Khẩu Hiệu Vạn Tuế

Lượt đọc: 75 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Kim Dung Và Văn Học Quốc Dân

❊ ❊ ❊

Văn học quốc dân là một loại văn học mang tính "hiện đại", trong quá trình thiết lập và phát triển của nhà nước dân tộc hiện đại, có sự tham gia rõ rệt hoặc ngầm ẩn vào việc kiến tạo hệ tư tưởng, ảnh hưởng đến trí tưởng tượng của các thành viên trong cộng đồng dân tộc đối với đất nhà. Ở Trung Quốc, từ thời vãn Thanh trở đi, văn học quốc dân đã mượn các phương tiện truyền thông hiện đại khác nhau để thể hiện một cục diện vô cùng đa dạng. Trải qua Phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ", "văn học mới" dần chiếm lĩnh trung tâm văn đàn, trở thành chủ đạo của văn học quốc dân. Thế nhưng, văn học thông tục trong một thời gian dài vẫn không biến mất, qua sự cải lương và diễn biến, chúng vẫn luôn đóng vai trò là sách đọc cơ bản của người dân Trung Quốc hiện đại. Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, nhà nước cũng dần đưa văn học thông tục vào quỹ đạo sản xuất có kế hoạch, hình thành cục diện dung hợp nhã tục độc đáo kéo dài khoảng 30 năm. Từ thập niên 80 của thế kỷ 20 trở đi, dưới khẩu hiệu giải phóng văn học, văn học mới thực chất vẫn đóng vai trò là đồng phạm của hệ tư tưởng chủ đạo, trong khi văn học thông tục khôi phục lại tính độc lập của thị trường thì lại mang diện mạo khá phức tạp. Trong đó, tiểu thuyết võ hiệp của Kim Dung càn quét đại lục đã bị nhiều độc giả và học giả tách ra khỏi gia tộc văn học thông tục, trở thành một trong những tiêu điểm của văn đàn Trung Quốc hiện nay, gây ra sự quan tâm và tranh cãi lâu dài. Đằng sau điều này thực chất tồn tại một vấn đề là sự hiểu lại về văn học quốc dân. Bài viết này mưu cầu từ góc độ văn học quốc dân, thảo luận một chút về trí tưởng tượng về Trung Quốc mà tiểu thuyết Kim Dung đã xây dựng cho độc giả Trung Quốc hiện đại.

Một, Trung Quốc văn hóa

Tiểu thuyết Kim Dung từ góc độ văn hóa đã xác lập hình tượng nhà nước dân tộc của Trung Quốc, thiết lập một "Trung Quốc văn hóa" hùng vĩ to lớn, từ đó giành được số đông độc giả lớn nhất với các lập trường chính trị khác nhau, quan niệm giá trị khác nhau. Đây là sức hút quyết định của tiểu thuyết Kim Dung.

Thời gian sáng tác tiểu thuyết Kim Dung là những năm 50-70 của thế kỷ 20. Ngược lại với khuynh hướng cố ý phủ định truyền thống trong văn học đại lục dưới sự lãnh đạo của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cùng thời kỳ, tiểu thuyết Kim Dungđại lực "phát huy văn hóa truyền thống", bằng diện mạo của người kế thừa Trung Quốc truyền thống để thu hút lượng lớn độc giả ở Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan và Đông Nam Á v.v., cái gọi là "vòng tròn văn hóa Trung Hoa", thực chất đã trở thành một trung tâm "sức mạnh ngưng tụ Trung Hoa" ở bên ngoài đại lục.

Sự thể hiện của tiểu thuyết Kim Dung đối với văn hóa truyền thống Trung Quốc được tiến hành đồng thời ở hai chiều hướng. Một là nhìn từ đại cục, thể hiện tính đa dạng, tính tổng hợp, tính dung hội của văn hóa Trung Hoa; hai là bắt đầu từ tiểu tiết, thể hiện tính kỳ diệu, tính tinh xảo và tính nghệ thuật của văn hóa Trung Hoa. Nói từ mặt lớn, tiểu thuyết Kim Dung liên quan rộng rãi đến các thành phần khác nhau ở tầng diện tư tưởng văn hóa Trung Quốc như Nho gia, Mặc gia, Đạo gia, Phật gia v.v., viết nên một bản giao hưởng văn hóa muôn người cùng nói của "tam giáo cửu lưu". Đồng thời, ông còn từ góc độ văn hóa địa phương miêu tả rộng rãi diện mạo văn hóa mang phong cách đặc sắc, thần thái khác nhau ở các vùng miền đông tây nam bắc của đại lục Trung Quốc. Ông còn viết sâu hơn sự thăng trầm diễn biến của văn hóa truyền thống Trung Quốc ở các triều đại khác nhau, các thời kỳ lịch sử khác nhau, từ đó cấu thành một bức tranh cuộn trường thiên về văn hóa Trung Quốc mang tính động và lập thể.

Trong các tác phẩm thời kỳ đầu của Kim Dung, tư tưởng Nho gia và tư tưởng Mặc gia rõ ràng chiếm địa vị nổi bật hoặc thậm chí chủ đạo. "Thư kiếm ân cừu lục" và "Bích huyết kiếm" đều giữ điếu văn tán thưởng đối với hành vi chính nghĩa vì dân kêu oan, vì dân trừ gian của nhân vật chính; "Xạ điêu anh hùng truyện" càng tán dương đến cực điểm tinh thần Nho Mặc không chùn bước, dũng mãnh tiến lên do Quách Tĩnh đại diện. Đến các tác phẩm thời kỳ giữa của Kim Dung, tư tưởng Đạo gia, tư tưởng du tiên bắt đầu thu hút sự chú ý. "Thần điêu hiệp lữ" có thể được coi là một ngã ba đường đi từ thời kỳ đầu vào thời kỳ giữa, trong tác phẩm này vừa có câu nói đinh đóng cột của Quách Tĩnh "vì nước vì dân, đại hiệp là thế" cùng cái chết oanh liệt vì bảo vệ Tương Dương của vợ chồng Quách Tĩnh, lại vừa có việc Dương Quá coi thường tông pháp lễ giáo, vì tình yêu cá nhân mà không tiếc đối đầu với toàn bộ võ lâm và một mình một kiếm phiêu bạt khắp bốn phương. "Ỷ thiên Đồ long ký" và "Tiếu ngạo giang hồ" lại càng đặt vấn đề tự do cá nhân làm mối quan tâm số một của nhân vật chính một cách rõ ràng hơn. Trương Vô Kỵ có thể từ bỏ giáo chủ Minh Giáo — thực chất là từ bỏ địa vị vị vua khai quốc của triều đại Đại Minh, thế nhưng lại không thể xác định trong bốn người phụ nữ trẻ tuổi ai là người mình yêu nhất. Lệnh Hồ Xung cũng dứt khoát từ chối kế thừa vị trí giáo chủ Nhật Nguyệt Thần Giáo mà coi sinh mạng, tự do là tối cao vô thượng. Trong mắt của Dương Quá, Trương Vô Kỵ, Lệnh Hồ Xung, không phải là không có chính tà thiện ác, nhưng những điều này đối với họ đã không phải là "lệnh chỉ sinh mạng số một", tự do và tiêu dao mới là "thế giới hoàng kim" của họ. Đến các tác phẩm thời kỳ cuối của Kim Dung, hơi thở của tư tưởng Phật gia ngày càng nồng đậm, trong "Liên thành quyết" và "Hiệp khách hành", thị phi thiện ác đã bắt đầu trở nên mờ mịt khó phân, tiêu chuẩn khó lập, Địch Vân và Thạch Phá Thiên đối với việc rốt cuộc nên làm người như thế nào, có thể nói từ đầu đến cuối cũng không tìm ra đáp án, Thạch Phá Thiên thậm chí rốt cuộc mình là ai cũng gần như không thể hoàn toàn khẳng định. "Thiên long bát bộ" lại càng là tập đại thành của tư tưởng Phật gia mà Kim Dung thấu hiểu, trong bộ đại tác phẩm hồng vương dài 1,3 triệu chữ này tràn ngập lòng thương xót lớn "không ai không oan, có tình đều là nghiệt", quan niệm sắc không, quan niệm có không v...v... những tư tưởng cơ bản của Phật gia, đều thể hiện sức cám dỗ cực lớn bằng phương thức nghệ thuật. Đến mức có học giả chỉ ra rằng, tiểu thuyết Kim Dung có thể dùng làm sách nhập môn cho Phật giáo. Nội dung hàm chứa văn hóa sâu sắc là chìa khóa then chốt để tiểu thuyết Kim Dung có thể thu hút lượng lớn độc giả tầng lớp cao.

Dưới ngòi bút của Kim Dung liên quan đến hầu như tất cả các khu vực phân chia văn hóa Trung Quốc, từ đỉnh núi tuyết trong "Tuyết sơn phi hồ" đến Thương Sơn Nhĩ Hải trong "Thiên long bát bộ", từ tuyết liên Tân Cương trong "Thư kiếm ân cừu lục" đến sơn ca Phúc Kiến trong "Tiếu ngạo giang hồ", ông thường dẫn dắt độc giả tiến hành du lịch văn hóa Trung Quốc toàn phương vị trong một số tác phẩm cỡ lớn. Ví dụ như "Thiên long bát bộ" viết từ Đại Lý Vân Nam đến Cô Tô Giang Nam, rồi lại viết đến Hà Nam, Sơn Tây, Chiết Giang, Ninh Hạ, tái bắc, quan đông. Kim Dung không chỉ viết ra cảnh sắc, phong tục cũng như ngôn ngữ nhân vật khác nhau ở các nơi, mà còn viết ra sự khác biệt về mặt bản chất văn hóa ở các nơi, khiến độc giả cảm nhận rõ rệt "sự cấu thành mảng khối" của văn hóa Trung Quốc. Ví dụ như Quách Tĩnh lớn lên ở sa mạc Mông Cổ, Hoàng Dung lại lớn lên ở hải đảo Đông Nam. Tiêu Phong lớn lên ở võ lâm Trung Nguyên, Vi Tiểu Bảo lại lớn lên ở kỹ viện Dương Châu. Cá tính trên người những nhân vật này đều không thể tách rời "thủy thổ" của họ. Khi đọc những tiểu thuyết như vậy, độc giả thường cảm thấy vô cùng "đã ghiền", họ cảm nhận được sự "lớn" của Trung Quốc từ trong đó, cảm nhận được niềm tự hào là người Trung Quốc. Họ sẽ cảm thấy Trung Quốc sở hữu cục diện văn hóa như vậy, bất luận phong vân chính trị thay đổi thế nào, đều là có sức sống vô cùng, đều là không thể đánh bại. Cảm giác "lớn" lay động tâm can này rất khó có được từ các tác phẩm kinh điển và tác phẩm văn học mới của các quốc gia khác.

Văn hóa Trung Quốc do Kim Dung viết, trên trục thời gian cũng rất phong phú biến hóa. Cùng là tư tưởng Nho gia, dưới ngòi bút của Kim Dung, vào thời Tống thì tỏ ra bác đại cương kiện, Quách Tĩnh và Tiêu Phong trở thành những anh hùng cao lớn nhất trong tiểu thuyết Kim Dung, đến sau thời Tống, thì biểu hiện khí tượng suy nhược, khó gánh vác trọng trách. Phái Võ Đang đại diện cho Đạo gia trong "Ỷ thiên Đồ long ký" và phái Hoa Sơn đại diện cho Đạo gia trong "Tiếu ngạo giang hồ" rõ ràng áp đảo vô số môn phái đại diện cho các tư tưởng khác. Đến cuối Minh đầu Thanh, văn hóa Nho gia lại càng tỏ ra chua lòe nực cười, trăm đường vô dụng. Trần Gia Lạc trong "Thư kiếm ân cừu lục" tự phụ văn võ song toàn, kết quả làm việc gì cũng hỏng. Viên Thừa Chí trong "Bích huyết kiếm" thù nhà nợ nước khó lòng trả nổi, thần châu mịt mờ không nơi dung thân, đành phải bỏ đi xa ra hải đảo, quả đúng như Khổng Tử nói "cưỡi bè trôi dạt ra biển". Đại danh của Trần Cận Nam trong "Lộc đỉnh ký" khiến các anh hùng thiên hạ nghe danh mà sợ mất mật, thế nhưng vị thủ lĩnh Thiên Địa Hội này, bề ngoài không thể hoàn thành đại nghiệp "phản Thanh phục Minh", bên trong không thể bình định cuộc đấu tranh đảng phái nội bộ trên đảo Đài Loan, chẳng những bị Vi Tiểu Bảo lừa gạt hết lần này đến lần khác, mà cuối cùng còn chết trong tay một kẻ tiểu nhân tầm thường, hoàn toàn không có một chút hào quang anh hùng nào. Văn hóa Trung Quốc do Kim Dung viết, không phải là một mực "phát huy", mà mang theo sự phân tích và phê phán rõ rệt. Từ nhiều mặt như thời gian, không gian và sự kết hợp bên trong, Kim Dung đã viết ra một "Trung Quốc lớn" từ mặt văn hóa, nhưng "Trung Quốc lớn" này chỉ là sự tái hiện nghệ thuật về sự phát triển lịch sử của bản thân Trung Quốc, chẳng có chút liên quan nào đến cái gọi là "chủ nghĩa Trung Hoa" do phương Tây ngụy tạo và tưởng tượng.

Sự thể hiện những "văn hóa lớn" này trong tiểu thuyết Kim Dung được xây dựng trên cơ sở miêu tả cụ thể tỉ mỉ đến từng chi tiết. Ví dụ như về văn hóa Phật gia, Kim Dung có thể nói là nắm rõ như lòng bàn tay, từ đó viết ra một cách vung vẩy tự tại. Một lão tăng mặc áo xám không danh tính trong "Thiên long bát bộ" chỉ phất tay nhẹ nhàng là thu phục được tất cả các cao thủ siêu cấp hàng đầu, lúc ông giảng pháp cho các anh hùng thiên hạ, luận bàn về mối quan hệ giữa Phật pháp và võ công rằng, luyện võ công vốn là để nâng cao cảnh giới Phật pháp, thế nhưng khi cảnh giới Phật pháp đạt đến mức rất cao, thì lại khinh thường việc luyện võ công. Những lời như thế, người không có nghiên cứu sâu sắc về văn hóa Phật giáo thì rất khó mà nói ra được. Lại ví dụ như bài kệ Phật mà Viên Tính và Hồ Phỉ niệm lúc chia tay trong "Phi hồ ngoại truyện":

"Hết thảy hội ân ái, vô thường khó được lâu.

Sinh thế nhiều sợ hãi, mệnh nguy tự sương mai.

Vì yêu mà sinh lo, vì yêu mà sinh sợ.

Nếu lìa khỏi ái giả, không lo cũng không sợ."

Những chi tiết tương tự khiến độc giả khắc xương ghi tâm như thế rất nhiều. Hoàng Dung làm hai món ăn cho Hồng Thất Công trong "Xạ điêu anh hùng truyện", một món gọi là "Nhị thập tứ kiều minh nguyệt dạ", một món gọi là "Hảo cầu thang", miêu tả tinh mỹ tuyệt luân, khiến người ta thèm thuồng nhỏ dãi, hơn nữa còn tỏa ra ánh sáng rực rỡ của văn hóa Trung Quốc. Rất nhiều độc giả đều có thể nhớ một loạt chi tiết thú vị trong tiểu thuyết Kim Dung, những chi tiết đó thường chính là sự thể hiện tiêu biểu đối với văn hóa Trung Quốc. Ngay cả trong những lời mắng người của Vi Tiểu Bảo, cũng tỏa ra bầu không khí văn hóa Trung Quốc nồng đậm, những lời mắng người đó hoàn toàn có thể dùng để mổ xẻ tính cách quốc dân của Trung Quốc.

Văn học đại lục Trung Quốc những năm 50-70, vì quán tính thẩm mỹ của văn học mới "Ngũ Tứ" cũng như nhu cầu viết lại lịch sử và ca ngợi quốc gia mới, đối với truyền thống văn hóa cổ đại Trung Quốc phủ định thì nhiều mà khẳng định thì ít, dốc sức tạo cho độc giả một khung cảnh Trung Quốc mới "khai thiên lập địa". Loại văn học quốc dân như vậy khiến độc giả trong thời gian dài rơi vào trạng thái tâm lý tương đối căng thẳng, so sánh ra, trí tưởng tượng nhà nước dân tộc mà tiểu thuyết Kim Dung thiết lập lại thong thả, đầm thắm, mang tính ổn định lâu dài hơn. "Trung Quốc văn hóa" là chiến lược căn bản của tiểu thuyết Kim Dung với tư cách là văn học quốc dân, trên cơ sở này, Kim Dung đã tiến hành thăm dò và phê phán rộng rãi và sâu sắc đối với các vấn đề như văn hóa dân tộc, tính cách quốc dân và văn hóa chính trị của Trung Quốc.

Hai, Trung Quốc của đại gia đình các dân tộc

Tiểu thuyết Kim Dung xác lập hình tượng quốc gia đa dân tộc của Trung Quốc, nhưng đồng thời lạiđại lực phê phán chủ nghĩa trung tâm người Hán.

Theo thống kê của người viết, trong 15 bộ tiểu thuyết của Kim Dung, có ít nhất 12 bộ liên quan đến nhân vật và quan hệ từ hai dân tộc trở lên, chỉ có ba bộ tác phẩm "Tiếu ngạo giang hồ", "Hiệp khách hành", "Việt nữ kiếm" là không liên quan hoặc nói năng mơ hồ. Liên quan đến nhân vật dân tộc đông đảo nhất, quan hệ dân tộc phức tạp nhất phải kể đến bộ đại tác phẩm 1,3 triệu chữ "Thiên long bát bộ", cuốn sách này miêu tả vô số vùng dân tộc như Đại Tống (Hán), Đại Lý, Thổ Bàn (Tạng), Đại Liêu (Khiết Đan), Tây Hạ (Đảng Hạng), Đại Yến (Tiên Ti), Nữ Chân v.v., cộng thêm người Bày Tịch (Đao Bạch Phượng), người Thiên Trúc (Triết La Tinh) v.v., các loại dân tộc liên quan gần 10 loại. Các dân tộc cổ kim Trung Quốc liên quan trong tiểu thuyết Kim Dung tổng cộng có hơn chục dân tộc như Hán, Mông, Hồi, Tạng, Mãn, Miêu, Duy Ngô Nhĩ, Khắc Tư Khắc, Khiết Đan, Đảng Hạng, Nữ Chân, Tiên Ti, Bày Tịch, Cao Xương, Yên Kỳ v.v., cộng thêm các dân tộc nước ngoài như Nga, Ba Tư, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Bỉ, Thiên Trúc, Bột Nê, Thụy Điển, Thông Cố Tư v.v., tổng cộng hơn hai mươi dân tộc trong và ngoài nước.

Trung Quốc đa dân tộc do Kim Dung viết mặc dù vẫn lấy văn hóa người Hán làm trung tâm, nhưng ông đã cố ý tạo hình một loạt hình tượng nam nữ anh hùng dân tộc thiểu số, lấy cách này để biểu đạt quan điểm nhà nước dân tộc của ông.

Tiểu thuyết Kim Dung biểu lộ sự thiên vị khác với đa số các nhà văn Trung Quốc đối với "dân tộc thiểu số", trong mỗi dân tộc thiểu số mà ông đặt bút tới, đều tạo hình ra một đến vài nhân vật có một không hai, hoặc là ngực dạ rộng lớn, hoặc là võ công thần kỳ, hoặc là can đảm hiệp nghĩa, hoặc là mưu lược sâu xa. Chỉ tính riêng từ ý nghĩa thuần túy chính diện, thì đã có hơn chục người như Mộc Trác Luân, Hoắc Thanh Đồng, Khát Ti Lễ, A Phàm Tti, Triết Biệt, Cửu Nạn, Hà Thiết Thủ, Tiêu Phong, Đoàn Dự, Hoàn Nhan A Cốt Đả, Triệu Mẫn, Tiểu Chiêu v.v. Trong đó anh hùng số một dưới ngòi bút của Kim Dung — Tiêu Phong, mỹ nhân số một — Hương Hương công chúa Khát Ti Lễ, đều là huyết thống dân tộc thiểu số thuần túy.

Tiêu Phong trong "Thiên long bát bộ", vốn là Kiều Phong bang chủ Cái Bang Trung Nguyên, hắn võ công cái thế, nghĩa bạc vân thiên, là một hảo hán anh hùng được mọi người trong giang hồ ngưỡng mộ, quản lý Cái Bang đâu ra đó, trở thành bang lớn số một hưng thịnh nhất trong giang hồ. Thế nhưng tai họa từ trong nhà ập tới, đột nhiên có người lôi ra những chứng cứ và nhân chứng có uy tín nhất vạch trần hắn không phải người Hán, mà là người Khiết Đan, thế là hắn bị đuổi khỏi Cái Bang, từ đó về sau chịu đựng một chuỗi âm mưu vu khống, mang trên mình tội danh "giết cha, giết mẹ, giết thầy", cùng lời đánh giá "vong ân phụ nghĩa, tàn nhẫn hiếu sắc", bị xem là "đại ác nhân" giống như ma quỷ. Trong quá trình tìm kiếm thân thế của mình, tẩy oan cho mình, Kiều Phong đã trải qua vô số đau khổ về thể xác lẫn tinh thần. Sau đó hắn hay tin mình quả thực là hậu duệ người Khiết Đan, vốn mang họ Tiêu. Tiêu Phong vì chữa thương cho A Tử, lưu lạc đến bộ lạc Nữ Chân, lúc đánh hổ đã quen biết thủ lĩnh Nữ Chân Hoàn Nhan A Cốt Đả, sau đó lại nghĩa thích quý tộc Khiết Đan Gia Luật Cơ, kết nghĩa anh em với hắn. Mà Gia Luật Cơ hóa ra lại chính là hoàng đế Đại Liêu Gia Luật Hồng Cơ, lúc Tiêu Phong một lần nữa giúp hắn dẹp loạn, hóa giải nguy hiểm, hắn đã phong Tiêu Phong làm Nam Viện Đại Vương, chịu trách nhiệm đánh Đại Tống. Tiêu Phong tuy trung thành với tổ quốc Đại Liêu, nhưng lại hoài niệm tình cảm sâu đậm với Đại Tống đã nuôi dưỡng mình, đặc biệt xuất phát từ thân thế bi thảm của bản thân và những gì tai nghe mắt thấy, hắn không đành lòng nhìn nhân dân hai tộc tàn sát lẫn nhau. Gia Luật Hồng Cơ thấy Tiêu Phong kháng chỉ, bèn giam cầm hắn. Quần hùng Trung Nguyên và các tộc khác cứu Tiêu Phong ra, dưới ải Nhạn Môn, Tiêu Phong ép Gia Luật Hồng Cơ bị bắt làm tù binh bẻ tên lập lời thề, trọn đời trọn kiếp, không cho phép quân Liêu xâm phạm Đại Tống. Tiêu Phong sau đó dùng tên đâm vào tim, tự sát để tạ thiên hạ, dùng sinh mạng của chính mình đổi lấy hòa bình giữa các dân tộc.

Hình tượng anh hùng đội trời đạp đất này của Tiêu Phong, có thể nói là hình tượng nhân vật dân tộc thiểu số vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử văn học Trung Quốc. Hình tượng này đủ sức thay đổi thành kiến văn hóa đối với dân tộc thiểu số trong văn hóa truyền thống, khiến con người vượt lên trên ranh giới dân tộc, dành sự ngưỡng mộ cao cả cho các anh hùng hào kiệt của mọi dân tộc.

Hương Hương công chúa Khát Ti Lễ trong "Thư kiếm ân cừu lục", là con gái út của Mộc Trác Luân, dung mạo tuyệt thế, trên người tự nhiên có hương thơm. Thanh niên nam nữ người Hồi xem nàng như tiên nữ, hàng vạn quan binh quân Thanh nhìn thấy nàng, "vô số trường mâu đều rơi xuống đất", đến nỗi đại tướng quân đành phải hạ lệnh rút quân mấy chục dặm. Hương Hương công chúa là "nữ thần hòa bình" bẩm sinh. Nàng và tổng đà chủ Hồng Hoa Hội Trần Gia Lạc yêu thương lẫn nhau, bao nhiêu lần cùng ra sinh vào tử. Sau khi Mộc Trác Luân bại trận, Khát Ti Lễ bị bắt vào cung, dâng cho Càn Long, nhưng nàng dù bị uy hiếp dụ dỗ thế nào, thà chết không theo. Sau đó Trần Gia Lạc vì để xúi giục Càn Long — vốn là hậu duệ người Hán, anh ruột của Trần Gia Lạc — đuổi giặc rợ, khôi phục giang hồ nhà Hán, đành nhẫn đau khuyên Hương Hương công chúa thuận theo Càn Long, Khát Ti Lễ vì "đại sự thiên hạ" mà Trần Gia Lạc nói, đẫm lệ gật đầu. Nhưng nàng phát hiện Càn Long gian xảo đang lừa gạt Trần Gia Lạc, bèn lấy cớ đến nhà thờ Hồi giáo làm lễ cầu nguyện, dùng chủy thủ ngầm vạch mấy chữ "không thể tin hoàng đế" dưới đất, rồi "đâm chủy thủ vào lồng ngực thuần khiết nhất đẹp đẽ nhất trên đời". Nàng dùng máu tươi gửi gắm cảnh báo cuối cùng tới người mình yêu. Lúc chị gái nàng và Trần Gia Lạc v.v. huyết chiến phá vây, đi dời di thể của nàng, lại phát hiện trong mồ trống không, chỉ có từng trận u hương, mọi người đều nói Hương Hương công chúa ắt là tiên nữ hạ phàm, nay lại trở về trời. Hương Hương công chúa và Tiêu Phong giống nhau, đều vì hạnh phúc an ninh của muôn dân trăm họ mà hiến dâng sinh mạng trân quý nhất của mình. Họ trở thành đại biểu kiệt xuất nhất trong các con trai con gái anh hùng dân tộc thiểu số dưới ngòi bút của Kim Dung.

Kim Dung nhận thức được cục diện đa dân tộc của Trung Quốc là kết quả của cuộc đấu tranh lịch sử, ông miêu tả chân thực cuộc đấu tranh dân tộc liệt liệt, miêu tả chiến tranh Tống Kim, chiến tranh Tống Liêu, sự trỗi dậy của Nữ Chân và chiến tranh với các dân tộc xung quanh, chiến tranh chinh phạt mở cõi của con cháu Thành Cát Tư Hãn, chiến tranh người Hán phản đối thống trị người Mông Cổ cuối nhà Nguyên, chiến tranh hai tộc Mãn Hán cuối Minh đầu Thanh, v.v. Những cuộc chiến tranh này, vừa có đại cảnh diện mạo toàn cảnh hùng vĩ, lại vừa có tiểu cận cảnh tỉ mỉ tinh tế. Từ việc mưu toan nơi màn chướng đến chém giết trên đồng hoang, từ binh lính ô hợp ức hiếp bách tính đến việc bắt sống thủ lĩnh địch trong vạn quân, viết ra vô cùng uyển chuyển xoay vần, muôn vẻ kiều diễm, khiến người ta lãng đãng như ở trong đó. Trong quá trình ca ngợi chiến tranh chính nghĩa phản xâm lược, phê phán chiến tranh xâm lược phi nghĩa, Kim Dung đã nhiều lần phê phán chủ nghĩa bá quyền dân tộc lấy mạnh hiếp yếu. Chiến tranh xâm lược thường khởi nguồn từ chủ nghĩa bá quyền dân tộc lấy mạnh hiếp yếu. Cuộc xâm lược Nam Tống của Hốt Tất Liệt, triều đình nhà Thanh trấn áp bộ lạc Mộc Trác Luân, đều là cậy vào sức mạnh quân sự hùng mạnh, muốn ép chặt vương trượng của mình lên đầu các dân tộc yếu đuối. Đối với chủ nghĩa Sô-vanh dân tộc này, Kim Dung đã dành cho sự châm biếm và quất roi mạnh mẽ.

Trong tiểu thuyết trung thiên "Bạch mã khiếu tây phong", có xen một câu chuyện về quốc gia Cao Xương cổ đại. Quốc gia lớn vùng Tây Vực Cao Xương thần phục nhà Đường, nhà Đường bắt họ tuân theo rất nhiều quy củ của người Hán, quốc vương Cao Xương nói: "Chim ưng bay trên trời, trĩ phục ở gác, mèo đi dạo ở đường, chuột kêu ở hang, mỗi người được chỗ của mình, há chẳng thể tự sinh sao?" Ý là nói, tuy các ngươi là chim ưng mãnh liệt, bay trên trời, nhưng chúng ta là gà rừng, trốn trong lùm cỏ, tuy các ngươi là mèo, đi tới đi lui ở sảnh đường, nhưng chúng ta là chuột nhắt, trốn trong hang kêu chít chít, các ngươi cũng đành chịu chúng ta thôi, mỗi người sống qua ngày của mình, sao nhất định phải ép chúng ta tuân theo quy củ tập tục của người Hán các ngươi chứ? Họ đem sách vở văn vật được Đường Thái Tông ban tặng, cùng các loại dụng cụ, tượng Phật, tượng Khổng Tử, Lão Quân Đạo giáo v.v. đều đặt trong mê cung này, không ai thèm liếc mắt xem nhiều một cái. Đế quốc Đại Đường vốn dĩ văn hóa tiên tiến, nhưng cứ khăng khăng muốn áp đặt phương thức văn hóa của mình lên các dân tộc nhỏ yếu, kết quả chỉ có thể chinh phục được quốc gia của họ, không thể chinh phục được lòng người của họ. Ý nghĩa châm biếm sâu sắc trong đó đối với một số dân tộc giàu sụ theo đuổi chủ nghĩa bá quyền ngày nay, cũng vô cùng thích hợp.

Chủ nghĩa bá quyền dân tộc lấy mạnh hiếp yếu biểu hiện ở giữa các quốc gia, gây ra sự xung đột và cách trở văn minh. Nếu biểu hiện ở giữa các cá nhân, thì sẽ gây ra bi kịch số phận cá nhân. Trong "Thiên long bát bộ" có một ví dụ vô cùng sâu sắc: ở quốc gia Đại Lý lấy người Hán làm chủ có một tộc Bày Tịch, "phụ nữ trong tộc phần lớn khá xinh đẹp, da dẻ trắng mịn, vượt xa người Hán, chỉ có điều đàn ông văn nhược, số lượng lại ít, thường chịu sự ức hiếp của người Hán". Đao Bạch Phượng - phu nhân của Trấn Nam Vương Đoàn Chính Thuần, em trai quốc quân Đại Lý chính là người Bày Tịch. Đoàn Chính Thuần tính tình phong lưu, đi đến đâu cũng kết duyên sinh tình với rất nhiều phụ nữ, cuối cùng đã khơi dậy sự phản kháng của Vương phi Trấn Nam Vương là Đao Bạch Phượng, trong lúc đau lòng phẫn nộ, vị Vương phi này lại tùy tiện thân mật với một tên ăn mày xấu xí dơ dáy, khắp người mủ máu tanh hôi tình cờ gặp trên đường vào một đêm nọ, sinh ra Đoàn Dự - một trong những nhân vật chính trong sách. Mà tên ăn mày hóa ra lại chính là hoàng thái tử Đoàn Diên Khánh của triều đại trước bị sát hại, hắn nhân lúc bị trọng thương gặp được kỳ ngộ này, tinh thần phấn chấn, sau đó trở thành đại ác nhân đệ nhất thiên hạ, khiến Đoàn Dự chịu đủ khổ sở. Mà Đoàn Dự lại nảy sinh tình ý với mấy cô con gái của người tình Đoàn Chính Thuần, vướng víu quấn quýt, cuối cùng Đoàn Chính Thuần và Đao Bạch Phượng cùng mấy người tình của ông ta đồng thời chết thảm, bỏ lại Đoàn Dự và cha con Đoàn Diên Khánh đối mặt nhau... Tất cả những điều này có thể nói đều khởi nguồn từ việc Đoàn Chính Thuần vô cùng thiếu tôn trọng Vương phi Đao Bạch Phượng vốn là dân tộc thiểu số. Tiên sinh Trần Mặc bàn rằng: "Đoàn Dự vừa là nạn nhân của mối nghiệt tình từ cha hắn, đồng thời lại là một trong những đối tượng tranh quyền của Đoàn Diên Khánh, còn là đối tượng báo thù của người tình của phụ thân." ("Tân võ hiệp nhị thập gia" p111) Nếu nhìn từ góc độ quan hệ dân tộc, tai họa đau khổ của Đoàn Dự cũng là ác quả do chủ nghĩa Sô-vanh dân tộc vô tình gây ra. Bất luận xuất phát từ lợi ích quốc gia hay số phận cá nhân, tiểu thuyết Kim Dung trong khi phê phán việc lấy mạnh hiếp yếu, đều phơi bày tầm quan trọng vô cùng của bình đẳng dân tộc.

Trung Quốc sau năm 1949, do nhu cầu xây dựng cường quốc hiện đại hóa đại nhất thống, chính phủ trung ương rất coi trọng vấn đề đoàn kết dân tộc và bình đẳng dân tộc, Trung Quốc bước vào thời kỳ chính sách dân tộc tiên tiến nhất trong mấy nghìn năm qua. Chính phủ Trung Quốc đẩy mạnh phương châm bình đẳng dân tộc, quan tâm, viện trợ, tôn trọng đầy đủ đối với các dân tộc thiểu số. Thế nhưng về mặt văn học, đối với bản thân văn hóa người Hán lại thiếu sự phê phán, đem tất cả sự kỳ thị đối với dân tộc thiểu số trong lịch sử đều quy tội cho các thống trị giả trước đây. Thực tế đã tạo cho người ta một quan niệm như vậy: tức là các dân tộc thiểu số tự nguyện đoàn kết xung quanh người Hán, cùng nhau xây dựng nên văn hóa Trung Hoa vĩ đại. Ở đây đã bỏ qua các cuộc đấu tranh giữa các dân tộc trong lịch sử, bỏ qua sự áp bức văn hóa mà người Hán mang lại cho các dân tộc thiểu số khác. Thực tế vẫn mang màu sắc chủ nghĩa trung tâm người Hán tương đối đậm đặc. Trong văn học về dân tộc thiểu số những năm 50~70, dân tộc thiểu số bị miêu tả đơn giản thành một hình tượng kiểu hoạt hình lương thiện dũng cảm, thông minh xinh đẹp, biết hát biết múa, trở thành tấm gương phản chiếu sự tiên tiến của văn hóa người Hán. Tiểu thuyết Kim Dung so sánh ra, cảnh giới rõ ràng cao hơn một bậc.

Ba, Phê phán tính cách quốc dân

Tiểu thuyết Kim Dung xuyên suốt một mạch tư tưởng phê phán tính cách quốc dân, cho nên đã vượt qua tiểu thuyết thông tục thông thường hay hùa theo sở thích của độc giả, tự giác gánh vác sứ mệnh tái thiết tinh thần quốc dân, về mặt khách quan hô ứng từ xa với văn học mới.

Trong các tác phẩm của Kim Dung, song hành với việcđại lực phát huy văn hóa Trung Hoa là việc ông không ngừng mổ xẻ và kiểm điểm các tệ nạn khác nhau của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là tiến hành phê phán sâu sắc đối với tính cách quốc dân đại diện cho thói trí thức. Những phê phán này có lúc được kết hợp lại với việc phê phán văn hóa người Hán.

Ví dụ như bộ tiểu thuyết võ hiệp đầu tiên của Kim Dung "Thư kiếm ân cừu lục", hình tượng tập thể chủ yếu là Hồng Hoa Hội do Trần Gia Lạc lãnh đạo. Hồng Hoa Hội có chí lật đổ thống trị Mãn Thanh, nhân tài đông đúc, tổ chức chặt chẽ, nhưng cuối cùng lại chẳng làm nên tích sự gì, rút về Tân Cương, việc này có mối quan hệ vô cùng lớn với quan niệm văn hóa của họ. Hồng Hoa Hội hay tin bí mật hoàng đế Càn Long sinh ra trong gia đình người Hán, liền ngây thơ mơ tưởng dựa vào vị thiên tử đương triều này, đuổi giặc rợ, chỉnh đốn lại giang hồ. Họ trăm phương nghìn kế chứng minh thân thế với Càn Long, lại giam cầm Càn Long ở tháp Lục Hoà Hàng Châu, do tổng đà chủ Trần Gia Lạc lợi dụng tình anh hùng đồng bào trăm đường khuyên bảo. Lý do lý luận để Trần Gia Lạc khuyên bảo thứ nhất là phân biệt Hoa Di, thứ hai là quan niệm trung hiếu, thứ ba là tư tưởng công nghiệp. Ông ta nói: "Ngươi là người Hán, giang sơn cẩm tú của người Hán rơi vào tay giặc rợ, ngươi lại đi làm đầu não cho giặc rợ, dẫn dắt chúng đến ức hiếp con cháu Viêm Hoàng của chúng ta. Đây há chẳng phải là bất trung bất hiếu, đại nghịch bất đạo sao?" Lại nói: "Ngươi cũng làm hoàng đế, chi bằng nhận giặc làm cha, để muôn đời phỉ nhổ, chi bằng phấn phát ưng dương, thiết lập căn cơ muôn đời không đổi?" Nói cho cùng, điều mà Hồng Hoa Hội muốn thay đổi chỉ là một "danh phận", giống như A Q dốc sức chứng minh mình họ Triệu, chứng minh người khác đánh mình là "con đánh cha". Trọng danh ảo mà khinh thực vụ, đây là một tệ nạn lớn khi văn hóa Trung Quốc phát triển đến giai đoạn sau. Trần Gia Lạc có mấy cơ hội giết chết tay sai triều đình Trương Triệu Trọng có võ công cao hơn mình nhưng vì ý niệm "không phải hành động của đại trượng phu" làm quấy nhiễu mà đều từ bỏ, việc này thực chất là giữ nghĩa nhỏ mà bỏ nghĩa lớn. Trên người Trần Gia Lạc, đặc điểm trí thức Trung Quốc đắn đo nhiều bề, câu nệ hẹp hòi được thể hiện vô cùng tiêu biểu. Dưới sự hun đúc của tư tưởng Nho gia, họ muốn yêu mà không dám yêu, đáng hận mà không thể hận. Bề ngoài tiêu sái phóng khoáng, trong lòng lại so đo chi li. Trần Gia Lạc vốn tâm tình tương ưng với trưởng nữ của Mộc Trác Luân, trí dũng song toàn là Hoắc Thanh Đồng, nhưng vì từng thấy Hoắc Thanh Đồng có thái độ thân mật với một thiếu niên, liền không dám mở rộng cõi lòng, trái lại còn cố ý xa lánh. Đến khi biết thiếu niên đó là Lý Nguyên Chỉ giả nam trang, sự hổ thẹn đè nặng, vẫn cứ giả vờ bình tĩnh, khiến Hoắc Thanh Đồng đau lòng thành bệnh. Trần Gia Lạc sau khi yêu Hương Hương công chúa Khát Ti Lễ, từng đau khổ suy nghĩ "người trong lòng ta thật sự yêu rốt cuộc là ai?" Nghĩ đến việc Hoắc Thanh Đồng mưu lược xuất chúng, văn võ song toàn, ông cuối cùng phát hiện ra: "Hàiz, chẳng lẽ trong sâu thẳm đáy lòng ta, là không thích cô ấy quá tài năng sao?" Giật mình kinh hãi, ông tự trách rằng: "Trần Gia Lạc, Trần Gia Lạc, ngực dạ ngươi lại nhỏ nhặt đến thế sao?" Thế nhưng cuối cùng, ông ta đến cả Hương Hương công chúa cũng đánh mất. Văn hóa truyền thống Trung Quốc phát triển đến thời kỳ vãn kỳ, đã là trăm lỗ ngàn lỗ. Quân hôn thần nịnh, trên lừa dưới gạt, lòng người hiểm ác, tự đại hư ví. Trần Gia Lạc nhìn chung không hổ là một anh hùng có tài cán, có huyết tính, nhưng trong tư duy của ông ta lại tích tụ sâu dày cặn bã của rất nhiều quan niệm văn hóa phong kiến.

Vấn đề này, tác phẩm cuối cùng của Kim Dung "Lộc đỉnh ký" có rất nhiều tình tiết có thể đối chiếu với "Thư kiếm ân cừu lục". Hoàng đế Khang Hi nói với Vi Tiểu Bảo rằng:

Trẫm làm hoàng đế Trung Quốc, tuy không dám nói sánh bằng Nghiêu Thuấn Vũ Thang, nhưng thương xót bách tính, nỗ lực trị nước, trong các vị hoàng đế nhà Minh, có ai tốt hơn trẫm chứ? Hiện nay Tam Phán đã dẹp yên, Đài Loan đã thu phục, nước La Sát lại không dám đến xâm phạm biên giới, từ nay thiên hạ thái bình, bách tính an cư lạc nghiệp. Phản tặc Thiên Địa Hội nhất định phải khôi phục nhà Minh, chẳng lẽ bách tính dưới sự thống trị của vị hoàng đế mang họ Chu, ngày tháng sống sẽ tốt hơn hôm nay một chút sao?

Đoạn lời này chưa chắc đã hoàn toàn chính xác, nhưng quả thực rất đáng để những kẻ chủ nghĩa đại Hán tộc đó suy ngẫm. Điều thú vị là, trong "Lộc đỉnh ký" cũng có một tình tiết xúi giục chính trị, mấy đại trí thức đỉnh cao học giới như Cố Viêm Võ, Hoàng Tông Hi, Lữ Lưu Lương, Tra Kế Tọa v.v., lại đàng hoàng khổ sở khuyên nhủ một tên lưu manh xuất thân từ kỹ viện "không học mà có thuật", chuyên dựa vào việc nịnh nọt để thăng quan tiến chức như Vi Tiểu Bảo đi làm hoàng đế. Tra Kế Tọa nói:

Tuyệt đối không phải nói đùa. Mấy người chúng tôi bàn bạc mấy tháng, đều cảm thấy khí số Đại Minh đã tận, bách tính thiên hạ đã không còn hướng về triều đại trước. Thật sự là các triều đại hoàng đế nhà Minh trước đã hại bách tính quá khổ sở, ai nấy nghĩ đến đều căm hận. Thế nhưng triều đình Thanh triều chiếm mất giang sơn nhà Hán của chúng ta, bắt toàn thể người Hán thiên hạ cạo đầu tết tóc, đổi mặc y quan dị địch, cục tức này thế nào cũng nuốt không trôi. Vi hương chủ nắm giữ binh phù, lại được hoàng đế đương kim tín nhiệm, chỉ cần giương cao ngọn cờ nghĩa, tự lập làm đế, bách tính thiên hạ nhất định sẽ nhìn phong cảnh mà hưởng ứng.

Biết rõ hoàng đế của mình "hại bách tính quá khổ sở, ai nấy nghĩ đến đều căm hận", thế mà còn muốn tôn phò một tên tiểu lưu manh biết vơ vét mồ hôi nước mắt bách tính nhất. Giả sử Vi Tiểu Bảo làm hoàng đế, bách tính khổ sở đến mức nào, thật sự là không thể tưởng tượng nổi. Còn bản thân hình tượng kiểu A Q của Vi Tiểu Bảo này, lại càng là tập đại thành những tệ nạn tính cách quốc dân Trung Quốc, vấn đề này đã có rất nhiều học giả tiến hành nghiên cứu hệ thống, bài viết này không mở rộng nữa. Sự kiểm điểm của tiểu thuyết Kim Dung đối với tệ nạn văn hóa Trung Quốc là từ nhiều mặt, chỉ nhìn từ những điều trên cũng đủ thấy chiều sâu của nó.

Sự phê phán của tiểu thuyết Kim Dung đối với tính cách quốc dân Trung Quốc, có sự thông suốt với tinh thần văn học mới "Ngũ Tứ". Thực chất là sự kéo dài của tinh thần "Ngũ Tứ" trong lĩnh vực tiểu thuyết thông tục; về tư tưởng, có lẽ chưa đạt tới chiều sâu như Lỗ Tấn; nhưng do dung lượng tiểu thuyết to lớn, miêu tả tỉ mỉ cũng như số lượng độc giả đông đảo, độ rộng ảnh hưởng của nó không hề thua kém văn học mới.

Bốn, Phê phán chính trị chuyên chế

Tỷ trọng miêu tả chính trị và suy ngẫm chính trị trong tiểu thuyết Kim Dung rất lớn. Ông phê phán các loại tệ nạn của xã hội chuyên chế, vạch trần sùng bái cá nhân do tập quyền dẫn đến.

Trong hồi đầu tiên của "Lộc đỉnh ký", Kim Dung đã biểu đạt quan điểm chính trị của mình một cách vô cùng độc đáo:

Vị văn sĩ đó nhấp bút chấm mực, viết một chữ "hươu" trên giấy, nói rằng: "Loài dã thú hươu này, tuy là vật thể khổng lồ, tính tình lại vô cùng ôn hòa, chỉ ăn cỏ xanh và lá cây, chưa từng làm tổn thương loài dã thú khác. Dã thú hung mãnh muốn tổn thương nó ăn thịt nó, nó chỉ đành bỏ chạy, giả sử chạy không thoát, thì chỉ đành cho người ta ăn thôi." Lại viết hai chữ "trục hươu", nói rằng: "Cho nên cổ nhân thường lấy hươu để ví von thiên hạ. Bách tính trên đời đều ôn thuần lương thiện, chỉ có phần bị người ta ức hiếp tàn hại. Sách "Hán Thư" có nói: 'Tần thất kỳ lộc, thiên hạ cộng trục chi.' Tức là nói, nhà Tần mất thiên hạ, quần hùng nổi dậy, mọi người tranh giành, cuối cùng Hán Cao Tổ đánh bại Sở Bá Vương, liền chiếm được con hươu vừa béo vừa to này."

Đứa trẻ gật đầu nói: "Ta hiểu rồi. Sách tiểu thuyết nói 'trục hươu Trung Nguyên', chính là ý nghĩa mọi người tranh nhau làm hoàng đế."

Vị văn sĩ đó rất thích thú, gật đầu, vẽ trên giấy một hình chiếc đỉnh, nói rằng: "Cổ nhân nấu ăn, không dùng lò bếp cái nồi, mà dùng ba chiếc đỉnh có chân như thế này, bên dưới đốt củi, bắt được hươu, liền nấu lên ăn ở trong đỉnh. Hoàng đế và đại quan đều rất tàn ác, trong lòng không thích ai, liền nói người đó phạm tội, đặt người đó vào trong đỉnh nấu sống cho chín. Sách "Sử Ký" có ghi chép Lạng Tương Như nói với Tần Vương rằng: 'Thần tri khiêu đại vương chi tội đương tru dã, thần thỉnh tự đỉnh oa.' Tức là nói: 'Thần đáng chết, đem thần thiêu trong đỉnh đi!'"

Đứa trẻ nói: "Sách tiểu thuyết lại thường nói 'vấn đỉnh Trung Nguyên', điều này hình như ý nghĩa gần giống với 'trục hươu Trung Nguyên'."

Vị văn sĩ nói: "Không sai. Hạ Vũ Vương thu gom vàng ở cửu châu, đúc nên chín chiếc đỉnh lớn. Cái gọi là 'vàng' lúc bấy giờ thực ra là đồng. Trên mỗi chiếc đỉnh đúc tên của cửu châu và hình vẽ sơn xuyên, người làm chủ thiên hạ đời sau, liền bảo lưu cửu đỉnh. Sách "Tả Truyện" có nói: 'Sở tử quan binh vu Chu cương. Định Vương sử Vương Tôn Mãn lao Sở tử. Sở tử vấn đỉnh chi đại tiểu khinh trọng yên.' Sở tử chỉ là chư hầu nước Sở, ông ta hỏi trọng lượng lớn nhỏ của đỉnh, chính là tâm hoài bất quỹ, muốn lấy vị trí Chu Vương mà thay vào đó."

Đứa trẻ nói: "Cho nên 'vấn đỉnh', 'trục hươu' chính là muốn làm hoàng đế. 'Vị tri lộc tử thùy thủ', chính là không biết vị nào làm thành hoàng đế."

Kim Dung đứng trên lập trường của nhân dân để nhìn nhận "công nghiệp" của đế vương. Mao Trạch Đông trong "Hạ tân lang · Đọc sử" có nói: "Ngũ đế tam hoàng thần thánh sự, lừa gạt vô nhai lữ khách." Kim Dung trong "Xạ điêu anh hùng truyện" mượn một khúc nhạc nói rằng: "Thịnh, bách tính khổ; vong, bách tính khổ." Tiểu thuyết Kim Dung vạch trần sự thần thánh của chính trị chính trị văn hóa Trung Quốc, vạch trần những góc tối từ chính trị triều đình đến chính trị dân gian.

Hồi thứ mười chín của "Bích huyết kiếm" viết rằng:

Lý Nham tâm đầu đại chấn, liền đứng phắt dậy. Hắn biết từ xưa đến nay việc kiêng kỵ nhất của đế vương, không gì bằng có người nhòm ngó ngá vàng của hắn. Các vị anh chủ khai quốc các triều đại vì sao tàn sát công thần, như Hán Cao Tổ, Minh Thái Tổ v.v. đem các đại tướng dưới tay giết đến rơi rụng tả tơi, chính là sợ bọn chúng mưu triều soán vị, nếu Lý Tự Thành mà tin lời này, vậy thì hỏng bét, không khỏi run giọng nói rằng: "Cái này... cái này... cái này..."

Kim Dung không chuyên hướng vào một số "bạo quân", "hôn quân", mà trọng tâm là vạch trần ác quả do thể chế dẫn đến. Có lúc Kim Dung còn dùng điếu văn tán thưởng đối với một số đế vương. Ví dụ như hồi thứ ba mươi tư của "Lộc đỉnh ký" viết rằng:

Khang Hi cười mấy tiếng, đoạn nghiêm sắc mặt nói rằng: "Trẫm đọc sử sách triều trước, phàm là kẻ yêu quý bách tính, ắt sẽ hưởng quốc lâu dài, bằng không toàn nói những lời cát tường, lại có ích gì chứ? Từ xưa đến nay, ai nấy đều gọi hoàng đế là vạn tuế, kỳ thực đừng nói vạn tuế, hoàng đế thọ hưởng một trăm tuổi còn không có nữa mà. Cái gọi là 'vạn thọ vô cương', đều là lời quỷ gạt người. Phụ hoàng ân cần dặn dò, bảo trẫm tuân hành huấn dụ 'vĩnh bất gia phú', trẫm suy nghĩ kỹ càng, chỉ cần tuân thủ bốn chữ này, giang sơn của chúng ta chính là sắt thép. Đại bác của người ngoại quốc gì chứ, binh mã của Ngũ Sáu gì chứ, hoàn toàn không cần lo lắng."

Kim Dung mượn miệng Khang Hi, phản châm biếm tệ nạn của chế độ quân chủ phong kiến. Kỳ thực ngay dưới sự thống trị của vị quân chủ "thánh minh" như Khang Hi này, cũng là tham quan hoành hành, án oan liên miên, những kẻ như Vi Tiểu Bảo phất lên như diều gặp gió, nhân tài chân chính lại chịu sự áp chế no đủ. Kim Dung không chỉ từ mặt văn hóa, mà còn từ mặt chính trị, viết ra nguyên nhân vì sao xã hội phong kiến Trung Quốc sụp đổ, ở ý nghĩa này, nó có chiều sâu giống như "Hồng lâu mộng".

Những năm 50-70, màu sắc sùng bais cá nhân trong văn học đại lục Trung Quốc ngày càng nồng đậm. Cùng lúc đó, Kim Dung cố ý tiến hành phê phán không thương tiếc đối với vấn đề sùng bái cá nhân. Đông Phương Bất Bại, Nhậm Ngã Hành của Nhật Nguyệt Thần Giáo trong "Tiếu ngạo giang hồ" là ví dụ thường được người bàn luận nhắc tới, lão quái Tinh Túc trong "Thiên long bát bộ" cũng là một ví dụ, Hồng giáo chủ của Thần Long Giáo trong "Lộc đỉnh ký" cũng là một ví dụ. Tập đoàn nịnh nọt ca tụng công đức sinh ra dưới thể chế chuyên đoán cá nhân, ông đã viết không ít tập đoàn như thế.

Tóm lại, tiểu thuyết Kim Dung lấy "Trung Quốc văn hóa" làm cờ hiệu, tiến hành phát huy và phê phán toàn phương vị đối với văn hóa Trung Quốc, khiến độc giả hiện đại Trung Quốc thiết lập lại niềm tin nhà nước dân tộc phức tạp. Quan niệm Trung Quốc văn hóa này với truyền thống văn học mới từ "Ngũ Tứ" đến nay và truyền thống văn học Trung Quốc mới từ năm 1949 đến nay vừa có xung đột, vừa có hô ứng, cho nên, tranh cãi về giá trị tư tưởng và giá trị nghệ thuật của tiểu thuyết Kim Dung chắc chắn sẽ kéo dài trong một thời kỳ khá dài, mà sự phát triển văn học quốc dân của Trung Quốc cũng tất yếu sẽ chịu ảnh hưởng to lớn của văn học Kim Dung. Kỳ thực, ảnh hưởng này đã xảy ra rồi.

(Bài viết này vốn là luận án Hội nghị quốc tế tiểu thuyết Kim Dung năm 2003, đồng thời nộp cho tạp chí "Trung Quốc hiện đại" để đăng tải)

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Khổng Khánh Đông

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.