là kỹ nghiệp do chính phủ đứng ra tổ chức.
Người phát minh ra quan kỹ sớm nhất là Quản Trọng, tể tướng nước Tề thời Xuân Thu. Ông thiết lập kỹ viện nhà nước sở hữu 700 kỹ nữ. Cờ ngoài bài trong, nhà cải cách chính trị Solon ở Athens, Hy Lạp cổ đại có thời gian xấp xỉ Quản Trọng, cũng mở kỹ viện nhà nước, mục đích thứ nhất là thỏa mãn yêu cầu của nam giới trẻ tuổi, thứ hai là bảo vệ phụ nữ con nhà lành không bị quấy rối. Mà tác dụng kỹ viện của Quản Trọng còn lớn hơn. Một là tăng thu ngân sách chính phủ thông qua thuế khóa, hai là có lợi cho an ổn xã hội, ba là thu hút lượng lớn nhân tài, bốn là tặng kỹ nữ cho địch, đánh giặc không tốn một mũi tên. Phát minh của Quản Trọng nhanh chóng được các nước khác mô phỏng, nhất thời quan kỹ đại thịnh.
Trong quan kỹ có một loại chuyên phục vụ cho quân đội, gọi là "doanh kỹ", người phát minh ra đầu tiên là Việt Vương Câu Tiễn, mà chính thức trở thành chế độ thì ở đời Hán. Sau đời Hán, gia kỹ hưng thịnh lên, đến Nam Bắc triều thì đạt đỉnh cao. Địa vị của gia kỹ nằm giữa thiếp và tì. Thiếp là để thỏa mãn nhu cầu thể xác cho chủ nhân, tì là để dâng trà quét dọn, trải giường xếp chăn, còn tác dụng của gia kỹ là cung cấp dịch vụ nghệ thuật cho chủ nhân. Gia kỹ phổ biến đều chịu sự huấn luyện nghệ thuật nghiêm ngặt, thực tế đại diện cho trình độ nghệ thuật cao nhất lúc bấy giờ. Ca múa nhạc của Trung Quốc không những do các nàng phát dương quang đại, mà cũng do các nàng truyền lưu lại. Nhưng dù là quan kỹ hay gia kỹ, đều không có tự do thân thể, chủ nhân đối với họ có thể tùy ý mua bán và giết hại.
Cùng với sự phát triển của thương nghiệp, sự phồn vinh của đô thị, ngoài quan kỹ, gia kỹ ra, đã xuất hiện tư kỹ kinh doanh cá thể, đây mới là kỹ nữ lầu xanh theo ý nghĩa thực sự. Tư kỹ đã xuất hiện từ thời Tiên Tần, đến thời Lục triều thì bắt đầu hoạt động sôi nổi, đến đời Đường thì tiến tới hưng thịnh, vẫn duy trì mãi đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh, trở thành một kỳ quan lớn trong xã hội Trung Quốc cổ đại.
Tư kỹ có thể chia làm hai loại. Một loại là chính thức đăng ký khai báo với chính phủ, trực thuộc giáo phường, gọi là "thị kỹ". Loại thứ hai là hộ "kinh doanh không có giấy phép", là "tư kỹ" đúng nghĩa đen. Tu dưỡng nghệ thuật của tư kỹ không bằng quan kỹ và gia kỹ, mặt xã hội các nàng tiếp xúc tương đối rộng, cấu thành văn hóa cũng phức tạp hơn. Tất cả những điều này, đều khiến cho văn hóa lầu xanh tràn ngập màu sắc biến hóa muôn màu.
Lầu xanh trong tâm trí con người ngày nay, phần lớn là lầu xanh đã được thi vị hóa. Tác phẩm văn học về lầu xanh được thi vị hóa hầu như song hành cùng lầu xanh, chung số phận với nó. Không có lầu xanh, văn học Trung Quốc e là sẽ kém sắc đi một nửa, mà không có văn học, thì lầu xanh chỉ là một chốn giao dịch thể xác đơn thuần. Phong khí thời Kinh Thi cởi mở, là thời đại hoàng kim của nam nữ yêu đương. Thời Sở Từ vu sướng thịnh hành, cũng không có tác phẩm trực tiếp ca tụng kỹ nữ. Sau Tần Hán, các tác phẩm vịnh kỹ bắt đầu xuất hiện, nhưng kỹ nữ từ khi bước vào văn học, thứ được coi trọng là "nghệ" chứ không phải "sắc". Trong "Cổ thi thập cửu thủ" đã xuất hiện những bài thơ trọn vẹn ca tụng kỹ nữ, đến thời Lục triều, các tác phẩm "nghe kỹ", "xem kỹ" nhiều lên. Đến đời Đường lại càng phồn thịnh hơn. Trong gần 5 vạn bài thơ của "Toàn Đường Thi", số bài liên quan đến kỹ nữ lên tới hơn 2000 bài, chiếm khoảng 1/20. Từ sơ Đường đến thịnh Đường, kỹ nữ lầu xanh trong văn học phần lớn ở vào vị trí chịu sự quan chiếu thẩm mỹ, có thể lấy thơ của Lý Bạch làm đại biểu. Từ trung Đường trở đi, ngoài "xem kỹ", "dắt kỹ" ra, đã xuất hiện một loạt tác phẩm "tiễn kỹ", "nhớ kỹ", "tặng kỹ", "biếu kỹ", "thương kỹ", "điếu kỹ", trong lầu xanh đã được thi vị hóa được tô điểm thêm màu sắc cảm thương, trong đó các sáng tác của Bạch Cư Dị khá mang tính đại biểu. Đến sau vãn Đường, lầu xanh trong thơ văn có thêm chút hơi thở cuộc sống, các tác phẩm diêm dúa phù phiếm cũng không ít, ví dụ như "Du tiên quật" của Trương Xưởng. Đến đời Tống, mối quan hệ giữa từ đời Tống và lầu xanh còn mật thiết hơn mối quan hệ giữa thơ Đường và lầu xanh. So với thơ, từ đã viết ra tình cảm tâm lý vi tế khúc chiết của kỹ nữ và khách làng chơi một cách chân thực hơn, tỉ mỉ hơn. Đến đời Nguyên, địa vị của văn nhân không chênh lệch là mấy so với kỹ nữ, cho nên các tác phẩm thi vị hóa lầu xanh thể hiện ra hai khuynh hướng: Một là viết lầu xanh thành chốn dâm dật phóng đãng, mượn để an ủi hoặc trút xả tâm trạng bất bình của mình; hai là phản ánh mặt tối của lầu xanh, viết về sự bất hạnh và phản kháng của kỹ nữ, từ đó gửi gắm hoài bão nhân sinh của chính mình, ví dụ như một số tác phẩm của Quan Hán Khanh. Đến đời Minh, trong lầu xanh xuất hiện rất nhiều cảnh tượng xẤu xa, hơi thở của kinh tế hàng hóa đã ùa vào lầu xanh, xuất hiện những hình tượng bại loại như trong "Kim Bình Mai". Đến đời Thanh, xuất hiện một lượng lớn bút ký và tiểu thuyết hiếu sắc, lầu xanh được bàn tán, trêu chọc như chuyện cơm bữa. Cùng với sự suy tàn của lầu xanh, nghệ thuật lầu xanh tựa giấc chiêm bao cũng suy vong theo.
Phong cảnh lầu xanh trên thực tế, loại có ghi chép chi tiết có thể tính từ đời Đường. "Khu đèn đỏ" nổi tiếng nhất kinh đô Trường An thời nhà Đường, nằm ở "Bình Khang Lý", vì gần cửa Bắc, nên cũng gọi tắt là "Bắc Lý", đời sau nhân đó mà lấy Bình Khang, Bắc Lý làm từ thay thế cho lầu xanh. So với Trường An, phong cảnh lầu xanh Dương Châu còn yểu điệu đa tình hơn, Đỗ Mục và rất nhiều thi nhân từng làm thơ ca tụng. Quy mô lầu xanh lúc bấy giờ phần lớn đều không lớn, đa số là một tú bà dẫn theo hai kỹ nữ và nha hoàn là được. Đến đời Tống, quy mô lầu xanh được mở rộng. "Đông Kinh Mộng Hoa Lục" của Mạnh Nguyên Lão ghi chép các khu giải trí trong thành Biện Lương – Ngõa tử, tổng cộng có 8 cái. "Vũ Lâm Cựu Sự" của Châu Mật ghi chép trong thành Lâm An đạt tới 33 cái. Thiết bị của lầu xanh cũng bắt đầu đua nhau xa hoa. Lữ hành gia người Ý Marco Polo cũng từng ghi chép phong cảnh lầu xanh Hàng Châu lúc bấy giờ. Kỹ viện ở Nam Kinh thời nhà Minh có "Thập lục lâu" nổi tiếng, trên sông Tần Hoài tiếng chèo ánh đèn, gấm vóc huy hoàng. Lâm Thanh ở Sơn Đông theo như "Kim Bình Mai" nói, có "ba mươi sáu ngõ hoa liễu, bảy mươi hai lầu quản sênh". Việc làm ăn của lầu xanh Đại Đồng ở Sơn Tây khi không khấm khát, số người đăng ký vẫn còn tới 2000 người. Phong cảnh lầu xanh đến đời Minh thì đã có không ít cảnh tượng không đẹp, không nhã rồi. Đã xuất hiện không ít "tư sào tử", "diêu tử" là chốn giao dịch thể xác trần trụi. Đến đời Thanh, lầu xanh đã trở thành thiên hạ của tư kỹ hoàn toàn, các kỹ nữ không còn nỗ lực nâng cao tu dưỡng nghệ thuật của mình nữa, khách làng chơi cũng hoàn toàn không hiểu phong tình thực sự. "Bát đại hòng đồng" của thủ đô Bắc Kinh, đại diện cho lầu xanh truyền thống ngày một suy tàn. Còn Thượng Hải và Quảng Châu ở phương Nam, thì bắt đầu xuất hiện hiện tượng lầu xanh kiểu phương Tây hoặc lai Tây - Trung.
Lầu xanh cổ đại Trung Quốc, sức hấp dẫn của nó là ở nhiều phương diện. Tầng lớp cơ bản nhất đương nhiên là nhu cầu tình dục, nhưng "tình dục" ở đây là nghĩa rộng, không nhất thiết phải làm "chuyện ấy" một lần với kỹ nữ. Dù có hiểu từ phương diện hẹp đi nữa, "tình dục" của lầu xanh cũng có điểm hấp dẫn biệt lập. Nó khiến con người thể nghiệm được sự xa lạ, cảm giác tự do, cảm giác tội lỗi và "trải nghiệm cao trào". Cao hơn một tầng so với nhu cầu tình dục, là nhu cầu về sắc đẹp. Sắc là một khái niệm mỹ học tùy người cảm nhận, phụ nữ lầu xanh vừa khéo có thể thỏa mãn những nhu cầu khác nhau về sắc đẹp của tam giáo cửu lưu trong xã hội. Trước đây đánh giá một người có hiểu phụ nữ hay không, không nhìn vào "kiến thức tình dục" của anh ta, mà nhìn vào "kiến thức về sắc" của anh ta. Đây là điều cần có học thức và tu dưỡng rất thâm sâu. Cao hơn tình dục và sắc đẹp một tầng nữa, chính là sức hấp dẫn của nghệ thuật. Kỹ nữ đều phải biết ca múa tấu nhạc, cầm kỳ thi họa. Nếu nói thơ văn thư họa của Trung Quốc là do trí thức nam giới truyền đời qua các thế hệ, thì ca múa nhạc của Trung Quốc lại do các thế hệ phụ nữ lầu xanh truyền lại.
Phương thức phục vụ cụ thể của lầu xanh, chẳng qua chỉ có hai loại là gọi đến nhà và ngồi đợi. Loại gọi đến nhà cần "gọi điều tử", hoặc gọi là "gọi cục". Loại ngồi đợi thì quy củ khá nhiều, ví dụ như mới bước chân vào lầu xanh phải "gọi trà hoa", sau đời Thanh gọi là "đánh tiệc trà". Quan kỹ thuộc về tài sản của chính phủ, không thể tùy ý điều động theo quan lại. Quy củ của lầu xanh theo sự thay đổi của thời đại mà tự có sự diễn hóa biến dị, nhưng đại khái đều phải trải qua một quá trình "tuân theo tuần tự", việc này không chỉ để tô điểm bầu không khí, bồi dưỡng tình cảm, khơi gợi ham muốn tình dục, không chỉ để kiếm nhiều tiền hơn, trong đó còn ẩn chứa một phần sự coi trọng đối với nhân phẩm, giá trị con người, dùng hết sức hành động dịu dàng phong nhã để che lấp đi mùi tanh đồng tiền, khiến cho giao dịch mang theo màu sắc nghệ thuật. Rất nhiều quy củ của lầu xanh được truyền lưu ra xã hội, ảnh hưởng đến các ngành nghề khác.
Nhưng lầu xanh suy cho cùng là chốn kinh doanh, thì ắt sẽ có mặt bản chất tiền bạc của nó. Tú bà, rùa nô thường xuyên sử dụng các thủ đoạn uy hiếp lợi dụ, dốc sức vơ vét tiền tài của khách làng chơi. Tú bà trong các tác phẩm văn học chưa từng có hình ảnh chính diện nào, nhiều nhất cũng chỉ là nhân vật trung gian. Lầu xanh ngoài mặt thì lừa gạt khách làng chơi, trong nhà lại chèn ép và lăng nhục kỹ nữ. Tú bà thường là kỹ nữ trước kia, phần lớn đối với kỹ nữ khá hung ác. Rùa nô không những vớt vát vơ vét trên người kỹ nữ, mà còn tiến hành quấy rối tình dục bất cứ lúc nào. Ngoài ra, lầu xanh thường còn chịu sự khống chế của thế lực ác bá địa phương và xã hội đen, mượn danh nghĩa là "bảo vệ", thực chất là chia chác lợi nhuận, những băng nhóm lớn đều khống chế một số lượng tương đối các chốn ăn chơi như lầu xanh, có một số lầu xanh chính là do xã hội đen tự mở. Do những góc tối này, lầu xanh có mối lương duyên không thể cắt đứt với rất nhiều hoạt động phạm tội. Giết người cướp của, hút chích buôn lậu, đều có thể lấy lầu xanh làm chốn ẩn thân, nơi liên lạc. Mạch đập ở tầng đáy cùng của cuộc sống, đang đập một cách sống động ở nơi lầu xanh đó.
Mặc dù lầu xanh ẩn giấu đủ mọi đau khổ và tội ác, nhưng các khách làng chơi vẫn cứ nườm nượp kéo đến. Ngoài nhục dục và thanh sắc ra, họ còn hy vọng tìm được chân tình ở đây, thậm chí tìm được tình yêu. Tác phẩm văn học miêu tả không ít tình yêu lầu xanh không rời không bỏ, như "Hoắc Tiểu Ngọc truyện" của Tưởng Phòng, còn có "Mại du lang độc chiễm hoa khôi" trong "Tỉnh Thế Hằng Ngôn". Loại tình cảm này ở nhà thường là không tìm được. Gia đình cổ đại Trung Quốc, thê thiếp đều là nô lệ của đàn ông, giữa nam nữ không bình đẳng, rất khó sinh ra chân tình. Mà lầu xanh lại vừa hay bù đắp cho chức năng tình cảm mà gia đình thiếu hụt. Trong lầu xanh, cả nam và nữ đều không gánh vác trách nhiệm luân lý đạo đức, không có nỗi lo về môn đăng hộ đối, không chịu sự trói buộc của tiết hạnh thủ tiết, tuy có yếu tố tiền bạc khiến người ta phản cảm, nhưng so với quan hệ phục tùng kiểu chủ tớ trong gia đình, thì rốt cuộc vẫn khiến người ta cảm thấy tự do hơn, bình đẳng hơn, có thể phát huy và thể hiện tốt hơn sức hấp dẫn và giá trị của bản thân cá nhân. Cho nên sự tồn tại của lầu xanh, không những không phá hoại gia đình, trái lại còn thúc đẩy lớn lao cho gia đình duy trì sự ổn định, thúc đẩy xã hội duy trì sự ổn định. Lầu xanh và gia đình, không những không xâm phạm lẫn nhau, mà còn vừa khéo khớp nối thành một hệ thống văn hóa tính dục hoàn chỉnh, đảm bảo cho xã hội Trung Quốc cổ đại phát triển vững chắc lâu dài. Mặc dù đa số các triều đại đều từng có lệnh cấm kỹ, biện pháp cấm lầu xanh, nhưng ngành kỹ nghiệp lầu xanh vẫn "lửa đồng thiêu chẳng hết, gió xuân thổi lại sinh", then chốt nằm ở chỗ lầu xanh là một tiểu hệ thống không thể thiếu trong xã hội đó. Có khách làng chơi bao nuôi kỹ nữ lâu dài, có người còn cưới kỹ nữ về nhà làm vợ. Nhưng kỹ nữ sau khi trở thành thê thiếp, áp lực tâm lý lớn, cảm giác cũng dễ bị lệch lạc, thường phải chịu đựng sự gian khổ lớn hơn so với phụ nữ bình thường. Mô hình được người ca ngợi về phương diện này là chuyện kỹ nữ nổi tiếng Đổng Tiểu Uyển đời Minh gả cho Mạo Tích Cương, đây là một điển hình của "tình yêu sĩ kỹ".
Kỹ nữ lầu xanh ngay từ đầu, đã xuất hiện với thân phận của người làm nghệ thuật, đối tượng phục vụ chính của họ là "sĩ", lực lượng cơ bản và nguồn nhân tài của giai cấp thống trị. Sĩ nhân thường có thực lực kinh tế từ trung bình trở lên, nhưng kỹ nữ thích qua lại với sĩ nhân, không phải vì coi trọng thực lực kinh tế của họ, mà là vì sĩ nhân so với những người ở các tầng lớp khác thì phong lưu phóng khoáng hơn, không chỉ có thể thưởng thức sắc và nghệ của kỹ nữ một cách rất am tường, mà sắc và nghệ của chính họ ngược lại cũng khiến cho kỹ nữ sinh ra niềm vui thẩm mỹ. Đây chính là đạo lý từ xưa đến nay tài tử phải đi cùng giai nhân. Ngoài ra, việc qua lại với sĩ nhân đã nâng cao thân phận của bản thân, làm suy yếu cảm giác tự ti, việc làm thơ xướng họa của sĩ nhân, lại có thể trở thành quảng cáo cho chính mình. Nhìn từ phía sĩ nhân, thơ ca có thể được kỹ nữ truyền xướng, tự nhiên cũng tiếng tăm vang dội. Có thể thấy, sĩ và kỹ là hỗ tương cần nhau, hỗ tương thưởng thức, hỗ tương ỷ lại. Ngoài mục đích công lợi ra, giữa sĩ và kỹ còn có thể sinh ra tình bạn và tình yêu chân chính, thấu hiểu lẫn nhau, đồng cảm lẫn nhau, tôn trọng lẫn nhau, tìm thấy sự an ủi của cuộc đời ở đối phương. Sĩ và kỹ, có thể gọi là một cặp song ngọc trong văn hóa truyền thống Trung Quốc, họ cùng nhau sáng tạo ra nghệ thuật văn học cổ điển Trung Quốc rực rỡ, để lại vô số câu chuyện đẹp đẽ cảm động. Thời đại mà mối quan hệ giữa sĩ và kỹ khắng khít nhất, cũng chính là thời đại dân tộc Trung Hoa cường thịnh nhất, phồn vinh nhất. Kỹ nữ nổi tiếng thời Đường là Tiết Thảo và Ngư Huyền Cơ, đồng thời đều là thi nhân nổi tiếng, những người họ qua lại đều là sĩ nhân hạng nhất lúc bấy giờ. Tống Huy Tông Triệu Cát khi đến chơi kỹ viện của kỹ nữ nổi tiếng Lý Sư Sư, là mang theo thân phận của một sĩ nhân phong lưu, nhưng vẫn thua đại từ nhân Chu Bang Ngạn. Những kỹ nữ lưu danh sử sách đều không dựa vào nhan sắc đơn thuần, mà dựa vào tài hoa nghệ thuật và việc qua lại với các sĩ nhân quan trọng, ví dụ như Đổng Tiểu Uyển, Liễu Như Thị, Lý Hương Quân cuối thời Minh, không những thiết lập được tình yêu kiên trinh với sĩ nhân mình ái mộ, mà còn có thể biểu hiện ra tiết tháo đạo mạo kiên cường vào thời điểm dân tộc lâm nguy. Đây ắt phải là điểm sáng chói lọi nhất của văn hóa lầu xanh.
Kỹ nữ lầu xanh cổ đại Trung Quốc vì tài trí siêu quần và thú vị nghệ thuật của mình mà có được thể nghiệm nhân sinh sâu sắc hơn và hưởng thụ tinh thần cao hơn so với phụ nữ bình thường, đồng thời cũng có được sự tôn trọng thậm chí ca tụng của dư luận xã hội. Điều này hoàn toàn khác với tình hình của kỹ nữ ngày nay. Tuy nhiên, chốn về của kỹ nữ phần lớn lại không lý tưởng. Thông thường là hoàn lương, vào cung, đi tu, làm tú bà, hoặc đổi nghề, thủ tiết v.v. Hoàn lương có rất nhiều trở ngại, một là tú bà không cho đi, hai là rất khó tìm được người đàn ông mình thực sự yêu thích, ba là sau khi hoàn lương không thích ứng hoặc không chịu nổi, rất nhiều kỹ nữ sau khi hoàn lương lại tái diễn vòng lặp cũ. Nói cho cùng, lầu xanh là một chốn mà tình dục và tình yêu tách rời, bản chất này khiến cho phần lớn kỹ nữ không thể có được một cái kết viên mãn. Bi kịch lớn nhất của lầu xanh còn nằm ở chỗ, kỹ nữ ngay từ đầu đã bị tước đoạt đi tôn nghiêm làm người, bị bài xích ra ngoài khái niệm con người bình thường, điều này quyết định "giấc mơ làm người" của kỹ nữ nói chung là đã chú định sẽ bị hủy diệt.
Sự ra sản của lầu xanh là tất yếu của lịch sử, tuy nó là biểu tượng quan trọng của xã hội nam giới, nhưng nó đã cống hiến không thể phai mờ cho sự phát triển và phồn vinh của xã hội Trung Quốc cổ đại. Lầu xanh là chốn giải trí xã giao quan trọng nhất thời cổ đại. Quý tộc quyền quý, văn nhân thương gia, đều lấy lầu xanh làm nơi tập trung phát tán, các hoạt động lễ nghi trọng đại cũng thường có người của lầu xanh đến hiện trường. Quy củ, lễ nghi của lầu xanh có mối liên hệ muôn hình vạn trạng từ nội viện hoàng cung trên cao, cho đến tận xã hội đen dưới thấp, văn hóa lầu xanh có thể nói là một thể hỗn hợp của văn hóa các giai tầng Trung Quốc. Lầu xanh còn là chốn tiêu dùng quan trọng nhất thời cổ đại, nó không những bản thân tiêu dùng khổng lồ, mà còn dẫn dắt trào lưu tiêu dùng của toàn xã hội, kích thích trực tiếp sự phát triển của kinh tế hàng hóa. Lầu xanh lại còn là quê hương của văn hóa nghệ thuật, gác lầu xanh sang một bên, thì không thể hiểu thấu đáo nghệ thuật Trung Quốc, văn học Trung Quốc.
Mặt khác, sự tồn tại của lầu xanh, tuy có ích cho sự ổn định gia đình, nhưng lại làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng giữa nam nữ. Phương thức tiêu dùng của nó bao hàm một lượng lớn sự lãng phí. Lịch sử lầu xanh đằng đẵng khiến cho người Trung Quốc quen với việc chia phụ nữ một cách đơn giản thành hai loại, một loại là hiền thê lương mẫu, một loại là dâm phụ lẳng lơ. Điều này khiến cho cả nam và nữ đều không thể nhìn nhận phụ nữ một cách chính xác, còn dễ xảy ra sự lệch lạc trong việc lĩnh hội vấn đề giải phóng phụ nữ. Sự tương đồng về vận mệnh địa vị giữa kỹ nữ và sĩ nhân, cũng khiến cho tri thức Trung Quốc thích tự thương tự ai, thường lấy lầu xanh làm chốn ẩn thân để trốn tránh hiện thực.
Sự ra đời và công tội của lầu xanh đều cùng hít thở, cùng chung số phận với toàn bộ xã hội Trung Quốc cổ đại, cho nên khi xã hội Trung Quốc cổ đại bước tới suy vi, sự lấp lánh và sụp đổ của lầu xanh cũng đồng thời là tất yếu của lịch sử.
(Bài viết này vốn là bản thảo phát biểu tại hội nghị học thuật quốc tế Đức)