Vào đêm muộn ngày 3 tháng 5 năm 1919, bên trong Tòa nhà Đỏ hùng vĩ và trầm mặc của Đại học Quốc gia Bắc Kinh, đèn đuốc sáng trưng, tiếng người sôi sục. Trong và ngoài hội trường chật kín các đại biểu học sinh của các trường đại học cao đẳng ở Bắc Kinh. Một phóng viên tên là Thiệu Phiêu Bình lớn tiếng nói: "Hiện nay vận mệnh dân tộc đang treo sợi tóc, nếu chúng ta tiếp tục trầm mặc chờ đợi, dân tộc sẽ không có đường cứu vong, mà chỉ có con đường diệt vong. Bắc Kinh là học phủ cao nhất toàn quốc, nên đứng ra gánh vác, động viên học sinh các trường, cứu vong đồ tồn (cứu nước tự cứu), dũng cảm kháng chiến." Mọi người nghe xong, bi phẫn đan xen, có người dậm chân đấm ngực, khóc không thành tiếng. Một học sinh bước lên trước, kích động đến mức không nói nên lời. Chỉ thấy anh "rẹt" một tiếng, xé một mảng vạt áo lớn, giơ ngón giữa lên, cắn một cái rách toác, vung tay viết vội bốn chữ lớn bằng máu lên vạt áo: "Trả lại Thanh Đảo của tôi".
Thế là phong trào "Ngũ Tứ" vang dội cả Trung Quốc thế kỷ 20 đã bùng nổ.
Nếu nói "Ngũ Tứ" là bình minh của Trung Quốc thế kỷ 20, vậy thì khi bình minh này đến, thế kỷ 20 đã trôi qua gần một phần năm. Thời kỳ bình minh rốt cuộc dài bao nhiêu, chưa từng có ai định nghĩa. Giả như không có tiếng gọi, không có tiếng gào thét, liệu bình minh có tự động kéo đến hay không? Khi con người đã hô vang, đã xé toạc, đã xung phong, đã ngã quỵ, thì đây đã trở thành một đề tài đáng để suy ngẫm bình tĩnh.
Ý nghĩa của "Ngũ Tứ" vượt xa những gì một ngọn lửa ở Triệu Gia Lâu có thể khái quát. Nếu đứng ở năm 1921 khi cao trào "Ngũ Tứ" vừa lắng xuống để nhìn lại cự ly gần "Ngũ Tứ", sẽ phát hiện ra rằng, năm sáu năm vừa qua đã xé rách một màn máu che kín bầu trời khỏi vòm trời văn hóa, điều này mới khiến cho Trung Quốc những năm 20 bắt đầu hiển hiện một bầu không khí đầu xuân "nắng sớm chiếu rọi gò cao". Cái gọi là "Ngũ Tứ", hoàn toàn không phải là một ngày vào cuối xuân đầu hạ năm 1919 công nguyên, mà là giai đoạn động thai chuyển mình bước vào một thời đại văn hóa hoàn toàn mới mẻ đầy sức sống của nền văn minh Trung Hoa cổ đại.
Nhắc đến "Ngũ Tứ", mọi người đều sẽ nhớ đến Lỗ Tấn, Hồ Thích, Trần Độc Tú, Lý Đại Tiêu. Nhưng còn có một cái tên quan trọng không kém tuyệt đối không thể quên, đó chính là Thái Nguyên Bồi.
Thái Nguyên Bồi (1868—1940), tự Hạc Khanh, một tự là Tịch Dân, người Thiệu Hưng, Chiết Giang, là nhà cách mạng dân chủ và nhà giáo dục nổi tiếng. Ông không phải là người khởi xướng phong trào Tân văn hóa, nhưng lại là người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho phong trào này.
Thái Nguyên Bồi đến Đại học Bắc Kinh nhậm chức hiệu trưởng. Ông đã tiến hành một loạt chấn chỉnh cải cách đối với Đại học Bắc Kinh, thực hiện giáo sư trị hiệu, khuyến khích nghiên cứu học thuật, mở ra một không gian ngôn luận rộng rãi và tốt đẹp cho phong trào Tân văn hóa.
Thái Nguyên Bồi nói: "Đại học Bắc Kinh là học phủ tối cao dung nạp đại điển, bao la vạn chúng." Phương châmbiện học (làm giáo dục) của ông là: "Tuân theo nguyên tắc 'tư tưởng tự do', theo chủ nghĩa dung nạp bao dung." "Bất luận học phái nào, hễ lời nói có lý, giữ vững có hiệu quả, chưa đến mức bị đào thải tự nhiên, dù cho trái ngược nhau, đều nghe theo sự phát triển tự do của họ."
Phương châm quản lý trường học của Thái Nguyên Bồi thực ra đã khai phá trận địa cho tư trào mới, văn hóa mới. Sau khi làm hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, ông đã mời người xướng đạo phong trào Tân văn hóa là Trần Độc Tú nhậm chức Khoa trưởng khoa Văn học, Lý Đại Thọ làm Chủ nhiệm thư viện. Còn có Hồ Thích, Lưu Bán Nông, Tiền Huyền Đồng, Chu Tác Nhân, Lỗ Tấn cùng một nhóm nhà khoa học tự nhiên đi du học trở về lần lượt đến Đại học Bắc Kinh nhậm giáo. Nhưng đồng thời, Đại học Bắc Kinh cũng có một nhóm giáo sư phái cũ đại diện bởi Lưu Sư Bồi, Cố Hồng Minh. Thường có tình huống thế này, giảng viên tiết trước mặc âu phục giày da, giảng viên tiết sau lại mặc áo dài khăn đóng. Ví dụ như Cố Hồng Minh, ông giảng văn học Anh, sau gáy lại tết một cái đuôi sam, bởi vì ông là người ủng hộ đế chế Mãn Thanh...
Trên thực tế, không gian bình đẳng tuyệt đối là không tồn tại, bất kỳ sự bình đẳng nào cũng tất yếu có khuynh hướng hiện thực của nó. Trong "không gian bình đẳng" của lão thần Quốc Dân Đảng Thái Nguyên Bồi này, người thực sự được hưởng lợi lại là một nhóm lãnh đạo khai thiên lập địa của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Tổng bí thư đầu tiên của Đảng Cộng sản Trung Quốc Trần Độc Tú (1880—1942), tự Trọng Phụ, người Hoài Ninh, An Huy. Ngay từ trước khi Đảng Cộng sản Trung Quốc ra đời, ông đã là nhân vật lãnh đạo lừng lẫy trong giới văn hóa, đến mức một số kẻ sợ hãi ông, thù địch ông gọi ông là "Trần Độc Thú" hay "Trần Độc Hạt". Năm 1904, ông sáng lập "An Huy Tục Thoại Báo", dốc sức đánh thức nhân dân. Từng gia nhập Đồng Minh hội do Tôn Trung Sơn lãnh đạo, tham gia Cách mạng Tân Hợi. Trong cuộc đấu tranh chống Viên Thế Khải khôi phục đế chế, Trần Độc Tú bị bắt vào ngục, suýt nữa gặp nạn. Mặc dù nước cộng hòa đã thay thế đế chế, nhưng dưới lá cờ ngũ sắc tiêu điều ủ rũ, toàn bộ đất nước vẫn chìm trong khói lửa nội ưu ngoại hoạn đan xen giày vò. Thất bại của từng cuộc cách mạng khiến thế hệ tri thức đại diện bởi Trần Độc Tú rơi vào suy tư khổ sở. Trần Độc Tú cho rằng, các cuộc vận động trước đây đều là cách mạng chính trị từ trên xuống dưới, mà Trung Quốc muốn trở thành cường quốc hiện đại thực sự, cần phải có một cuộc cách mạng tư tưởng quốc dân phổ biến từ dưới lên trên.
Tháng 9 năm 1915, một tờ "Thanh niên tạp chí" được sáng lập tại Thượng Hải, phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ" từ đây mở màn.
Từ tập thứ hai, "Thanh niên tạp chí" đổi tên thành "Tân thanh niên", theo chủ biên Trần Độc Tú chuyển đến Đại học Bắc Kinh, trở thành tờ tạp chí cốt lõi quan trọng nhất trong phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ".
Trần Độc Tú đăng bài viết "Kính cáo thanh niên" trên số đầu tiên, chỉ ra rằng trao đổi chất là quy luật phổ biến trong vũ trụ, "Con người tuân theo đạo lý trao đổi chất thì khỏe mạnh, tế bào hủ bại cũ kỹ lấp đầy cơ thể thì con người chết; xã hội tuân theo đạo lý trao đổi chất thì hưng thịnh, phần tử hủ bại cũ kỹ lấp đầy xã hội thì xã hội vong." Từ đó đưa ra sáu điều kỳ vọng đối với thanh niên:
Độc lập chứ không phải nô lệ.
Tiến bộ chứ không phải bảo thủ.
Tiến thủ chứ không phải thoái ẩn.
Thế giới chứ không phải bế quan tỏa cảng.
Thực lợi chứ không phải hư văn.
Khoa học chứ không phải tưởng tượng.
Sáu điều kỳ vọng này bao hàm các nội dung chính của phong trào Tân văn hóa như dân chủ, khoa học, cởi mở, canh tân.
Nên hiểu rõ chân tướng nhân sinh.
Nên hiểu rõ ý nghĩa quốc gia.
Nên hiểu rõ quan hệ giữa quốc gia và kinh tế xã hội.
Nên hiểu rõ sự gian khổ của trách nhiệm tương lai.
Trần Độc Tú kỳ vọng vun trồng một thế hệ tân quốc dân "ý chí ngoan cường, thiện chiến không lùi, thể phách cường tráng, sức chống tự nhiên, tin tưởng bản năng, không dựa dẫm vào người khác để sống, thuận theo bản tính chân chất, không tô điểm giả dối tự văn".
Trong bài viết "Chủ nghĩa yêu nước của tôi", Trần Độc Tú chỉ ra:
Trung Quốc ngày nay, bên ngoài bị ép bởi cường địch, bên trong bức bối bởi độc phu... Mà nguyên nhân bị ép bởi độc phu cường địch, chính là đạo đức công tư của dân tộc có chỗ chiêu vời vậy, thử nhìn hiện tượng trong nước, như loạn chính của võ nhân, như sự trống rỗng của phủ khố, như sự điêu linh của ngành nghề, như sự hủ bại của xã hội, như sự đọa lạc của nhân cách, như sự tham ô của quan lại, như sự tràn lan của lưu dân cướp bóc, như sự lưu hành của dịch bệnh hạn hán; phàm những thứ này, không một thứ nào không là căn nguyên nước mất giống diệt.
Từ đó, Trần Độc Tú đề xướng mấy chữ lớn "cần, kiệm, liêm, khiết, thành, tín", coi là "đạo lý trọng yếu để cứu nước".
Một khi xảy ra nguy cơ nước mất nhà tan, thì bất luận nền văn minh này từng có vinh quang thế nào, cũng không thể không khiến người ta suy ngẫm sâu sắc những tệ nạn tích tụ của nó.
Trong khoảng thời gian gần 80 năm từ "Chiến tranh Nha phiến" đến "Phong trào Ngũ Tứ", người Trung Quốc một mặt nỗ lực biến pháp tự cứu, mặt khác cũng nỗ lực dùng văn hóa truyền thống của chính mình để kháng cự và tiêu giải văn hóa phương Tây ngoại lai. Dầu mới và bùn cũ trên bánh răng giao hòa với nhau, 1234 và Tý Sửu Dần Mão trên chiếc đồng hồ treo tường đặt song song với nhau, trên khẩu đại bác Đức của Bắc Dương Thủy sư phơi phóng quan phục Đại Thanh chim bay thú chạy... Lý thuyết Trung học vi thể, Tây học vi dụng khiến nhiều người vẫn chìm đắm trong sự mê tín rằng văn minh Trung Hoa thiên hạ đệ nhất, quỷ tây đều là cầm thú vô quân vô phụ.
Tuy nhiên, phong trào Dương vụ làm mấy chục năm, Trung Quốc vẫn hết lần này đến lần khác bại trận. Trong ánh lửa của Viên Minh Viên, giữa tiếng kêu cứu và chửi rủa của binh lính Đại Thanh bị tàn sát như chém dưa thái rau, các điều ước bất bình đẳng chất đống như tuyết phiến. Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn gần như đem tất cả văn hóa truyền thống Trung Quốc nâng ra hết, từ "tôn vương nhương di" của Khổng Tử, đến Như Lai tế thế của Phật gia; từ Âm dương ngũ hành Bát quái, đến vẽ bùa niệm chú làm phép; từ Kết nghĩa vườn đào, đến bốn thầy trò Đường Tăng. Tập hợp một đội ngũ mạnh mẽ đến mức vô gia thêm thắt như Khương Tử Nha, Gia Cát Lượng, Triệu Tử Long, Nhạc Phi, Ly Sơn Lão Mẫu, Tây Sở Bá Vương, Cửu Thiên Huyền Nữ, Thác Tháp Thiên Vương, Tế Công, Võ Tòng, Hoàng Thiên Bá, Tần Quỳnh, Dương gia tướng, Quan Âm Bồ Tát cho đến Ngọc Hoàng Đại Đế. Kết quả, vẫn đại bại một trận.
Điều này khiến những chí sĩ đầu thế kỷ 20 nhận thức được rằng: Đối với truyền thống văn hóa mà chúng ta trân trọng, bắt buộc phải tiến hành một đợt thanh lý và cải cách nghiêm túc. Lỗ Tấn nói:
"Chủng người không thể canh tân, cũng không thể bảo cổ."
Thế nhưng, đạo lý vốn dĩ không thâm sâu này, người Trung Quốc cho đến tận ngày nay vẫn không hiểu rõ. Có thể ôm mục đích "bảo cổ" để đi "cạnh tân", thì đã được coi là chí sĩ khai minh rồi. Thế là, đại đa số mọi người đều cảm thấy bị "xé toạc".
Thực ra, ngay trước và sau "Ngũ Tứ", thứ thống trị đại não người Trung Quốc vẫn là cương thường danh giáo và báo ứng quỷ hồ. Cách mạng Tân Hợi đã đuổi hoàng đế người Mãn tộc đi, nhưng chưa hề chạm đến hoàng đế trong đại não người Trung Quốc. Năm 1916 Viên Thế Khải muốn xưng đế, năm 1917 Trương Tịch muốn phục tích, những "tráng cử" này vốn dĩ không phải là trò hề thuần túy không có cơ sở dân ý. Trong số các tráng sĩ ủng hộ đế chế, không thiếu những công thần của Cách mạng Tân Hợi. Khang Hữu Vi từng được coi là đảng viên cấp tiến, lúc này lại dốc sức tuyên truyền đưa Khổng giáo làm quốc giáo, đưa vào hiến pháp. Trong nỗi hoang mang mất đi hoàng đế, sự ỷ lại của con người đối với hoàng đế trong lòng trở nên bức thiết hơn, thành kính hơn. Trần Độc Tú trong bài viết "Tư tưởng cũ và vấn đề quốc thể" nói: "Tư tưởng hủ cũ tràn ngập trong nước, cho nên chúng ta muốn thành tâm củng cố quốc thể nước cộng hòa, không quét sạch đám tư tưởng cũ về luân lý văn học phản đối cộng hòa này đi một cách sạch sành sanh thì không được. Nếu không thì không chỉ chính trị cộng hòa không thể tiến hành, ngay cả cái biển hiệu cộng hòa này cũng treo không nổi."
Nhắm vào trào lưu cúng Khổng đọc kinh nổi lên ở khắp nơi, phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ" tập trung mũi nhọn phê phán dòng nghịch lưu này. Bài viết phản đối việc coi học thuyết Khổng Tử là tôn duy nhất sớm nhất là "Khổng tử bình nghị" của Dịch Bạch Sa, sau đó càng nhiều người lao vào.
Trong tiểu thuyết của Ba Kim và Mâu Thuẫn từng miêu tả cảnh quan nhân văn Tứ Xuyên bế tắc bảo thủ thời kỳ "Ngũ Tứ". Ngay tại Tứ Xuyên lúc này, lại sinh ra một tiên phong phê bình Khổng giáo nổi đình nổi đám, tên của ông là Ngô Ngu.
Ngô Ngu (1871—1949), tự Hựu Lăng, người Tân Phồn, Tứ Xuyên. Ông năm 1906 du học Nhật Bản, sau khi về nước nhậm giáo ở Thành Đô. Khi "Tân thanh niên" mới phát hành đến Thành Đô, chỉ có 5 bản, Ngô Ngu và học sinh của ông mỗi người mua 1 bản.
Ngô Ngu bị "Tân thanh niên" thu hút sâu sắc, tích cực lao vào cuộc biến đổi văn hóa này. Ông đã phát biểu các bài viết như "Gia tộc chế độ vi chuyên chế chủ nghĩa căn luận", "Nho gia chủ trương giai cấp chế độ chi hại", "Biện Mạnh tử tích Dương Mặc chi phi", "Đối ư tự khổng vấn đề chi ngã kiến", "Cật nhân dữ lễ giáo", tiến hành phê phán nghiêm khắc đối với văn hóa cũ lễ giáo cũ phong phong. Ông nói:
Nhị thập tứ sử, chỉ là gia phả của đế tử, hành trạng của quan lại, đời đời nối tiếp nhau, cá mè một lứa... Chỉ biết có quân chủ mà không biết có quốc gia, chỉ biết có cá nhân mà không biết có quần thể, trương dương quân quyền, sùng sủng Nho giáo; đối với sự được mất về quyền lợi của nhân dân, sự tiêu trưởng của văn hóa xã hội, hoàn toàn không hỏi tới. Lịch sử chính là do triều đình chuyên hữu, thế nên ngoài việc triều đình ra, không còn gì khác để ghi chép.
Than ôi! Đạo Khổng Mạnh ở trong Lục kinh, tinh hoa của Lục kinh ở trong luật lệ Mãn Thanh, mà luật lệ Mãn Thanh thì được người Âu Mỹ gọi là đại diện cho chế độ giai cấp tôn ti quý tiện dã man của Trung Quốc.
Thiên hạ có hai họa lớn: Một là chuyên chế của quân chủ, hai là chuyên chế của giáo chủ. Chuyên chế của quân chủ trói buộc ngôn luận của con người; chuyên chế của giáo chủ kìm kìm tư tưởng của con người. Chuyên chế của quân chủ đạt đến cực điểm ở việc Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho, Hán Vũ Tiết bãi truất bách gia; chuyên chế của giáo chủ đạt đến cực điểm ở việc Khổng Tử giết Thiếu Chính Mão, Mạnh tử cự tuyệt Dương Mặc.
Ngô Ngu đã chỉ ra sắc bén mối quan hệ giữa Nho giáo và chuyên chế, đặc biệt đặt ra câu hỏi dũng cảm và phê phán đối với học thuyết Khổng Tử mà kẻ thống trị phong kiến dùng làm bùa hộ mệnh, đập vỡ thần tượng của thánh nhân phong kiến, vì thế được Hồ Thích gọi là "anh hùng một tay đánh đổ tiệm Khổng ở tỉnh Tứ Xuyên".
Những "Nam Trần Bắc Lý" trong số những người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, đều là chủ tướng của phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ". Lý Đại Thọ (1889—1927), tự Thủ Thường, người Nhạc Đình, Hà Bắc. Các bài viết như "Khổng Tử và Hiến pháp", "Quan điểm luân lý tự nhiên và Khổng Tử", "Hương nguyện và đại đạo" do ông phát biểu, phản đối việc đưa Khổng giáo vào hiến pháp, chỉ ra "tam cương" của Nho gia là "bùa hộ mệnh cho chuyên chế của các triều đại đế vương", là "linh hồn của chính trị chuyên chế". Nhưng đồng thời Lý Đại Thọ giải thích rằng: "Việc tôi đả kích Khổng Tử, không phải đả kích bản thân Khổng Tử, mà là đả kích Khổng Tử là thần tượng được đắp nặn bởi các đời quân chủ."
Thực ra đây là nhận thức chung của những người tiên phong trong phong trào Tân văn hóa. Họ đều cho rằng bản thân Khổng Tử trong lịch sử là bậc thánh triết, là vĩ nhân. Trần Độc Tú từng khuyên nhủ thanh niên lấy Khổng Tử, Mặc Tử làm gương, Ngô Ngu cũng từng nói Khổng Tử là vĩ nhân thời bấy giờ, Lý Đại Thọ nói Khổng Tử là thánh triết thời đại ông sinh sống, học thuyết của ông cũng đủ đại diện cho đạo đức thời bấy giờ. Lại còn nói nếu Khổng Tử sống đến ngày nay, sẽ sáng tạo ra học thuyết mới để thích ứng với xã hội hiện đại. Có thể thấy họ hoàn toàn không phủ định toàn diện Khổng Tử như một số học giả vô tri tưởng tượng ra từ hư không, mà là coi "Ngũ Tứ" là rất nhiều tư tưởng của Khổng Tử không thích ứng với ngày nay, hơn nữa Nho gia chỉ là một nhà trong bách gia, không thể định là tôn duy nhất, Trần Độc Tú, Dịch Bạch Sa, Ngô Ngu đều rất tôn sùng tư tưởng của Mặc Tử. Trong ý thức của những người tiên phong "Ngũ Tứ", phạm vi quốc học lớn hơn rất nhiều so với phạm vi Khổng học. Ngày nay, đặc biệt nên đính chính là, thời đại "Ngũ Tứ" hoàn toàn không có câu khẩu hiệu bị người đời sau truyền tụng sai lệch là "đánh đổ tiệm Khổng". Thực ra phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ" do nhiều trào tư tưởng hợp thành, có phái tương đối cấp tiến, tỷ như "Tân thanh niên", có phái tương đối bảo thủ, tỷ như Học Hành phái, nhưng Học Hành phái cũng tán thành cải cách, lại còn phái chủ trương dung nạp bao dung, tỷ như Thái Nguyên Bồi. Họ đều chủ trương cải cách văn hóa truyền thống, nhưng không ai hoàn toàn phủ định và vứt bỏ văn hóa truyền thống.
Trần Độc Tú nói: "Khổng giáo là học thuyết có lực lượng trong lịch sử nước ta, là công cụ thống nhất lòng người vô hình trong tinh thần của chúng ta, bỉ nhân đều hoàn toàn thừa nhận, mà không hoài nghi mảy may."
Chúng ta phản đối Khổng giáo, không phải phản đối cá nhân Khổng Tử, cũng không phải nói ông không có giá trị trong xã hội cổ đại. Chỉ vì ông không thể chi phối lòng người hiện đại, thích ứng với trào lưu hiện đại, lại có một đám người cứ khăng khăng lôi ông ta ra để áp bức lòng người hiện đại, chống lại trào lưu hiện đại, đã trở thành chướng ngại lớn nhất cho sự tiến hóa hiện đại của chúng ta.
Ngô Ngu cũng nói: "Thứ chúng ta công kích ngày nay chính là lễ giáo, chứ không phải lễ nghi."
Phong trào Tân văn hóa đả kích mãnh liệt tư tưởng cũ đạo đức cũ, dốc sức giới thiệu các trào tư tưởng phương Tây như học thuyết tự do bình đẳng, tư tưởng giải phóng cá tính, chủ nghĩa tiến hóa xã hội, đặc biệt nổi bật giương cao hai ngọn cờ lớn dân chủ và khoa học. Căn cứ vào phiên âm của hai từ dân chủ và khoa học (Democracy và Science), lúc bấy giờ còn được gọi là "Đức tiên sinh" và "Thải tiên sinh", những người tiên phong "Ngũ Tứ" cho rằng dòng máu tươi mới mà văn minh Trung Hoa đang cực kỳ cần nhập vào không ai khác ngoài hai vị tiên sinh này. Trần Độc Tú trong "Tân thanh niên" tập 6 số 1 đã phát biểu "Bản chí tội án chi đáp biện thư", bày tỏ: "Nếu vì ủng hộ hai vị tiên sinh này, mọi sự áp bức của chính phủ, công kích mắng mỏ của xã hội, dù là chém đầu đổ máu, cũng không từ chối."
Chính là trong một khoảng trời quang mây tạnh được quét ra bởi cây gậy nghìn cân của phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ", ánh dương ban mai của cuộc cách mạng văn học đã bừng nở.
Lý Đại Thọ trong số báo đầu tiên của "Thần Chung Báo" do ông nhậm chức tổng biên tập đã nói:
Từ xưa sự ra đời của nền văn minh mới, tất có văn nghệ mới làm tiếng vang trước cho nó, mà sự bừng khởi của văn nghệ mới, đặc biệt phải nhờ vào một hai bậc triết nhân, phạm vào sự bất kính của đời bấy giờ, phát huy lý tưởng của họ, chấn hưng uy quyền tự ngã của họ, làm tiếng thét lớn cho sự thức tỉnh tự ngã, sau đó đám đông trầm mê lúc bấy giờ mới nhờ vào đó mà giật mình tỉnh giấc.
Văn học là vật tải trọng quan trọng của tư tưởng văn hóa, luân lý đạo đức, muốn canh tân văn hóa cũ, thì bắt buộc phải canh tân văn học cũ.
Trần Độc Tú nói:
Muốn ủng hộ Đức tiên sinh đó, thì đành phải phản đối lễ giáo, lễ pháp, trinh tiết, luân lý cũ, chính trị cũ. Muốn ủng hộ Thải tiên sinh đó, thì đành phải phản đối nghệ thuật cũ, tôn giáo cũ, muốn ủng hộ Đức tiên sinh, lại muốn ủng hộ Thải tiên sinh, thì đành phải phản đối quốc túy và văn học cũ.
Thế là, một cuộc cách mạng văn học phản đối văn ngôn, đề xướng bạch thoại, phản đối văn học cũ, đề xướng văn học mới đã diễn ra với khí thế không thể cản phá. Ở đây, cần phải giới thiệu vị vai chính lĩnh xướng phái thợ săn nổi tiếng ấy, ông chính là Hồ Thích — người từng làm hiệu trưởng Đại học Bắc Kinh, viện trưởng viện văn học và chủ nhiệm năm khoa, giành được mấy chục học hàm tiến sĩ danh dự trên toàn thế giới, nhiệt tình sưu tầm các câu chuyện sợ vợ ở năm châu, lại từng mơ tưởng ra làm tổng thống Trung Hoa Dân Quốc.
Hồ Thích (1891—1962), tự Thích Chi, người Tích Khê, An Huy. Trên mảnh đất phong thủy bảo địa chính tông của văn học cũ là An Huy này, lại sản sinh ra hai kẻ đào mồ chôn văn học cũ là Hồ Thích và Trần Độc Tú. Trần Độc Tú bị mắng là "độc thú", "độc hạt", còn cái tên Hồ Thích Chi lại được một học giả lớn nổi tiếng dùng làm vế đối cho "Tôn Hành Giả" khi ra đề thi, bởi vì "hồ" và "tôn" đều có nghĩa là con khỉ. Nói chung là không thuộc loài người. Mà trong tiểu thuyết ám chỉ "Kinh Sinh" của đại sư cổ văn Lâm Cầm Nam, tên của Hồ Thích là "Địch Mạc", chữ "Địch" và chữ "Hồ", đều là hạng người man rợ, nói chung vẫn không phải đồng loại của ta. Chính là hai kẻ bị nhiều người coi là thiếu niên khinh bạc là một Hồ một Trần này, đã cùng nhau giương cao lá cờ trung quân của cuộc cách mạng văn học.
Tháng 1 năm 1917, Hồ Thích phát biểu "Văn học cải lương sù nghị" trên "Tân thanh niên", đề xuất "Ta vì bàn về cải lương văn học ngày nay, bắt đầu từ tám việc". Tám việc này là:
Phải nói có việc.
Không bắt chước người xưa.
Phải chú trọng văn pháp.
Không làm tiếng rên rỉ không bệnh.
Cốt bỏ sáo ngữ lời nhàm.
Không dùng điển tích.
Không bàn đối ngẫu.
Không né tránh chữ tục lời tục.
Tám việc này được Trần Độc Tú ca ngợi là "tiếng sét trong giới văn học Trung Quốc ngày nay".
Trần Độc Tú sau đó phát biểu "Văn học cách mạng luận" với thái độ càng thêm rõ ràng kiên quyết, "làm tiếng vang cho bạn ta". Trần Độc Tú hiên ngang đề xuất ba chủ nghĩa nổi tiếng:
Đánh đổ văn học quý tộc mài giũa nịnh nọt,
Xây dựng văn học quốc dân trữ tình bình dị;
Đánh đổ văn học cổ điển phô trương cũ kỹ,
Xây dựng văn học hiện thực lập thành tươi mới;
Đánh đổ văn học sơn lâm tối nghĩa khó hiểu,
Xây dựng văn học xã hội thông tục rõ ràng.
Ba chữ "đánh đổ" của Trần Độc Tú hoàn toàn không phải phủ định toàn diện văn học cổ đại. Văn học cổ điển mà ông muốn đánh đổ, thực ra chỉ văn học mô phỏng cổ đại. Ngay trong bài viết "Văn học cách mạng luận", Trần Độc Tú đã dùng rất nhiều chữ nghĩa ca ngợi phần ưu tú của văn học cổ điển, nói rằng "Quốc phong", "Sở từ" trong "Kinh Thi" đều là "rất đáng xem", ngũ ngôn từ thời Ngụy Tấn trở đi, thay đổi phong cách chất đống, lúc bấy giờ có thể coi là một cuộc cách mạng lớn của văn học, Hàn Lễ quật khởi, quét sạch khí thế mảnh mai chất đống của người trước, kịch bản Nguyên Minh, tiểu thuyết Minh Thanh, "chính là phần rực rỡ đáng xem của văn học cận đại". Ông chủ yếu phê phán phong cách văn chương mỹ miếu sáu triều, Tiền Thất Tử thời Minh một mực mô phỏng cổ đại, và một số nhân vật của phái Đồng Thành, gọi những kẻ rên rỉ không bệnh này là "mười tám yêu ma".
Sau khi chủ trương cách mạng văn học của Hồ Thích, Trần Độc Tú được sự hưởng ứng tích cực của Tiền Huyền Đồng, Lưu Bán Nông, Chu Tác Nhân, Lỗ Tấn và những người khác.
Tiền Huyền Đồng (1887—1939), hiệu Nghi Cổ, tự xưng Nghi Cổ Huyền Đồng, người Ngô Hưng, Chiết Giang, là nhà âm vận học văn tự. Lưu Bán Nông (1891—1934), tên cũ Lưu Phục, người Giang Âm, Giang Tô, là nhà văn học và nhà ngôn ngữ học. Hai người Tiền, Lưu để khiến cuộc cách mạng văn học khơi dậy tiếng vang lớn hơn, đã phát biểu "thư song hoàng" nổi tiếng. Do Tiền Huyền Đồng hóa danh Vương Kính Hiên, tập hợp các loại ngôn luận công kích văn học mới và văn viết bạch thoại, viết thư cho "Tân thanh niên", sau đó do Lưu Bán Nông viết "Phục Vương Kính Hiên thư" (tức "Phụng đáp Vương Kính Hiên tiên sinh"), từng điều vạch trần bác bỏ. Vị Vương Kính Hiên không có thật này, không chỉ đại diện cho quan điểm của phái bảo thủ ngoan cố, mà còn khơi gợi sự cộng hưởng của không ít kẻ có tư tưởng phục cổ.
Học giả, nhà dịch thuật nổi tiếng cận đại Lâm Thư phát biểu hai tiểu thuyết "Kinh Sinh", "Yêu mộng", công kích phong trào Tân văn hóa là "lời nói cầm thú". Lại phát biểu "Trí Thái Hạc Khanh thư", khuyên nhủ Thái Nguyên Bồi bảo tồn danh giáo, nói rằng "Đại học là bậc thầy toàn quốc, là thứ mà ngũ thường gắn kết", không nên "lật đổ Khổng Mạnh, xẻng bỏ luân lý". Lại nói nếu đề xướng văn bạch thoại, vậy thì tiểu thương tiểu phạn (tiểu thương tiểu phan) đều có thể làm giáo sư rồi.
Thái Nguyên Bồi đáp rằng, luân lý có năm: quân thần, phụ tử, huynh đệ, phu phụ, bằng hữu, Đại học Bắc Kinh ngoài việc phản đối luân quân thần phong kiến ra, "chưa từng có chuyện phụ tử coi thường nhau, huynh đệ kiện tụng lẫn nhau, phu phụ không phân biệt, bằng hữu không giữ chữ tín, giáo sư học sinh cả".
Đại học Bắc Kinh còn có một hội Tiến Đức, giới ước cơ bản của nó có không mua dâm, không nạp thiếp v.v., những điều này đều không trái ngược với đạo Khổng Mạnh.
Thái Nguyên Bồi lại nói, Đại học Bắc Kinh cũng không phải "bỏ hết cổ văn mà chuyên dùng bạch thoại", sách giáo khoa quốc văn, lịch sử văn học Trung Quốc và giảng nghĩa văn tự học, đều là văn ngôn.
Khi một học giả Nhật Bản chỉ trích Đại học Bắc Kinh không tôn kính Khổng Tử, bãi bỏ giảng kinh, Thái Nguyên Bồi đáp rằng: "Giáo sư Thôi Thích của Đại học Bắc Kinh giảng 'Ngũ kinh yếu nghĩa', 'Xuân thu phục thủy', giáo sư Trần Hán Chương giảng 'Kinh học thông luận', giáo sư Hoàng Tiết, Thẩm Doãn Mặc giảng 'Kinh Thi', giáo sư Lương Thấu Minh nghiên cứu triết học tiệm Khổng, Đại học Bắc Kinh từ lúc nào bỏ giảng kinh?" Chỉ là Đại học Bắc Kinh đối với học thuyết của các nhà "đều đối xử như nhau", đây mới là tấm lòng của Đại học Bắc Kinh.
Lý Đại Thọ thì phát biểu "Tư trào cũ mới giao tranh", cho rằng: "Sự tiến hóa của vũ trụ, hoàn toàn dựa vào hai loại tư trào cũ mới, tương trợ lẫn nhau, tương duy trì lẫn nhau, tựa như hai chiếc bánh xe vận hành một chiếc xe vậy; lại như một con chim dựa vào hai cánh, bay về phía bầu trời vậy. Tôi tin chắc hai loại tư trào này đều là điều cần thiết cho sự tiến hóa của đám đông, thiếu một thứ cũng không được... Tôi lại tin chắc hai loại tư trào này, một mặt phải có nhã lượng dung nạp người cùng tồn tại, mặt khác càng phải có kiên tâm độc thủ tự tin."
Yêu cầu của thời đại, cộng thêm sự phấn đấu của những người tiên phong, chủ trương văn học bạch thoại đã giành được thắng lợi.
Năm 1920, Bộ Giáo dục chính phủ Bắc Dương chính thức quy định bạch thoại là "quốc ngữ", ra lệnh toàn quốc các trường trung tiểu học áp dụng sách giáo khoa bạch thoại. Kể từ lúc đó, giáo dục khai tâm của trẻ em Trung Quốc không còn là những câu "Thiên địa huyền hoàng, vũ trụ hồng hoang" và "Thượng đại nhân Khổng Ất Kỷ" mà chúng lơ mơ hiểu được, mà là những thứ thích hợp nhất với chúng trên thế giới mà chúng đang sống này.
Phong trào văn bạch thoại không phải là toàn bộ cuộc cách mạng văn học. Lý Đại Thọ trong bài viết "Văn học mới là gì" đã nói:
Ý của tôi cho rằng vừa dùng bạch thoại viết bài văn, không tính là văn học mới; vừa giới thiệu chút học thuyết mới, sự thật mới, thuật lại chút nhân vật mới, liệt kê chút danh từ mới, cũng không tính là văn học mới.
Lỗ Tấn nói, văn học bạch thoại "nếu tư tưởng y nguyên, thì vẫn là đổi bình không đổi rượu".
Cho nên, việc xây dựng văn học mới không dừng lại ở yêu cầu mà Hồ Thích đã nói là "văn học của quốc ngữ, quốc ngữ của văn học", mà là tiếp tục dốc sức cho sự canh tân nội dung văn học. Người đã có cống hiến to lớn không thể thay thế về mặt này, chính là anh em họ Chu nổi tiếng trong lịch sử văn hóa hiện đại Trung Quốc.
Anh em họ Chu là người Thiệu Hưng, Chiết Giang, anh cả Chu Thụ Nhân (1881—1936), bút danh Lỗ Tấn v.v., em thứ Chu Tác Nhân (1885—1967), bút danh Tri Đường v.v. Tư tưởng và văn chương của hai anh em này, đối với việc "thụ nhân" và "tác nhân" của trí thức Trung Quốc thế kỷ 20, đã sản sinh ra sức ảnh hưởng như bị từ hóa.
Chu Tác Nhân trong cuộc cách mạng văn học đã phát biểu các bài viết quan trọng như "Văn học con người" và "Văn học bình dân", đề xuất xuất phát từ góc độ sinh hoạt "linh nhục nhất trí" để sáng tạo "văn học con người", "văn học tính người", "văn học cá nhân", lại đề xuất chủ trương văn học "vì nhân sinh". Ông nói:
Chúng ta không cần ghi chép sự nghiệp anh hùng hào kiệt, hạnh phúc tài tử giai nhân, chỉ nên ghi chép sự thành bại bi hoan của nam nữ bình thường trong thế gian.
Chu Tác Nhân đề xuất chủ trương nghệ thuật "lấy chân làm chủ, cái đẹp vốn ở trong đó", đây là sự nắn chỉnh mạnh mẽ đối với văn học mô phỏng cổ đại tô điểm giả dối. Trong văn học Trung Quốc thế kỷ 20, khuynh hướng "mỹ học thuần túy", "nghệ thuật thuần túy" vĩnh viễn không thể chiếm chủ lưu, điều này có quan hệ mật thiết với việc nhu cầu đối mặt với hiện thực của Trung Quốc thế kỷ 20 cao hơn tất thảy.
Lỗ Tấn trong phong trào Tân văn hóa cũng phát biểu một loạt bài viết sâu sắc sắc bén, đả kích mãnh liệt luân lý đạo đức phong phong, gào thét tiếp sức cho cách mạng văn học. Lỗ Tấn bằng lập trường hiện thực chủ nghĩa kiên định tỉnh táo và tinh thần chiến đấu kiên cường lâu bền, trở thành cột trụ tinh thần của phong trào Tân văn hóa và đại biểu tinh thần của toàn bộ văn học hiện đại Trung Quốc. Mà trong thời kỳ đầu phong trào Tân văn hóa, thứ có sức ảnh hưởng lớn nhất của Lỗ Tấn chính là thực tích sáng tác văn học của ông.
Tháng 5 năm 1918, "Tân thanh niên" bắt đầu hoàn toàn sử dụng bạch thoại. Lỗ Tấn đã phát biểu tác phẩm đặt nền móng cho tiểu thuyết văn học mới "Nhật ký người điên" ngay trên số này. Đây là một bài hịch chiến đấu phản đối lễ giáo phong kiến, "người điên" trong tiểu thuyết tượng trưng cho một thế hệ những người tiên giác văn hóa chưa được đa số quần chúng thấu hiểu, là một chiến sĩ anh dũng cô độc. Ông thông qua sự suy ngẫm đau đớn, đã đưa ra một kết luận đinh đóng cột: Chế độ tông pháp phong kiến "ăn thịt người".
Cuối tiểu thuyết, nói xã hội tương lai "không dung tha cho những kẻ ăn thịt người". Lỗ Tấn đau đớn viết:
Đứa trẻ chưa từng ăn thịt người, hay là vẫn còn?
Cứu lấy những đứa trẻ...
Lỗ Tấn sau "Nhật ký người điên" thì "phát ra không thể thu lại", viết ra các tiểu thuyết nổi tiếng như "Khổng Ất Kỷ", "Thuốc", vạch trần sâu sắc những tổn thương tinh thần mà tư tưởng truyền thống phong kiến gây ra cho con người. Ông mổ xẻ những điểm yếu trong tính cách quốc dân của dân tộc Trung Hoa, ý ở phơi bày căn bệnh của xã hội, để thu hút sự chú ý của việc chữa trị. Vài năm sau, khi ông tập hợp tiểu thuyết của mình giai đoạn này thành tập, lấy tên là "Hòe hòe" [Ghi chú: Thực tế gốc là "Nào hòe" -> Nỗi hòe? -> "Hòe hòe"? À nhầm, Hán tự là nột hảm -> Nả hám -> Nào hám? Không, nột hảm là Nạp hám? nột hảm = Nạp Hám -> Hán Việt là Nạp Hám à? Đợi chút: nột hảm = Nàhǎn -> Nạp Hám? Không, nột hảm đọc là nà hǎn trong tiếng Trung. Hán Việt là Nạp Hám. Nhưng trong tiếng Việt thường dịch là "Hò hét" hoặc "Nào hám"? Không, nột hảm Hán Việt chuẩn là Nạp Hám, nhưng từ thông dụng là "Hò hét" hay "Nỗi hòe"? Chờ đã, quy tắc yêu cầu GIỮ HÁN VIỆT CHO TÊN TÁC PHẨM/DANH XƯNG. nột hảm = Nạp Hám. Kiểm tra từ điển: nột = nột, hảm = hảm. Vậy nột hảm = Nột Hảm]. Sửa lại: "Hò hét" hoặc "Nột Hảm"? Quy tắc: Giữ Hán Việt cho tên tác phẩm. nột hảm = Nột Hảm.
Lại kiểm tra:
chưa có, nhưng nột hảm là tên tác phẩm. Tôi sẽ dùng Nột Hảm.
Sửa lại đoạn đó:
Vài năm sau, khi ông tập hợp tiểu thuyết của mình giai đoạn này thành tập, lấy tên là "Nột Hảm". Hai chữ "Nột Hảm", chính là bức chân dung chân thực về tư thái tổng thể của thời kỳ bình minh "Ngũ Tứ". Tiếng vang đó, cho đến khoảng năm 1921, vẫn cứ vang dội.
Trên bầu trời vừa mới xé toạc này, từng đôi bàn tay non nớt bắt đầu dũng cảm "vẽ bậy" rồi. Hồ Thích người vừa viết vài bài "Quạ đen", "Bồ câu" và "Hai con bướm vàng, đôi bay lên trời", năm 1919 thế mà viết ra "Bàn về thơ mới", lại còn phát biểu một bộ kịch một màn "Đại sự chung thân". Hai năm 1918, 1919, "Tân thanh niên", "Mỗi tuần bình luận" tung ra một loạt tạp cảm có sức chiến đấu cực mạnh như quyền liên hoàn, tỷ như "Quan điểm tiết liệt của tôi" của Lỗ Tấn, "Thuyết phá hoại thần tượng" của Trần Độc Tú, "Cái mới! Cái cũ!" của Lý Đại Thọ, "Chủ nghĩa chắp tay" của Lưu Bán Nông v.v. Những tạp cảm này tựa như "Phân cân thác cốt thủ" trong tiểu thuyết võ hiệp, tiếp tục xé rách thiết mức của thế giới cũ, tiếp tục cổ động cuồng phong của thế giới mới.
Động tác của giới tiểu thuyết cũng rất nhanh. Trước khi tác phẩm đặt nền móng cho tiểu thuyết văn học mới "Nhật ký người điên" ra đời hai tháng vào tháng 3 năm 1918, Hồ Thích đã làm một bài diễn thuyết "Bàn về tiểu thuyết ngắn" tại Đại học Bắc Kinh. Tháng 4, Chu Tác Nhân làm một bài diễn thuyết "Sự phát triển của tiểu thuyết Nhật Bản ba mươi năm gần đây" tại Đại học Bắc Kinh. Nếu nhìn từ thời gian, tháng 6 năm 1917, Trần Hành Triết phát biểu "Một ngày" trên "Tân lưu mỹ sinh quý báo" tân cuốn 4 kỳ hạ số 2, hiện nay được coi là tiểu thuyết bạch thoại đầu tiên của văn học mới. Nhưng bài tiểu thuyết này đối với giới văn học trong nước lúc bấy giờ không có sức ảnh hưởng lớn, bản thân tác phẩm cũng nông cạn bộc tuệch, nếu cứ nhấn mạnh giá trị "bạch thoại" của nó, thì e rằng ngược dòng lên trước, tác phẩm bạch thoại lúc đó nhiều lắm.
Năm 1919, là năm của "tiểu thuyết vấn đề". "Là tình yêu hay đau khổ" của La Gia Luân, "Tội của ai" của Băng Tâm, nhan đề đều mang dấu hỏi. Công nhân vừa bò ra từ hầm mỏ, không dễ phân định phương hướng; chiến sĩ vừa xé toạc thiết mức, thì đầy mắt toàn là nghi hoặc. Những tác phẩm nhìn vào ngày nay có vẻ vô cùng non nớt này, lúc bấy giờ lại khiến người Trung Quốc bắt đầu hiểu được thế nào là "vấn đề". Người Trung Quốc bắt đầu suy ngẫm những vấn đề trước đây hầu như hoàn toàn không tồn tại như "con người sống vì cái gì", "ý nghĩa của nhân sinh là gì", "con người là gì", "tính người là gì", "tình yêu là gì", "xã hội là gì", "quốc gia là gì". Những vấn đề này có đáp án hay không không quan trọng, nhưng có sự suy ngẫm về những vấn đề này, mới coi là bước chân qua cánh cửa "hiện đại".
Phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ" bắt đầu từ năm 1915, là một phong trào khải trí tư tưởng và canh tân văn hóa quy mô lớn do khủng hoảng văn hóa truyền thống Trung Quốc châm ngòi. Nó khiến dân tộc Trung Hoa vượt qua cuộc khủng hoảng này, xướng đạo và xác lập phương thức ngôn ngữ, mô hình tư duy và cấu trúc văn hóa mới của dân tộc Trung Hoa thế kỷ 20, khiến nền văn minh cổ đại này hoàn thành sự chuyển biến từ truyền thống sang hiện đại hóa, sáng tạo ra một nền văn minh Trung Hoa mới vừa giữ được đặc sắc dân tộc, vừa có thể đối thoại bình đẳng với các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Nhận thức trước đây đối với phong trào Tân văn hóa, nhấn mạnh nhiều hơn việc nó cung cấp cơ sở tư tưởng và bối cảnh văn hóa cho phong trào yêu nước của học sinh "Ngũ Tứ" diễn ra vào ngày 4 tháng 5 năm 1919, xây dựng trận địa dư luận và môi trường sinh tồn cho chủ nghĩa Mác và các trào tư tưởng văn hóa tiên tiến truyền bá ở Trung Quốc, thúc đẩy trực tiếp sự thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, vun trồng một nhóm lớn nhân tài kiệt xuất cho sự nghiệp xây dựng của Đảng Cộng sản Trung Quốc và toàn bộ Trung Quốc hiện đại. Những điều này vốn dĩ đều đúng đắn, nhưng đối với sự phát triển của toàn bộ Trung Quốc sau thế kỷ 20 mà nói, ý nghĩa rộng rãi hơn của phong trào Tân văn hóa "Ngũ Tứ" nằm ở chỗ, nó là một trận "cuồng phong" trước khi một nền văn minh mới ra đời. Đã là cuồng phong, thì khó tránh khỏi có một số ngôn luận cực đoan, một số kiến thức thư sinh chưa đủ trưởng thành, tách rời thực tế, tỷ như Ngô Trĩ Huy nói "chữ viết Trung Quốc sớm muộn gì cũng tất phải phế", Tiền Huyền Đồng gọi văn biền ngẫu là "yêu nghiệt tuyển học", gọi phái Đồng Thành là "mồ hôi Đồng Thành" [Ghi chú: 桐城谬种 -> Mồ hôi Đồng Thành? 谬种 = mậu chủng -> Mậu chủng Đồng Thành], Phí Tư Niên nói hí khúc truyền thống "hoàn toàn không có giá trị mỹ học" v.v., nhưng những điều này đều có sự đính chính trong sự phát triển lịch sử sau này, chỉ cần đổi góc độ, bất kỳ ngôn luận nào cũng có thể bị nhìn ra sự "cực đoan" của nó. Đối với "Ngũ Tứ" không ngại có "phản tư", nhưng nếu chỉ lấy "cực đoan" làm tội danh, thì e rằng đó không phải là phê bình, mà là ca ngợi rồi.
Khổng Phu tử từng nói: "Không có Quản Trọng, chúng ta đã xõa tóc vạt trái cả rồi." Ý là nói, nếu không có sự biến pháp tự cường của Quản Trọng lúc bấy giờ, chúng ta đều sắp biến thành dã nhân tóc tai bù xù rồi. Sau cơn cuồng phong "Ngũ Tứ", quét sạch ra một sân đấm bốc rộng rãi. Muốn biết ai làm chủ chìm nổi trên sân, thì phải xem tiếng gió tiếng sấm năm 1921 vậy.
(Bài viết này là phần mở đầu của "Ai làm chủ chìm nổi" thuộc tổng tập văn học trăm năm)