Khẩu Hiệu Vạn Tuế

Lượt đọc: 103 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 49

❊ ❊ ❊

[TIÊU HĐỀ]: Tiến tới đa cực

——Sự tinh hóa của tiểu thuyết thông tục trong thời kỳ kháng chiến

Trong thời kỳ kháng chiến, tiểu thuyết thông tục nghĩa hẹp theo truyền thống chủ yếu tập trung ở vùng bị chiếm đóng, trong khi vùng do Quốc Dân Đảng kiểm soát chỉ có một mình Trương Hận Thuỷ là đơn thương độc mã. So với ba giai đoạn phồn thịnh, điều chỉnh và trung hưng trước chiến tranh, tiểu thuyết thông tục trong giai đoạn này đã tiến bước một cách không thể kìm nản hướng tới sự trưởng thành. Một trong những biểu hiện quan trọng của sự trưởng thành chính là sự tinh hóa.

Quá trình "tinh hóa" của Trương Hận Thuỷ đã bắt đầu ngay từ những ngày đầu ông bước chân vào con đường sáng tác. Toàn bộ con đường sáng tác của ông vốn là một tiến trình "tinh hóa" đầy quanh co khúc khuỷu. Trong cuốn tiểu thuyết đầu tay được xuất bản mang tên "Tiểu thuyết mê hồn du địa phủ ký", ông đã phê phán cả hai phái văn học mới và cũ, mượn lời Thi Nại Am để tuyên chiến với "những tiểu thuyết thoạt nhìn có vẻ hợp lý nhưng thực chất không phải", đồng thời mượn lời Ngô Kính Tử để châm biếm thơ mới bạch thoại. Ông đưa ra chủ trương văn học rõ ràng của mình: "Mẫu mã chẳng qua là xào lại kịch bản cũ, văn chương cũng phải xuôi theo dòng chảy thời đại". Trương Hận Thuỷ sau đó quả thực đã cải tiến tiểu thuyết chương hồi theo chủ trương này, tức là một mặt thuận theo trào lưu thời đại về mặt tư tưởng nội dung, mặt khác lại đổi mới hoa văn kiểu dáng về mặt kỹ thuật nghệ thuật. Ban đầu, ông lấy các danh tác cổ điển làm hướng đi tinh hóa, công phu kết cấu các hồi mục và thơ từ, nhưng sau đó nhận ra người đương thời không hứng thú với điều này, ông bèn chuyển sang học hỏi các kỹ thuật văn học mới, chú trọng hơn đến việc miêu tả chi tiết, khắc họa tính cách và làm nổi bật phong cảnh. Về mặt quan điểm tư tưởng, ông cũng dần phai nhạt lập trường sĩ phu phong kiến, tiếp thu nhiều tư tưởng giải phóng cá nhân và tinh thần bình dân. Điều này đã giúp ông trở thành một nhà văn "siêu nhất lưu" của tiểu thuyết thông tục thập niên 20, 30, đồng thời cũng trở thành mục tiêu đả kích trọng điểm theo kiểu "bắt giặc phải bắt vua trước" của phái văn học mới. Cho đến trước thời kỳ kháng chiến, dù đã viết ra không ít tác phẩm nổi tiếng được miệng người nhắc đến, ông vẫn luôn cảm thấy mình chưa tìm được bến đỗ cuối cùng của sự tinh hóa. Có lúc ông tìm thấy cảm giác thành tựu và ưu việt giữa những tiếng hoan hô vạch trần xã hội, nhưng có lúc lại rơi trở lại cảm giác tự ti, vô vị khi coi tiểu thuyết là "đường rẽ". Lời tựa cuốn "Kim phấn thế gia" có viết:

Ban đầu chớm có ý nghĩ này, cho rằng ta viết tiểu thuyết, chi bằng làm sao để người ta muốn đọc sách của ta. Tiếp đó lại tiến thêm một bước suy nghĩ, chi bằng làm sao để người ta đọc tiểu thuyết của ta mà thu nhận được ích lợi. Đến nay ngẫm lại, điều này lại là gì? Các vị độc giả, sau khi hoàn thành công việc, lúc trà dư tửu hậu, hoặc cảm thấy vô cùng buồn chán, hoặc nhân dịp hứng khởi, tiện tay cầm lấy đọc một chút, để giết thời gian trong chốc lát. Mà những điều sách ta nói, có lẽ cũng không đến nỗi đẩy độc giả vào con đường bất nghĩa, thế là đã đủ lắm rồi. Chủ nghĩa không phải là thứ ta dám bàn tới, văn chương cũng chẳng phải là thứ ta dám bàn tới. Ta viết tiểu thuyết, khiến người ta đọc mà không phủ nhận nó là tiểu thuyết, thì đã hoàn thành sứ mệnh của mình rồi. Nay có kẻ trách ta nông cạn, ta liền vui vẻ nhận là nông cạn. Nay có kẻ trách ta vô vị, ta liền vui vẻ nhận là vô vị. Phàm tiểu thuyết là văn chữ thông tục, cầm bút viết ra thứ này, tức là không thoát khỏi sự nông cạn và vô vị. Văn chương rực rỡ nước nhà, danh tác chốn thâm sơn, cái đó có người khác lo, không phải là điều ta dám biết đến vậy.

Thực tế mà nói, việc Trương Hận Thuỷ thuận theo trào lưu hay đổi mới hoa văn kiểu dáng, chủ yếu xuất phát từ mục đích thúc đẩy tiêu thụ để làm sao cho người ta "muốn đọc sách của ta". Dù ông có những nỗi đau cá nhân và sự phẫn nộ đối với xã hội, nhưng ham muốn sáng tác của ông không phải là để "gây chú ý nhằm cứu chữa", phần nhiều ông coi văn chương "như một trò vui lúc cao hứng hoặc món quà tiêu khiển lúc mất mát, buồn tủi". Cho nên dù ông viết "tiểu thuyết quốc nạn", hay cải tạo tiểu thuyết võ hiệp, thì một mặt ở giới tiểu thuyết thông tục, ông tỏ ra quá bắt nhịp thời đại, thanh tao đến mức người ta theo không kịp, nhưng mặt khác trong mắt trận doanh văn học mới, người ta vẫn cảm thấy bình mới rượu cũ, không thể cứu chữa. Những "kỹ thuật" và "cải cách" mà ông tốn bao tâm huyết thử nghiệm ấy, đều trở thành công cốc, làm ơn mắc oán.

Chính cuộc kháng chiến đã khiến sự tinh hóa trong tiểu thuyết thông tục của Trương Hận Thuỷ bay vút lên một giai đoạn mới.

Trước hết, về tôn chỉ sáng tác, từ việc coi việc viết lách đơn thuần là một nghề mưu sinh, ông đã biến nó thành một sự nghiệp để phấn đấu. Ông hiên ngang tuyên bố sẽ làm việc vì "quần chúng bình dân nói tiếng Trung Quốc", ông đầy hoài bão sứ mệnh viết rằng:

Hơn một phần người làm văn nghệ trung niên chúng ta, trải qua một thời kỳ quá độ xa xôi của Trung Quốc, nói không khách sáo, những gì chúng ta học được vẫn chưa đạt đến kỳ vọng của mình. Chúng ta không còn nghi ngờ gì nữa, đang gánh trên vai hai gánh nặng lớn, một là kế thừa di sản của người đi trước, tức văn hóa vốn có, hai là tiếp nhận văn minh phương Tây. Mà hai gánh nặng này, bắt buộc phải khiến chúng giao lưu với nhau, để cho ra đời những sản phẩm văn nghệ mới phù hợp trong công cuộc lật mình đứng lên của tổ quốc chúng ta.

Về mối quan hệ với trận tuyến văn học mới, Trương Hận Thuỷ đã chuyển từ đối lập, oán hận sang hợp tác và noi theo. Ông tiếp nhận lý luận hiện thực chủ nghĩa, tiếp nhận thái độ sáng tác và phương pháp sáng tác chính của văn học mới, tiếp nhận sự phê bình và khích lệ của văn học mới dành cho mình. Tất cả những điều này đều phản ánh qua các sáng tác trong tám năm kháng chiến của ông.

Tiểu thuyết vừa và dài trong thời kỳ kháng chiến của Trương Hận Thuỷ có khoảng 20 bộ, có thể chia thành ba loại dựa trên đề tài. Loại thứ nhất là tiểu thuyết kháng chiến, bao gồm "Đào hoa cảng", "Tiềm sơn huyết", "Tiền tuyến chi An Huy, An Huy chi tiền tuyến", "Du kích đội", "Hạng chiến chi dạ", "Địch quốc chi phong binh", "Đại giang đông khứ", "Hổ bồn vạn tuế", v.v. Loại thứ hai là tiểu thuyết châm biếm vạch trần, bao gồm "Cuồng", "Bát thập mộng", "Thục đạo nan", "Võng lượng thế giới", "Ngẫu tượng", "Ngạo sương hoa", v.v. Loại thứ ba là tiểu thuyết lịch sử, tình cảm và các loại khác, bao gồm "Thủy hử tân truyện", "Tần Hoài thế gia", "Triệu Ngọc Linh bản kỷ", "Đan Phượng nhai", "Thạch đầu thành ngoại". Điều này vừa vặn trùng khớp với bố cục phân loại tiểu thuyết văn học mới trong cùng thời kỳ, hơn nữa về mặt thời gian cũng hô ứng lẫn nhau — giai đoạn đầu kháng chiến chủ yếu là tiểu thuyết kháng chiến, giai đoạn sau chủ yếu là châm biếm vạch trần. Điều này cho thấy Trương Hận Thuỷ về mặt quan niệm văn học đã chuyển từ "chậm một nhịp" sang "đồng bộ hòa âm", cùng văn học mới tấu lên khúc đại nhã.

Tiểu thuyết kháng chiến của Trương Hận Thuỷ khác với "tiểu thuyết quốc nạn" trước đây của ông. Tình cảm đã lùi về vị trí có cũng được mà không có cũng chẳng sao, ví như "Đại giang đông khứ" - một tác phẩm "kiêm cả kháng chiến và tình cảm" - thực chất là để lên án thói phụ tình của người phụ nữ đối với quân nhân kháng chiến, trọng tâm thú vị không nằm ở chuyện tình cảm, mà "Hạng chiến chi dạ" hay các tác phẩm khác thì hoàn toàn không có chuyện tình cảm để nói. Thay thế cho thú vui để trở thành trung tâm của tác phẩm chính là quan niệm. Trương Hận Thuỷ hết sức theo đuổi "viết sự thật", từ bỏ sở trường dệt chuyện.

Không nỡ dùng ảo tưởng dưới mái nhà tranh cửa sổ cỏ để đặt bút, nhất định phải có căn cứ từ sự thật, giống như tận mắt chứng kiến vậy, tôi mới chọn làm đề tài. Bởi vì nếu không như thế, thư sinh viết chuyện chiến tranh sẽ biến thành trò cười quá trớn.

Một quan niệm khác là tư tưởng quần chúng, tức tư tưởng "chiến tranh nhân dân". Phần lớn tiểu thuyết kháng chiến của ông đều lấy đội du kích do quần chúng tự phát tổ chức làm đối tượng miêu tả và ca ngợi, mà trong "Đại giang đông khứ" và "Hổ bồn vạn tuế" vốn viết về quân đội chính quy, ông cũng nỗ lực làm nổi bật quần chúng, đến mức khiến giới chức trách chú ý, phần lớn tác phẩm bị "chặt đứt lưng chừng".

Giống như tiểu thuyết kháng chiến của văn học mới, các tác phẩm dạng này của Trương Hận Thuỷ do vội vã cầu thành nên nghệ thuật không chịu nổi thử thách của thời gian. Kể chuyện bình lặng xuôi chiều, vội vã thuyết giáo, vừa có xu hướng gò bó vào chân lý đời sống mà từ bỏ chân lý nghệ thuật, lại vừa mắc lỗi tạo dựng sự trùng hợp để minh họa cho quan niệm. Ví như "Địch quốc chi phong binh" viết về viên trung đội trưởng giặc Nhật là Iijima, dẫn quân hãm hiếp tập thể con nuôi của Lý đại nương là Liên Tử đến chết, kết quả phát hiện ra Liên Tử hóa ra lại chính là đứa con gái ruột thịt mà Iijima gửi nuôi ở nhà Lý đại nương khi anh ta làm hàng xóm với bà ở Bắc Kinh nhiều năm trước! Thế là Iijima phát điên thật. Cái mô tuýp nhân quả báo ứng này đã làm suy yếu đáng kể sức hút của tác phẩm.

Ngược lại, tiểu thuyết châm biếm vạch trần của ông đã đạt được thành công, đây vốn dĩ là sở trường của Trương Hận Thuỷ, cũng là sở trường của tiểu thuyết thông tục. Khác với tiểu thuyết vạch trần mặt tối đầu thời Trung Hoa Dân Quốc và tiểu thuyết mang tính thời sự giai đoạn đầu của Trương Hận Thuỷ, tiểu thuyết châm biếm vạch trần thời kỳ này xuyên suốt một lập trường tự sự thống nhất, đó là tinh thần chính nghĩa xuất phát từ lợi ích căn bản của nhân dân đại chúng và ý thức lo âu sâu sắc cho vận mệnh dân tộc. Đây là cảnh giới mà tiểu thuyết thông tục trước đó tuyệt đối không thể đạt tới. Thời kỳ Trương Hận Thuỷ viết "Xuân minh ngoại sử", "Nói thật, viết bản thảo hoàn toàn là vì mục đích kiếm lợi", "Nếu không có lợi lộc gì thì không thể vực dậy nổi hứng thú viết lách của tôi". Mà "Bát thập mộng" và "Võng lượng thế giới" và những cuốn sách khác lại vạch trần bọn tham quan ô lại cướp đoạt mưu mô, buôn lậu vũ khí, toàn dân làm thương nghiệp, những kẻ phát tài nhờ quốc nạn thì yến ẩm ca múa, uy phong lẫm liệt, tri thức thì nghèo đến mức đi xin ăn khắp nơi, bán đi một bộ "Tư trị thông giám" bản thiện mà số tiền thu được không đáng giá bằng một gói thuốc lá, bách tính tầng lớp dưới đói rét khốn cùng, oán thán khắp nơi, hầu như viết nên một cuốn lịch sử quốc nạn, khiến người ta không khỏi liên tưởng đến những vần thơ sử mang nỗi "cảm thời hoa rơi lệ" của Đỗ Phủ sau loạn An Sử. Cả hai người đều ở độ tuổi từ 40 đến 50, trải qua biến động sơn hà, bản thân lưu lạc tha hương, tận mắt chứng kiến tai họa của nhân dân, vào khoảng trước và sau khi vào Thục, đã đạt tới đỉnh cao sáng tác mới. Những tiểu thuyết châm biếm vạch trần này của Trương Hận Thuỷ nghệ thuật không hề hoàn mỹ, khuyết điểm rất nhiều, tất nhiên không thể sánh bằng "Tam lại", "Tam biệt" của Đỗ Phủ. Nhưng cái tính nhân dân mang tinh thần "năm tháng dài lo lắng cho lê dân" trong đó đã chạm đến sâu thẳm trái tim đông đảo độc giả, che lấp đi những thiếu sót về mặt nghệ thuật, làm được những việc mà văn học mới muốn làm nhưng làm không được đặc sắc bằng thế, cho nên đã giành được thiện cảm của giới văn đàn chủ đạo.

Tuy nhiên, không thể vì một phần tiểu thuyết này của Trương Hận Thuỷ đã được khẳng định trong lịch sử văn học chủ đạo mà cho rằng chúng đã đạt đến mức độ tinh hóa về mặt nghệ thuật không phân cao thấp với các tác phẩm ưu tú của văn học mới. Nhiều công trình nghiên cứu ca ngợi quá mức sự đổi mới thể thức tiểu thuyết châm biếm của "Bát thập mộng", thực ra đổi mới không có nghĩa là hay. Tổng thể cấu trúc của "Bát thập mộng" tản mạn thiếu trật tự, mỗi một giấc mơ cũng không phải giấc nào cũng "tự nhiên và chặt chẽ", hoàn toàn có thể được bố cục và sáng tác một cách hoàn mỹ, cô đọng hơn. Các tiểu thuyết khác cũng vậy, mang lại ấn tượng liệt kê bê bối, triển lãm chân dung, thủ pháp này là con đường của thời kỳ "Xuân minh ngoại sử", "Tân trảm quỷ truyện", kể từ sau "Đề tiếu nhân duyên", Trương Hận Thuỷ đã có sự vượt qua nhất định, bắt đầu theo đuổi con đường điển hình hóa. Mà tiểu thuyết của Trương Hận Thuỷ trong thập niên 40 chỉ để lại tên tác phẩm trong đầu người đọc, chứ không để lại tên nhân vật. Điều này cho thấy sự tinh hóa về mặt nghệ thuật và sự tinh hóa về mặt quan niệm không nhất thiết phải tiến bước song hành, có khi thậm chí còn phải thụt lùi. Thực tế mà nói, chính hiệu ứng gây tiếng vang đã cấu thành giá trị lịch sử văn học của những cuốn tiểu thuyết này. Độc giả nói với tác giả rằng: "Viết đúng lắm, chửi hay lắm; viết sâu sắc thêm chút nữa, chửi sảng khoái thêm chút nữa!". Chu Ân Lai đã khích lệ rằng:

Đấu tranh với phái phản động, có thể đấu từ chính diện, cũng có thể đấu từ bên sườn. Tôi thấy dùng thể thức tiểu thuyết để vạch trần thế lực hắc ám, chính là một cách hay, lại không đến mức làm đến nơi "thở hổn hển". Cuốn "Bát thập mộng" do tiên sinh Hận Thuỷ viết chẳng đã phát huy tác dụng nhất định đó sao?

Chính khách yêu cầu "tác dụng" đấu tranh, quần chúng yêu cầu "chửi cho sảng khoái", tất cả những điều này đều nhìn nhận từ góc độ "thông hợp với thế tục", không ai quan tâm đến "cấu trúc" và "kỹ thuật" của nó. Trương Trị Trung đại diện cho chính phủ đến khuyên Trương Hận Thuỷ dừng tay ngừng viết, cũng nói rằng "viết hay lắm, chửi đúng lắm". Những cuốn tiểu thuyết này vẫn là tiểu thuyết thông tục, đại khái là hay hơn tiểu thuyết của Ngải Vu trong các tác phẩm cùng loại của văn học mới một chút, kém hơn của Sa Đinh một chút, có lẽ vừa vặn ngang với Trương Thiên Dực, chỉ là sức nặng thì dày dặn hơn nhiều.

Loại tiểu thuyết thứ ba của Trương Hận Thuỷ, cơ bản tương tự với hai loại trước. Tiểu thuyết lịch sử "Thủy hử tân truyện", viết về bi kịch các anh hùng Lương Sơn sau khi chiêu an đã kháng cự quân Kim, tuẫn quốc vì nước, đi theo con đường mượn xưa nói nay. "Muốn mượn bộ hài cốt của người xưa, thổi thêm chút sinh khí vào đó". Chủ đề tư tưởng của nó hoàn toàn đồng nhất với các vở kịch lịch sử của Quách Mạt Nhược, Dương Hãn Sênh v.v... trong cùng thời kỳ, tính thời đại và tính chính trị vô cùng nổi bật. Mao Trạch Đông từng nói với các phóng viên Trung ngoại đến thăm Diên An rằng: "Cuốn tiểu thuyết 'Thủy hử tân truyện' này viết rất hay, các anh hùng Lương Sơn Bạc kháng Kim, Bát Lộ quân chúng ta kháng Nhật." "Tần Hoài thế gia", "Đan Phượng nhai" và các "tiểu thuyết bán tình cảm" khác, chủ đề tương đối mơ hồ, vừa muốn ẩn dụ kháng Nhật, vừa muốn ca ngợi bách tính "có khí phách, trọng tín nghĩa", "mượn để tỏ lòng với giai cấp sĩ phu", lại mang theo nỗi hoài niệm về cố đô, cho nên cốt truyện không đủ chặt chẽ, ảnh hưởng không lớn.

Nhìn chung lại, cốt lõi sự tinh hóa trong tiểu thuyết thời kỳ kháng chiến của Trương Hận Thuỷ nằm ở tôn chỉ sáng tác và chủ đề tư tưởng. Cuối cùng ông cũng từ văn học tiêu khiển bước đến văn học nghe lệnh, cuối cùng đã "mang nghệ thuật đi đầu sư", bị văn học mới chiêu an vào trướng. Điều này khiến ông cuối cùng cũng có cảm giác "về đến nhà". Nhưng mặt khác, cảm giác này lại khiến ông có phần lơi lỏng trong việc tinh hóa kỹ thuật nghệ thuật. Vấn đề phổ biến của tiểu thuyết thời kỳ kháng chiến là ý thức cấu trúc kém, cấu trúc như "Bát thập mộng" cũng chỉ có thể nói là có điểm độc đáo, không đáng để lập làm khuôn mẫu. Thứ hai là ngôn ngữ tự sự không lưu loát tinh tế bằng trước chiến tranh, sự can thiệp của người kể chuyện tăng lên, có khuynh hướng kiểm soát "sự phân tán nghĩa", đây là sự thụt lùi về phong cách tiểu thuyết cuối Thanh đầu Dân. Điểm tinh hóa hơn về mặt kỹ thuật nghệ thuật thể hiện ở ý thức khắc họa tâm lý có vẻ tự giác hơn trước chiến tranh, điều này khiến "Võng lượng thế giới", "Ngạo sương hoa" v.v... vẫn tương đối đáng đọc. Nhưng ông viết nhiều quan tham ô lại, tiểu thương hàng thịt như vậy, lại không thể để lại nổi mấy hình tượng nhân vật sinh động. Một số tác phẩm "trảm quỷ" như "Bát thập mộng", sau khi vật đổi sao dời, chỉ có thể coi là "thư đầu hàng" của ông. Nhắc đến Trương Hận Thuỷ, người ta vẫn nghĩ nhiều hơn đến chuỗi tác phẩm "thanh niên hiện đại" được ông viết trước chiến tranh. Là do văn học mới không còn cổ vũ cho những cuộc thám hiểm "điêu trùng tiểu kỹ" đó nữa, hay bản thân Trương Hận Thuỷ cảm thấy "tiểu nhã" đã không cần phải nỗ lực thêm nữa, chỉ cần "tinh tiến không ngừng" về mặt tư tưởng là thành "đại nhã", hay là thời đại đang đòi hỏi cả văn học cũ và mới cùng hướng về một hình thức mới "đầu dê thịt chó"? Sự được mất trong đây rất đáng để ngẫm nghĩ.

Sự tinh hóa của tiểu thuyết thông tục ở vùng bị chiếm đóng khác với Trương Hận Thuỷ, trong tôn chỉ sáng tác, quan niệm tư tưởng cũng như lựa chọn đề tài, vẫn duy trì bản sắc của văn học thị dân. Sự tinh hóa của chúng là sự diễn tiến tự nhiên và làm sâu sắc thêm của chính bản thân tiểu thuyết thông tục, vừa có mặt chịu ảnh hưởng mưa dầm thấm lâu của văn học mới, vừa có mặt thích ứng với yêu cầu phát triển của thời đại. Chúng chủ yếu biểu hiện ở sự điều tiết hiện đại từ thủ pháp nghệ thuật đến thị thú nghệ thuật. Tư tưởng quan điểm cá biệt của nhà văn có tính vượt thời gian, nhưng do bị giới hạn bởi thể loại, biểu hiện vẫn mang tính tiềm ẩn.

Tiểu thuyết thông tục loại xã hội tình cảm là láng giềng gần gũi nhất với văn học mới, từ thời kỳ điều chỉnh và trung hưng trước chiến tranh, đã đạt được thành tựu tương đối cao về mặt tinh hóa. "Đề tiếu nhân duyên" của Trương Hận Thuỷ, "Hồng hạnh xuất tường ký" của Lưu Vân Nhược là những đại diện kiệt xuất trong số đó. Thời kỳ bị chiếm đóng, Lưu Vân Nhược không hướng về văn học mới một cách vô điều kiện và không giới hạn như Trương Hận Thuỷ, mà củng cố phong cách của chính mình hơn nữa. Ông không phải không coi trọng văn học mới, nhưng ông áp dụng lập trường "chủ nghĩa mang đến" lấy mình làm chủ. Bài viết "Nhớ Lưu Vân Nhược" của Lưu Diệp Thu có đoạn:

Vân Nhược văn tư nhạy bén, tài khí tung hoành, từng cùng lúc chấp bút ba, bốn bộ tiểu thuyết dài tập, mà mỗi bộ đều có trục cơ riêng, tình ý kỳ lạ tuôn trào không dứt... Ông đọc rất nhiều tiểu thuyết, danh tác văn học cổ kim Đông Tây, hầu như không gì không đọc, hơn nữa phân tích bình luận đều trúng trọng tâm. Thế nhưng ông lại rất khiêm tốn, từng nói với tôi rằng: "Tôi chỉ học qua mấy năm trung học, đọc chẳng bao nhiêu sách, nhưng tôi hy vọng có thể đem ba phần học vấn dùng đến mười phần."

Tôi thể hội ý nghĩa câu nói này của ông là đọc sách không cốt ở nhiều hay ít, trọng ở chỗ có thể "thông" có thể "hóa", nghe một biết mười, suy luận ra ba, thông suốt qua lại, từ đó sang kia, thì có thể hướng đi đâu cũng đều như ý muốn. Bằng không, nuốt tươi mà không tiêu hóa, dẫu có mười phần học vấn cũng chẳng có ích gì. Tuy nhiên, điều này cũng vẫn là do Vân Nhược có tài, mới có thể lấy ít địch nhiều, vận dụng khéo léo vô cùng.

Trọng ở "thông" và "hóa", chứ không phải rập khuôn máy móc đơn thuần, điều này khiến các tác phẩm của Lưu Vân Nhược luôn giữ được "vị thông tục" thuần túy. Mật độ cốt truyện trong tiểu thuyết của Lưu Vân Nhược lớn hơn Trương Hận Thuỷ, nhưng đường nét lại rõ ràng, dày đặc mà không rối loạn. Càng có thể dùng vài trăm chữ để khắc họa ra một nhân vật sống động như thật, khiến người ta nhớ mãi không quên, giống như Lão Xá trong văn học mới vậy. Theo quan điểm của tôi, thứ nhất là nhờ miêu tả chi tiết chuẩn xác có hồn, thứ hai là "ngoài sự chân thực của chi tiết, còn phải tái hiện một cách chân thực nhân vật điển hình trong môi trường điển hình". Lưu Vân Nhược nói: "Để thực sự thưởng thức Paris, bản thân phải biến thành người Paris, mang mọi định kiến của người Paris." Lưu Vân Nhược chính là người hiểu sâu sắc mọi sở thích của độc giả nhà, miêu tả muôn màu xã hội, lời nói trúng phóc chỗ hiểm, khắc họa tâm lý nhân vật, vài câu là có thần. Những tác phẩm đỉnh cao thời kỳ bị chiếm đóng như "Tiểu Dương Châu chí", "Cửu hạm tà dương" v.v... đã âm thầm vận dụng rất nhiều kỹ thuật của tiểu thuyết cao nhã Trung Tây, nhưng lại được dung hợp một cách khéo léo với thủ pháp viết ý và lập thức truyền thống của Trung Quốc, độc giả vô tình nâng cao được tiêu chuẩn thẩm mỹ, nhiệt tình đối với tác phẩm của ông chưa từng suy giảm, thậm chí ngay cả khi bản thân Lưu Vân Nhược nhớ nhầm tên nhân vật, độc giả vẫn có thể tự mình làm rõ, tuyệt không hề hô hoán ném đá. Trong lịch sử văn học chính thống, thể loại tân chương hồi kiểu như "Lữ Lương anh hùng truyện" có địa vị cao hơn Trương Hận Thuỷ, mà Trương Hận Thuỷ chắc chắn lại cao hơn Lưu Vân Nhược - kẻ có "tên tuổi còn nằm ngoài ranh giới đỗ đạt". Mà Mao Thuấn năm 1946 lại nói rằng: "Trong gần ba mươi năm trở lại đây, người vận dụng 'thể chương hồi' mà biết khéo léo gạn đục khơi trong, khiến 'thể chương hồi' kéo dài sinh mệnh mới, nên đứng đầu là tiên sinh Trương Hận Thuỷ. Tác giả của 'Lữ Lương anh hùng truyện' về mặt công lực tự nhiên có phần kém hơn tiên sinh Trương một bậc." Chấn Đạc lại cho rằng "tụ vị" của Lưu Vân Nhược "sâu sắc đến mức vượt xa Trương Hận Thuỷ", "Lưu có sự thể nghiệm sâu sắc tận xương tủy đối với các mặt xã hội tầng lớp dưới lúc bấy giờ, trong số các nhân vật đủ mọi thể loại từng trải qua, sớm đã trừu tượng hóa ra các loại điển hình". Và cho rằng "Hồng hạnh xuất tường ký" là "tác phẩm xuất sắc nhất trong loại tiểu thuyết này". Hai đánh giá hoàn toàn trái ngược nhau này rõ ràng xuất phát từ tiêu chuẩn "tinh hóa" khác nhau, người trước trọng tính tư tưởng, người sau trọng tính nghệ thuật. Nếu xét về tính dễ đọc, tính thú vị mà nói, Lưu Vân Nhược thời kỳ bị chiếm đóng quả thực vượt trội hơn Trương Hận Thuỷ ở vùng hậu phương.

Các nhà tiểu thuyết xã hội tình cảm vùng bị chiếm đóng miền Bắc còn có Trần Thận Ngôn, Lý Huân Phong, Tả Tiếu Hồng v.v... Hướng đi tinh hóa của họ cũng là nỗ lực kéo giãn khoảng cách với văn học mới, về mặt tư tưởng nhấn mạnh quan niệm luân lý truyền thống Trung Quốc, lên án hiện tượng sa đọa do Tây hóa mang lại, về mặt nghệ thuật dốc sức cho sự khéo léo trong thiết kế cốt truyện và sự sinh động trong miêu tả câu chữ, thực chất là tiếp nhận "phần mềm" của văn học mới mà cự tuyệt "phần cứng" của văn học mới. Tuy nhiên, họ không hề tràn đầy tự tin đối với sự lựa chọn như vậy, Lưu Vân Nhược năm 1943 trong phần "Tử mạch hồng trần - Khải sự" đã nói rằng:

Vân Nhược cầm bút viết văn, thoắt cái đã mười năm. Đến những năm gần đây, cảm khái ngày càng nhiều, một là vì sinh thế bức bách, thành ra tham lam mà quên đi sở thích. Dù được độc giả hết lời khen ngợi, nhưng sự được mất của văn chương, tấm lòng tự mình biết rõ, mỗi lần ngẫm nghĩ, thường không khỏi hổ thẹn bàng hoàng... Vô cùng hổ thẹn vì những chuyện tình ái lứa đôi vụn vặt chẳng giúp ích gì cho thời cục gian khó, muốn trong ngòi bút mực thước, gắng làm tròn trách nhiệm công dân... Ý nguyện nhỏ nhoi, mong được soi xét!

Điều này có nghĩa là, "tinh hóa" như vậy liệu có thể thành chính quả hay không, trong lòng họ khá hoang mang bàng hoàng.

Tính hiện đại của đô thị vùng bị chiếm đóng miền Nam nhìn chung cao hơn miền Bắc, tiểu thuyết thông tục vốn là sản phẩm tiêu dùng tinh thần của đại chúng cũng tương đối hướng tân cầu biến hơn. Dư Thả, Đinh Đế, Đàm Duy Hàn và các nhà văn thế hệ mới khác đã hoàn toàn vứt bỏ thể chương hồi, mà áp dụng bút pháp văn nghệ mới linh hoạt biến hóa. Dư Thả - người từng dùng bút danh "Thủy nhiễu hoa đê quán chủ", giỏi nhất trong việc nắm bắt tâm lý thị dân Thượng Hải, phần lớn các câu chuyện tình cảm ông viết đều là xung đột giữa "dục vọng" và "quy tắc". Ham muốn tiền bạc, ham muốn ngoại tình của thị dân bình thường, vừa mạo hiểm vừa nhát gan, vừa chân thành vừa giả tạo, đều được ông khắc họa với độ sâu nông vừa phải, đó là một loại "kích thích nhẹ". Trong các tác phẩm của Dư Thả tràn ngập những bàn luận rõ rệt về ẩn số lưỡng tính, người kể chuyện rõ ràng đang miêu tả những chuyện riêng tư thầm kín nhất giữa hai giới, nhưng lại ra vẻ mặt nghiêm túc "làm học vấn", mang lại sự giải thoát tâm lý cho độc giả. Tập truyện ngắn "Thất nữ thư", tiểu thuyết dài "Nữ hiệu trưởng", "Thiển thủy cô nương", "Nhũ nương khúc" v.v... đều thích lồng ghép các kiểu can thiệp tự sự khác nhau, ví dụ như "Phụ nữ trên thế giới có thể chia làm hai loại. Một loại là lấy chồng, một loại là yêu đương" ("Nữ hiệu trưởng"), "Suy nghĩ là thứ có thể khiến con người ta bình tĩnh nhất, có thể khiến sự việc tìm được giải pháp thỏa đáng nhất" ("Suy nghĩ"), điều này tạo ra một làn sương mù đọc sách "mang ý nghĩa sâu xa", tinh hóa độc giả về mặt tình điệu đọc. Kỳ thực, gạt bỏ những "danh ngôn" trình độ trung học ấy đi, tiểu thuyết của Dư Thả có lẽ sẽ tỏ ra thực sự tao nhã hơn một chút. Nhưng ngặt nỗi nghề giáo viên trung học của Dư Thả khiến ông không thể kìm nén cái ham muốn thích làm thầy người khác, tiểu thuyết nào trông cũng giống như một bài toán chứng minh định lý nhân nào đó. Mà độc giả lại rất thích những "triết lý nhân sinh" đó, có cảm giác như đã tìm được lời giải thích viên mãn cho đời sống thường nhật của chính mình. Một dấu hiệu cho thấy sự hiện đại hóa của tiểu thuyết thông tục là, độc giả không còn tự nhận mình thô tục như thính giả trong các xịch chiếu sách ngày trước, mà thường cho rằng bản thân được giáo dục hiện đại có tình điệu rất cao nhã, trên tay cầm đọc là tác phẩm cao nhã nghiêm túc "có ý nghĩa xã hội", giống như rất nhiều người tham gia tuyển vợ chồng trên truyền hình tuyên bố "cực kỳ yêu thích văn học", tay cầm một cuốn "Tập thơ Uông Quốc Chân" vậy. Hướng đi tinh hóa của Dư Thả không nghi ngờ gì nữa chính là tình điệu thẩm mỹ hiện đại, chỉ là quan niệm và kỹ thuật của ông đều vẫn chưa đủ chín muồi.

Học trò của Dư Thả là Đàm Duy Hàn, cùng với Đinh Đế - người viết "tiểu thuyết thương giới", đều tương tự như Dư Thả, nỗ lực lồng ghép ý nghĩa nhân sinh, xã hội vào trong đề tài đô thị, mà những "ý nghĩa" này, như tội ác đô thị, sự gian khổ trưởng thành, sự thất bại của giáo dục v.v..., đều là "chuỗi thương hiệu" do văn học mới khai phá và đã đẩy ra xã hội. Và một số thủ pháp đổi mới mà họ áp dụng, như cú pháp mô-ta-rích, biến ảo góc nhìn tự sự, phân tích tâm lý hiện đại v.v..., cũng là di sản do phái Tân cảm giác để lại. Sự phổ biến kịp thời của tiểu thuyết thông tục đã phát huy tác dụng tích cực trong việc nâng cao năng lực thưởng thức thẩm mỹ của đông đảo độc giả.

Ngoài ra Phùng Hanh, Từ Vãn Tác, Vương Tiểu Dật, Trần Lượng v.v..., bằng bút pháp văn nghệ mới thành thạo, viết tiểu thuyết đô thị có tính kích thích tương đối mạnh, mở rộng đường tiêu thụ bằng những miêu tả sắc tình tương đối trần trụi, phong cách nhỉnh hơn Công Tôn Yến, Vương Chu, Trình Tâm Phần v.v... ở miền Bắc một chút, nhưng lại cao hơn Phùng Ngọc Kỳ vốn từ lâu bị coi là nhạt nhẽo đê tiện, không thèm nhìn nhận. Thực ra họ là những người phát triển phiến diện một nhánh của Trương Tư Bình trong văn học mới, thường xuyên miêu tả những câu chuyện đào hoa của thanh niên thời đại mới, vừa vặn hùa theo sự hiểu lầm của tiểu thị dân đối với văn hóa mới, tư tưởng mới Ngũ Tứ. Trương Tư Bình thời kỳ bị chiếm đóng chỉ có một bộ tiểu thuyết dài trọn vẹn mang tên "Tân Hồng chữ A" (lại có một bộ tiểu thuyết dài bị "chặt đứt lưng chừng" là "Thanh lân tiết"), nhìn từ kỹ thuật mà nói, vẫn cao hơn đám người bắt chước này rất nhiều.

Tác phẩm đỉnh cao của tiểu thuyết xã hội tình cảm vùng bị chiếm đóng miền Nam, phải kể đến "Thu hải đường" do Tần Sấu Âu xuất bản năm 1942. Cuốn tiểu thuyết này nếu được xếp vào chuỗi văn học mới để bình điểm, thì phẩm vị cũng phải ở mức trung cấp trở lên. Tác giả ấp ủ cấu trúc mười mấy năm trời, xác định chủ đề kép "vạch trần xã hội / nhân sinh vô thường", nhảy thoát khỏi tính thời sự, tính thưởng ngoạn của chính bản thân chất liệu, xoay quanh những vấn đề lớn như số phận con người, tôn nghiêm con người để triển khai ngòi bút thê lương sâu sắc, ca ngợi chân thiện mỹ trong các phẩm chất nhân loại như tình yêu cao thượng, tình bạn, tâm huyết sự nghiệp và tinh thần hy sinh, đồng thời lên án và quất roi vào sự tàn phá đùa cợt đối với chân thiện mỹ ấy. Tác phẩm nhìn thẳng vào nhân sinh, không chịu nương theo sở thích của các bà các cô mà thay đổi kết cục bi thảm của câu chuyện... Về thủ pháp viết lách, bỏ rườm lấy gọn, mạch lạc rõ ràng, trọng miêu tả, nhẹ cốt truyện, mật độ cốt truyện nhỏ, lấy việc khắc họa tính cách làm chính, chú trọng môi trường, không khí và tâm lý nhân vật trong hoàn cảnh cụ thể, mang đậm cảm giác kịch nói, cảm giác điện ảnh, người kể chuyện là một văn nhân hiện đại tao nhã, chính trực, lương thiện, vô cùng giàu lòng trắc ẩn. Có thể tưởng tượng rằng, giả sử không có sự khai phá hơn hai mươi năm của tiểu thuyết văn học mới, tiểu thuyết thông tục vào năm 1942 tuyệt đối không thể sản sinh ra một tác phẩm tinh mỹ nhường ấy. Tinh thần nhân đạo chủ nghĩa và bút pháp hiện thực chủ nghĩa của "Thu hải đường" thực chất đã vượt xa "Đề tiếu nhân duyên" năm xưa của Trương Hận Thuỷ, hiệu ứng lan tỏa mà nó gây ra cũng không kém gì tác phẩm sau, nếu không phải là thời kỳ bị chiếm đóng, địa vị của nó trong lịch sử cách tân tiểu thuyết thông tục nhất định sẽ còn được coi trọng hơn nữa.

Tiểu thuyết võ hiệp từ sau kháng chiến "hào kiệt cùng nổi dậy", mấy đại cự đầu liên thủ xưng hùng, điều này không chỉ có nghĩa là một làn sóng võ hiệp nữa lại đến, mà quan trọng hơn là tiểu thuyết võ hiệp từ đó đã hoàn thành sự chuyển đổi từ hiện đại hóa sang hiện đại hóa, trong đó ảnh hưởng của tư tưởng văn học mới và sự thấm đượm của kỹ pháp có vai trò vô cùng quan trọng.

Hoàn Châu Lâu Chủ thời kỳ bị chiếm đóng ngoài việc tiếp tục viết bộ đại tác "Thục sơn kiếm hiệp truyện", còn sáng tác "Thanh Thành thập cửu hiệp", "Biên tái anh hùng", "Thiên sơn phi hiệp" v.v... Người bình luận phần lớn chỉ trích các tác phẩm của Hoàn Châu là "hoang đường vô lý", dùng tiêu chuẩn hiện thực chủ nghĩa để đánh chết một gậy. Nếu theo lệ này, "Trang Tử", "Sở Từ", "Sơn hải kinh", "Tây du ký", thơ của Lý Bạch, Lý Hạ, lời trong kinh Phật Đạo tạng, đều có thể vứt bỏ hết rồi. Những gì Hoàn Châu viết vốn dĩ là tiểu thuyết võ hiệp thần quái, độc giả khi đọc tự nhiên phải giả định sự tồn tại của thế giới thần quái. "Thế giới nghệ thuật là thế giới giả định", Phí Định "Tác giả - Nghệ thuật - Thời đại" P337, cho dù là sự mô phỏng chân thực nhất đối với đời sống hiện thực, thì vẫn cứ là khế ước mang tính giả định chi phối mối quan hệ giữa người kể chuyện và người tiếp nhận. "Nếu gạt tính giả định sang một bên, thì đằng sau tính giả định chính là tính chân thực trần trụi." Tiền Trung Văn "Hiện thực chủ nghĩa và hiện đại chủ nghĩa" P226, Nhà xuất bản Văn học Nhân dân 1987. Các kiếm tiên trong thế giới nghệ thuật có thể lật giông đổi biển, mượn xác hoàn hồn, trường sinh bất tử hay không, điều này không quan trọng, quan trọng là những câu chuyện giả định này thể hiện "bộ mặt vốn có của đời sống" đến mức độ nào, cô đọng chân tình thực lý của nhân sinh đến đâu. "Thục sơn kiếm hiệp truyện" bắt đầu viết sau khi chính phủ Ngụy Mãn thành lập, ngay hồi đầu đã mượn lời nhân vật trong sách để cất lên tiếng thở dài: "Nào kham ngoảnh đầu nhìn cố quốc tháng năm sáng rảnh! Giang sơn nhường ấy rốt cuộc rơi vào tay người Mãn, bao giờ mới có thể quay về chốn gia viên cũ của chúng ta đây!" Khởi chiến kháng chiến, vạn dân lầm than, vận nước nguy nan, Hoàn Châu Lâu Chủ vì từ chối lời khuyên ra nhậm chức ngụy quyền của Chu Tác Nhân v.v..., đã bị bắt vào ngục hơn bảy mươi ngày, chịu đủ mọi thứ cực hình, võ công tổn hại nặng nề. Xem "Hồi nhớ phụ thân Hoàn Châu Lâu Chủ", đăng nhiều kỳ trên Nhân dân Nhật báo bản hải ngoại ngày 15 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1988. Mà cuốn "Thục sơn kiếm hiệp truyện" của ông lúc này từ tập thứ sáu trở đi, bỗng nhiên như có thần trợ, càng viết càng kỳ ảo đặc sắc. Trong đó đặc biệt nổi bật là màn đấu pháp giữa hai phái chính tà, một bên là yêu ma hoành hành, giết người như rạ, dân chúng lầm than, một bên là kiếm tiên phái chính khổ luyện chính quả, cứu rỗi chúng sinh. Tác phẩm chê bai những kẻ ma đạo tà phái mạnh được yếu thua, lừa thầy phản bạn, thèm khát vô đáy, ca ngợi sự vĩ đại của sinh mệnh, tôn nghiêm của đạo đức. Những điều này dĩ nhiên không thể đơn thuần coi là "tư tưởng kháng chiến", những quan niệm túc mệnh như "tà không thắng chính" v.v... cũng thể hiện sự cổ hủ của một tín đồ sùng kính văn hóa truyền thống, nhưng ít ra có thể chứng minh rằng, nội tâm của vị nhà sáng lập thế giới thần tiên này vô cùng "nhập thế", ông đã dùng cách thức đặc sắc của mình để thể hiện "tính thời đại" và "tính nhân dân" của bản thân. Nếu liên hệ với toàn bộ cuộc đời của Hoàn Châu Lâu Chủ mà xét, ông chưa từng là kẻ "xuất thế". Năm 1956 sau khi tham quan Diên An, ông đã làm thơ rằng: "Phích phu ưng hữu hưng vong trách, hận ngã trì lai thập cửu niên", xem "Hồi nhớ phụ thân Hoàn Châu Lâu Chủ", đăng nhiều kỳ trên Nhân dân Nhật báo bản hải ngoại ngày 15 tháng 3 đến ngày 3 tháng 4 năm 1988... Phải nói rằng, 19 năm trước, cái trách nhiệm hưng vong ấy đã ký thác vào trong tác phẩm đại tác "hoang đường" của ông rồi. So với một lịch sử cận đại Trung Quốc sống động với trăm loài yêu ma khiêu vũ, thì còn cuốn tiểu thuyết nào xứng đáng gọi là "hoang đường" nữa chứ?

Một điểm tinh hóa nữa trong các tác phẩm của Hoàn Châu Lâu Chủ chính là "vị văn hóa" của nó. Tác giả không hề khoe khoang kiến thức, bán rẻ điển tích, mà khắp nơi luận thiền giảng đạo, chỉ trời nói đất, liên quan đến mọi mặt của văn hóa truyền thống Trung Quốc, điều này tồn tại sự hô ứng nhất định với xu hướng mới của tiểu thuyết văn học mới thập niên 40. Trong "mê cung Thục sơn" có rất nhiều trí thức cấp cao, hứng thú của họ e rằng chủ yếu là ở điểm này, giống như các học giả ngày nay rất tôn sùng Lạc Tân Cơ, Đoan Mộc Hồng Lương, Tiêu Hồng, Sư Đà, Phế Danh, Tiền Chung Thư của thập niên 40 vậy. Vị văn hóa từ đó đã trở thành "bột ngọt" không thể thiếu của tiểu thuyết võ hiệp.

Về mặt bút pháp, Hoàn Châu Lâu Chủ giỏi nhất là miêu tả tinh tế tỉ mỉ từ mọi góc độ, đặc biệt là miêu tả phong cảnh tự nhiên hùng vĩ kỳ lạ hiểm trở, hễ viết là tới hàng ngàn chữ, khiến người ta có lúc say đắm tâm thần, có lúc tóc dựng ngược lên, đây rõ ràng là bút pháp tiểu thuyết mà văn học mới chủ trương, nhưng trong số các nhà tiểu thuyết văn học mới lại không có ai sánh kịp. Những đoạn như "Hồ sen ánh trăng" của Chu Tự Thanh, "Dưới cái nắng gắt và trận mưa giông" của Lão Xá, trong tác phẩm của Hoàn Châu tùy tiện có thể rút ra không dưới mấy chục chỗ.

Thế nhưng Hoàn Châu Lâu Chủ thường chìm đắm trong tình thơ ý họa dưới ngòi bút của mình mà quên mất nhiệm vụ quan trọng hơn của tiểu thuyết nằm ở nhân vật và cấu trúc, hai điểm này chính là "huyệt đạo" và "xương sườn mềm" của Hoàn Châu Lâu Chủ, chúng lại được luyện thành "võ công thượng thừa" ở các nhà văn tiểu thuyết võ hiệp khác.

Tiểu thuyết võ hiệp của Bạch Vũ tuy cũng là thể chương hồi, nhưng nhân vật và cấu trúc đều đã mang phong cách văn học mới. Nhân vật do ông viết ra, "không có cái gọi là kiếm tiên kỳ hiệp không ra thần không ra người, cũng không có người đi đêm bay mái nhà cướp giàu cứu nghèo, càng không có cái gọi là 'nghĩa sĩ' bảo vệ trung thần, mà là những con người sống sừng sững có máu có thịt, điểm duy nhất khác với người bình thường là có thêm một thân võ nghệ mà thôi." Ngô Vân Tâm - Lời tựa "Thập nhị kim tiền tiêu" bản mới.

Phản anh hùng, phản lý tưởng hóa, thậm chí phản chính bản thân võ hiệp, chính là cốt lõi tinh thần sáng tác của Bạch Vũ. Ông vô cùng "nhẫn tâm" nhìn thẳng vào hiện thực, các hiệp khách dưới ngòi bút của ông từng trải, hèn nhát, ngu ngốc, xui xẻo... Đại hiệp uy trấn võ lâm, hễ gặp quan phủ là khom lưng uốn gối; cao thủ khoe danh nhường nhịn, lại bị kẻ dưới đánh lén tiêu diệt; anh hùng tỉ võ kén rể, rốt cuộc chỉ chiêu dụ về sự suồng sã khinh miệt của bọn lưu manh vô lại. Bạch Vũ "lấy con đường từ 'Ma hiệp truyện', nhẹ nhàng giáng thêm một chút châm biếm phản diện vào cái gọi là hiệp khách." ("Câu chuyện"). Ông lạnh lùng khắc họa một xã hội hiện thực thói đời lạnh lẽo, nhân tâm hiểm ác, kẻ xấu lộng hành, người tốt chịu tội, kẻ muốn cứu người rốt cuộc lại bị chính người được cứu làm tổn thương. Tác phẩm của ông thường xuyên khiến người ta liên tưởng đến Lỗ Tấn. Bạch Vũ thừa nhận trong "Câu chuyện": "Ảnh hưởng mà tiên sinh Lỗ Tấn mang lại cho tôi rất lớn, đặc biệt là luận văn nghệ của ông." Lỗ Tấn từng sửa hai chữ cho tác phẩm đầu tay "Ly cuyên cục" của Bạch Vũ, đổi chữ "đáng thương" trong câu "đáng thương cho ông già này, hai bàn tay trắng trở về" thành chữ "chỉ là", sửa như vậy liền ẩn đi sự phán xét tự sự, trở thành một sự quan sát lạnh lùng không động thanh sắc. Lỗ Tấn còn kể với Bạch Vũ rằng cuốn tiểu thuyết mà ông tự cho là viên mãn nhất là "Khổng Ất Kỷ", "Thiên này có vẻ bình tâm tĩnh khí hơn một chút". Tiểu thuyết của Bạch Vũ chính là chứa đầy phong cách "lửa chết" ngoài lạnh trong nóng mang đậm chất Lỗ Tấn.

Sự nâng tầm tiểu thuyết võ hiệp của Bạch Vũ là toàn phương diện. Khắc họa nhân vật điển hình, cấu trúc cân đối, chú trọng bố cục, hô ứng và kiểm soát điểm nhìn, miêu tả phong cảnh đẹp đẽ đong đầy tình cảm, miêu tả võ đấu mang tính nghệ thuật, trực quan, sáng tạo ra từ "võ lâm" và phát minh ra hàng loạt thuật ngữ võ đấu, văn chữ tinh luyện, đối thoại nhân vật chân thực có hồn. Diệp Hồng Sóng v.v... gọi ông là "Alexandre Dumas của Trung Quốc", không phải là lời khen quá lời. Bạch Vũ có chí hướng sáng tác văn học mới, "tự cho thể chương hồi thực sự là nỗi hổ thẹn khi sáng tác, tác phẩm võ hiệp lại càng hạ đẳng" (Hậu ký "Thập nhị kim tiền tiêu"), nào ngờ cuộc đời bức bách ông phải "lên núi làm giặc cỏ", ngược lại lại khiến tiểu thuyết võ hiệp may mắn có được một món quà tặng phong phú đậm đà từ văn học mới. Bạch Vũ và Hoàn Châu Lâu Chủ là hai vị công thần lớn nhất đưa tiểu thuyết võ hiệp toàn diện bước tới hiện đại hóa, không có sự đứng độc lập hiên ngang của họ, thì sẽ không có trăm hoa đua nở của võ hiệp tân phái sau này. Nếu nói tiểu thuyết võ hiệp thập niên 40 mang "khí tượng Hán Ngụy", thì thời kỳ của Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long chính là "phong thái Đường thịnh".

Trịnh Chứng Nhân - người có mối thâm giao với Bạch Vũ, trong việc khắc họa nhân vật, bố cục lập chương v.v..., đã học tập Bạch Vũ, nhưng vì công lực văn học không đủ nên không thể vượt qua. Sở trường của họ Trịnh nằm ở việc phát huy thế mạnh tinh thông võ nghệ, quen thuộc giang hồ của mình, tiếp tục phát quang đại "võ học trên giấy", dung hợp các bang hội của Diêu Dân Ai, giai thoại của Bình Giang Bất Tiếu Sinh, trí tưởng tượng của Hoàn Châu Lâu Chủ, văn tài của Bạch Vũ vào làm một lò, hình thành nên một thứ "văn học giang hồ" chính gốc. Việc trực tiếp vận dụng phương ngôn Thiên Tân là một thử nghiệm đổi mới trong lịch sử văn học. Những kỹ thuật muôn hình vạn trạng của tiểu thuyết văn học mới, đến chỗ Trịnh Chứng Nhân đây đã bước vào thời kỳ "thủ thành", không còn mới lạ hay được đặc biệt coi trọng nữa, mà đã biến thành "thói quen" dĩ nhiên. Sự phát triển hơn nữa của tiểu thuyết võ hiệp càng đòi hỏi những "tuyệt kỹ" xuất thân từ chính bản thân thể loại. Chính theo ý nghĩa này, Trịnh Chứng Nhân cùng với Hoàn Châu Lâu Chủ, Bạch Vũ, đã cung cấp cho các tác giả tiểu thuyết võ hiệp đời sau một kho báu "võ học" lấy mãi không hết.

Trong số các bậc đại gia võ hiệp vùng bị chiếm đóng, phải kể đến Vương Độ Lư Sơn là có "võ nghệ" thấp nhất. Trong bộ ngũ khúc "Hạc thiết series" tác phẩm tiêu biểu của ông, một là không có những màn đấu đá hiểm trở tuyệt đỉnh, hai là không có bang này phái nọ. Giới học thuật hiện nay định vị đồng loạt đối với Vương Độ Lư Sơn là "hiệp tình bi kịch". Vương Độ Lư Sơn nhiều năm dự thính tại Đại học Bắc Kinh, đọc kỹ các danh tác văn học Trung Tây, hiểu sâu lý luận phân tích tâm lý của Freud, bi kịch tình yêu dưới ngòi bút của ông phần lớn là bi kịch tính cách do chính nhân vật gây ra, nhân vật trong hoàn cảnh có thể tự nắm bắt số phận của mình, lại vì một thứ tình cảm tâm lý nào đó mà từ bỏ hạnh phúc. Quan niệm tình yêu này so với mô hình xung đột cũ mới thời kỳ Ngũ Tứ đã có sự phát triển khá rõ rệt, đã tiệm cận với bản thể của tình yêu và bi kịch, cho nên giống như "Thần điêu đại hiệp" và "Bạch mã tiếu tây phong" của Kim Dung, bỏ phần võ đấu đi thì vẫn là bản giao hưởng tình yêu xuất sắc. Việc Vương Độ Lư Sơn vận dụng thành công thủ pháp tượng trưng cũng để lại ấn tượng sâu sắc cho người đời sau, như cây liễu, bảo kiếm, trâm vàng. Hàng loạt miêu tả tâm lý và miêu tả phong cảnh sâu lắng thâm uyên đã khiến tiểu thuyết võ hiệp của Vương Độ Lư Sơn trở thành đỉnh cao của sự "tinh hóa" trên bình diện ngôn ngữ.

Sự hướng về văn học mới của Chu Trinh Mộc thể hiện nổi bật ở một số phương diện cụ thể. Một là vứt bỏ hồi mục đối xứng của thể chương hồi truyền thống, đổi sang dùng các cụm từ tùy ý mang phong cách văn học mới. Hai là thích dùng từ mới hiện đại. Điều này đối với sự phát triển của tiểu thuyết võ hiệp vừa có lợi vừa có hại, tùy thuộc vào tài năng cụ thể của nhà văn.

Nước lên thuyền lên, các nhà văn võ hiệp khác cũng có sở trường riêng. Biên độ tinh hóa của tiểu thuyết võ hiệp vùng bị chiếm đóng là lớn nhất trong các thể loại, bất kể là quan niệm, chủ đề, kỹ pháp hay phong cách, đều có sự bứt phá về chất so với thời kỳ trước. Nguyên nhân bên ngoài ngoài việc thế hệ tác giả này đều trưởng thành dưới sự nuôi dưỡng của văn hóa mới Ngũ Tứ ra, sự nâng cao trình độ thẩm mỹ của độc giả tiểu thuyết võ hiệp cũng là một sự chế ước mạnh mẽ. Điều này khiến cho thể loại tự sự cổ xưa là tiểu thuyết võ hiệp này được hồi xuân, bước tới một thời kỳ huy hoàng một lần nữa.

Ở miền Nam - nơi tiểu thuyết võ hiệp đang suy tàn, tiểu thuyết trinh thám đã lấp đầy khoảng trống thị trường. Thế nhưng cục diện phồn thịnh trăm hoa đua nở như thời kỳ đầu Trung Hoa Dân Quốc thì không thể tái hiện lại được nữa. Thực tiễn sáng tác chứng minh rằng, tiểu thuyết trinh thám với tư cách là sản phẩm ngoại lai duy nhất trong tiểu thuyết thông tục, đòi hỏi đối với sự tinh hóa là cao nhất. Nó khó đánh lừa nhất, tốn kém tâm huyết nhất, là hòn đá thử vàng cho kỹ thuật toàn diện của nhà văn. Cho nên trải qua sóng dữ đãi cát, mấy chục nhà văn đều chơi đùa chán chê rồi tự biết ý lui bước. Phạm Yên Kiều bình luận rằng: "Viết tiểu thuyết trinh thám đại khái cần một loại tài năng đặc biệt, không thể tùy tiện cầm bút viết được, dẫu có người thử viết cũng không dễ gì thể hiện được đặc sắc, đứng vững được, cho nên những tác phẩm lưu hành trên thị trường vẫn chủ yếu là dịch phẩm." ("Lược sử tiểu thuyết phái cũ Trung Hoa Dân Quốc", do Ngụy Thác Xương biên tập "Tài liệu nghiên cứu phái Uyên ương hồ điệp", Nhà xuất bản Văn nghệ Thượng Hải 1984). Đến thời kỳ bị chiếm đóng, trong số các nhà văn tên tuổi chỉ còn lại cặp đôi "Thanh Hồng bang" là Trình Tiểu Thanh và Tôn Liễu Hồng đang cắn răng kiên trì, mãi đến sau khi kháng chiến thắng lợi mới lại nghênh đón một thời kỳ phồn thịnh ngắn ngủi. Mà từ việc Trình Tiểu Thanh liên tục đăng quảng cáo bán tranh, "dám cậy đan thanh bù nghiên điền", cũng như việc Tôn Liễu Hồng liên tục ốm đau, tạp chí "Vạn Tượng" quyên góp vì ông, có thể thấy "nhuận bút" của hai người Trình - Tôn rất eo hẹp, cái nghề tiểu thuyết trinh thám này thực sự rất khó ăn.

Trình Tiểu Thanh thời kỳ bị chiếm đóng, thành danh đã lâu, dịch tác đều phong phú. Thư cục Thế giới Thượng Hải từ năm 1941 đến năm 1946 lần lượt xuất bản 30 tập "Hồng Tang thám án tụng tiểu tùng san". Ông dịch các tiểu thuyết trinh thám thế giới xuất sắc như "Toàn tập trinh thám Philo Vance" của tác giả Mỹ S. S. Van Dine, "Thánh đồ kỳ án" của tác giả Anh John Rhode, "Quan tài Hy Lạp" của tác giả Mỹ Ellery Queen trên một số tạp chí nổi tiếng. Còn sáng tác của chính ông, một là số lượng ít, tốc độ chậm, hai là tự lặp lại, đột phá không qua. Nguyên nhân chính có hai phương diện. Trước hết Trình Tiểu Thanh có điểm xuất phát tương đối cao, bất kể là tinh thần pháp luật hiện đại, ý thức khoa học dân chủ hay kỹ thuật tự sự trong tác phẩm, đều không cần phải cúi đầu trước văn học mới. Điều này khiến Trình Tiểu Thanh dám lớn tiếng phát ngôn: "Tiểu thuyết có giá trị văn học hay không, nên bàn về bản thân tiểu thuyết, chứ không nên đem thể loại hoặc tính chất ra để hạn chế." ("Bàn về tiểu thuyết trinh thám", "Hồng Mân Cúc" kỳ 5 quyển 11, ngày 11 tháng 5 năm 1929). Ông không chỉ "tranh vị trí, nói công lợi" cho tiểu thuyết trinh thám, mà còn dùng khẩu khí chuyên gia "kể lịch sử, bàn kỹ pháp" (lời Phàn Bác Quần)... Hỏa lực của văn học mới từ trước đến nay đều tập trung vào Trương Hận Thuỷ, Bình Giang Bất Tiếu Sinh, Trịnh Dật Mai v.v..., đối với tiểu thuyết trinh thám dường như e ngại mối quan hệ "thân thích vòng vo" mà nhìn bằng con mắt khác. Tất cả những điều này khiến cho "Thái đẩu trinh thám" Trình Tiểu Thanh lâu dài rơi vào trạng thái không áp lực, không cạnh tranh, không phê bình, không dẫn dắt, cảm giác nghệ thuật dần dần định hình và cùn mòn, vẫn luôn loanh quanh và thỏa mãn với mô hình "Sherlock Holmes - Watson", đánh mất đi sức sống tinh hóa hơn nữa. Thứ hai, trận địa tiểu thuyết trinh thám đều tập trung tại các khu tô giới Thượng Hải, thực chất thuộc về một nhánh của tiểu thuyết trinh thám thế giới, bắt buộc phải vận động theo trào lưu thế giới. Tiểu thuyết trinh thám tiêu biểu bởi "Thám án Sherlock Holmes" của Arthur Conan Doyle thuộc loại kinh điển, chú trọng phong thái quý ông, hợp tình hợp lý, hùa theo khẩu vị tầng lớp trung lưu, chúng rất được hoan nghênh trong một phần ba đầu thế kỷ 20. Trình Tiểu Thanh chính là bắt gặp đợt sóng này. Mà từ thập niên 30, "tiểu thuyết trinh thám phong cách cứng rắn" trỗi dậy và bước vào thời kỳ toàn thịnh (xem Larry N. Landrum "Trinh thám và tiểu thuyết thần bí", "Lược sử văn hóa thông tục Mỹ", Nhà xuất bản Giang Tây 1988), chúng nhấn mạnh tính hành động, tính thô kệch, tính phi lý tính, hùa theo đông đảo độc giả thị dân do tiến bộ khoa học kỹ thuật tạo ra. Tiểu thuyết trinh thám cổ điển so với chúng thì nhân vật không đủ sống động, cốt truyện không đủ kinh tâm động phách, tràn ngập sự cứng nhắc, máy móc và quyết định luận của thế giới vật lý Newton, hơn nữa lại mang theo sắc thái bảo vệ trật tự hiện tồn. Mô hình "Holmes - Bao Lãng" của Trình Tiểu Thanh rõ ràng bộc lộ nguy cơ lỗi thời, người quan tâm đến động thái thế giới như ông đã nhận thức được điều này, nhưng việc nâng cấp thay thế dòng sản phẩm thương hiệu quả thực không phải chuyện dễ dàng, nhất là khi phong độ vẫn còn đang mạnh mẽ. Thế nên, Trình Tiểu Thanh chỉ có thể điều chỉnh một chút trên cơ sở duy trì hiện trạng, trong đó điều thu hút sự chú ý nhất là ông vứt bỏ Holmes và Bao Lãng, lấy nhan đề "Long hổ đấu", viết hai vụ án Holmes đấu pháp với Arsène Lupin. Dù vẫn lấy người trước làm chính, người sau làm tà, nhưng ánh hào quang của tác phẩm lại rơi hết vào người sau. Arsène Lupin trăm mưu nghìn kế đùa giỡn Holmes, lăng mạ Watson, khắp nơi chiếm thế thượng phong, cái kết thất bại vốn không phải bại dưới tay Holmes, mà là bại dưới tay tác giả - kẻ buộc phải chủ trì chính nghĩa mà thôi. Tác phẩm có tính hành động mạnh mẽ, "thủ đoạn gây án" cao siêu, tính cách nhân vật hơi mang tính phức tạp, đặc biệt là cái kết mở, phá vỡ lệ "sự kiện thần bí xảy ra trong môi trường khép kín" của tiểu thuyết trinh thám truyền thống (xem Larry N. Landrum "Trinh thám và tiểu thuyết thần bí", "Lược sử văn hóa thông tục Mỹ", Nhà xuất bản Giang Tây 1988), giống như câu thoại cuối cùng trong bộ phim Nhật Bản "Truy nã": "Làm sao mà có điểm dừng chứ!" chừa lại khoảng trống cho người tiếp nhận liên tưởng. Đây đã là cực hạn xa nhất trong việc tự đổi mới của Trình Tiểu Thanh rồi, tiến thêm bước nữa, chính là lãnh địa của Tôn Liễu Hồng.

Tôn Liễu Hồng lúc bấy giờ được ca ngợi là "tác giả 'tiểu thuyết phản trinh thám' duy nhất của Trung Quốc" (xem "Vạn Tượng", tháng 11 năm 1942, trang 9)... Có thể nhận thấy rằng, cùng thời kỳ này, tiểu thuyết ngôn tình xuất hiện phản ngôn tình, tiểu thuyết võ hiệp xuất hiện phản võ hiệp, tiểu thuyết trinh thám xuất hiện phản trinh thám. Cả "ba loại phản" này đều liên quan đến ảnh hưởng của tinh thần hiện thực chủ nghĩa tân văn học, đều nhằm mục đích phá vỡ thứ chủ nghĩa không tưởng đã định hình và lỗi thời, để tái kết nối với thế giới thế tục sau khi đã trải qua những biến động dữ dội.

Tôn Liễu Hồng từ sớm đã nổi danh với các sáng tác trinh thám, nhưng đạt được đại danh đỉnh đỉnh lại chính là vào thời điểm này, có những tác phẩm vốn là sự sửa đổi từ các bài tập viết thời trẻ mà gặt hái được thành công. Nhân vật chính Lỗ Bình của ông chính là Arsène Lupin phiên bản Trung Quốc, mang thái độ cợt nhả, phong lưu phóng khoáng, kiêm cả hai chức vụ hiệp khách và đạo tặc, coi thường pháp luật và tự nắm giữ công lý cho riêng mình. "Cậu ta đóng vai thám tử, nhưng chưa từng có thân chủ nào ủy thác hay thuê mọc. Hoặc là vì hiếu kỳ, hiếu thắng, hoặc là vì 'lợi ích kinh doanh', cậu ta luôn không mời mà tới, chủ động gánh vác trách nhiệm thám tử." (Phùng Kim Ngưu, "Tôn Tử và tiểu thuyết trinh thám của ông", "Tuyển tập bình chọn tiểu thuyết thông tục hiện đại Trung Quốc", trang 26, Nhà xuất bản Văn nghệ Thượng Hải, 1992).

Cách đối nhân xử thế của Lỗ Bình tuyệt đối không có cái gọi là "tinh thần chính nghĩa" vĩ đại nào; cậu ta không hề muốn cướp của người giàu để cứu giúp người nghèo; cậu ta chỉ muốn cướp của người giàu để cứu tế cái nghèo của chính mình mà thôi. Nói một cách thống khoái: Cậu ta hoàn toàn không có điểm gì khác biệt so với những tên thân sĩ có diện mạo dữ dội kia cả! (Tôn Liễu Hồng, kết thúc "Kẻ trữ dầu gan cá").

Thế nhưng, hành vi thực tế của Lỗ Bình luôn là trừng ác dương thiện, phù hợp với "chính nghĩa" trong tâm trí người đọc. Trong các tác phẩm như "Bộ đồ bơi màu tím", "Kẻ trữ dầu gan cá", v.v., cũng ẩn chứa một số ẩn dụ về "thời đại biến động". Lỗ Bình thuộc về dòng "thám tử phong cách cứng rắn" (hard-boiled), hình tượng của cậu thể hiện sự giễu cợt và phủ định đối với trật tự hiện tồn, có cội nguồn tinh thần gắn kết với phái châm biếm vạch trần trong tiểu thuyết tân văn học.

Về mặt kỹ thuật, Trình Tiểu Thanh duy trì đặc trưng cổ điển thuần túy, trong khi Tôn Liễu Hồng lại hấp thu nhiều hơn các dưỡng chất từ phái hiện đại chủ nghĩa phương Tây. Từng có nhà bình luận chỉ ra rằng Tôn Liễu Hồng chịu ảnh hưởng của phái lãng mạn hậu kỳ, đồng thời vận dụng một lượng lớn thủ pháp dòng ý thức (Phùng Kim Ngưu, "Tôn Tử và tiểu thuyết trinh thám của ông", sđd)... Nhận định này có phần phóng đại, những nét miêu tả tâm lý của Tôn Liễu Hồng vẫn chưa đủ tầm để gọi là "dòng ý thức" thực thụ, tính logic rất rõ ràng, hơn nữa đó là sự miêu tả từ góc độ người kể chuyện đứng bên ngoài tâm hồn nhân vật, nhưng quả thực phảng phất bóng dáng của phái tân cảm giác.

Từ sự phát triển tác phẩm của Trình Tiểu Thanh và Tôn Liễu Hồng, có thể nhận thấy rằng quá trình nâng tầm trí thức hóa (nhã hóa) của tiểu thuyết trinh thám hiện đại, đồng thời cũng đi kèm với quá trình bình dân hóa và đại chúng hóa. Hiện tượng này không khó hiểu, bởi vì tiểu thuyết trinh thám tuy mang tính thông tục ở phương Tây, nhưng khi được du nhập vào Trung Quốc thì nó lại thuộc về loại "đồ chơi ngoại" mang tư thế tự cao tự đại. Một khi độc giả đã quen thuộc với những mô típ cơ bản của nó, cảm giác tươi mới qua đi, thì nó tất yếu nảy sinh một vấn đề làm thế nào để dân tộc hóa.

Cho nên, tiểu thuyết trinh thám một mặt tăng cường tính thời đại, gắn bó sát với đời sống hiện thực của dân tộc mình, nâng cao kỹ thuật tự sự; mặt khác thì buông bỏ cái lề lối "sách giáo khoa khoa học thông tục" (lời Trình Tiểu Thanh), gia tăng tính thú vị và kích thích. Chính sự nỗ lực đồng thời trên cả hai phương diện này mới giúp nó thích ứng được với xã hội hiện đại Trung Quốc.

Tiểu thuyết hài hước không phải lấy tên từ đề tài, mà là lấy tên từ văn phong. Dù là xã hội, ngôn tình, võ hiệp, trinh thám, lịch sử, cung đình, thần quái, điển tích cố sự, chỉ cần dùng văn phong hài hước để thống soái toàn thiên (toàn bộ thiên truyện), thì đều là tiểu thuyết hài hước. Do đó, hình thức của nó là tự do nhất, vừa dễ dàng linh hoạt hấp thu và vận dụng tư tưởng mới phương pháp mới, lại vừa dễ sinh ra cẩu thả, không cầu tiến thủ. Thế nên tiểu thuyết hài hước vừa có không ít tác phẩm xuất sắc, lại vừa có một lượng lớn các tràng cười rẻ tiền nông cạn vô vị. Trình độ cao nhất của tiểu thuyết hài hước vùng đất bị chiếm đóng có thể lấy Cảnh Tiểu Đích ở phương Bắc và Từ Trác Đãi ở phương Nam làm đại biểu.

Cảnh Tiểu Đích (1907—1994) là cây bút sung mãn nhất trong vùng đất bị chiếm đóng Hoa Bắc, đề tài đa dạng, tổng cộng có hơn ba mươi bộ tác phẩm. Thời trẻ ông từng dấn thân vào tân văn học, cho nên sau này khi trở thành nhà văn thông tục, tầm mắt của ông khá cao, nhãn quang cũng rất sắc bén. Ông ngưỡng mộ Lão Xá và Lâm Ngữ Đường, nhiều tác phẩm có thể đạt đến trình độ của "Triết học lão Trương" và "Triệu Tử Viết" của Lão Xá, nhưng lại không theo kịp "Hai con ngựa" (Nhị Mã), lại càng không bằng "Ly hôn".

Năm 1940, Cảnh Tiểu Đích công bố hai bài viết "Bàn về sự hài hước" và "Châm biếm và hài hước" (tạp chí "Tam Lục Cửu họa báo", quyển 4, số 1 và số 12), bàn luận chi tiết về điểm giống và khác nhau của ba khái niệm này, cho rằng sự hài hước là kết quả kết hợp giữa châm biếm và hài hước, và ông ca ngợi nó nhất. Nhưng thành tích sáng tác thực tế của ông hoặc là nghiêng về mỉa mai, hoặc là nghiêng về sự trơn tuột lọc lọi, nói chung là tràn ngập bầu không khí xã hội thị dân Bắc Kinh.

Cảnh Tiểu Đích dường như đang gắng sức mượn thủ đoạn thông tục là "hài hước" để truyền tải tinh hoa của tân văn học đến cho thị dân. Ông phê phán rộng rãi các loại phong khí xấu xa và sự hắc ám của xã hội, thảo luận về rất nhiều "vấn đề" nhân sinh, đa phương diện thử nghiệm cải lương thể chương hồi. Ông từng nói: "Muốn đánh đổ tiểu thuyết thể chương hồi, không thể không tiến hành công tác từ bên trong thể chương hồi." ("Tam Lục Cửu họa báo", quyển 12, số 3).

Nhưng vì quá coi trọng việc tiếp cận độc giả, nên các cuộc thử nghiệm thường bỏ dở giữa chừng. Ví dụ như "Thủy trung duyên" sử dụng ngôi thứ nhất, thế nhưng độc giả lại không mua, khuyên ông hãy quay đầu là bờ, thậm chí cho rằng tiểu thuyết kể chính là câu chuyện của bản thân tác giả, kết quả Cảnh Tiểu Đích đành phải "lãng tử hồi đầu". Những tác phẩm tương đối thành công của ông thường có thể nhìn thấy ảnh hưởng của văn học cao nhã.

Ví dụ như "Hài hước hiệp khách" viết về hai tín đồ tiểu thuyết võ hiệp bỏ học đi du lịch, cầu tiên vấn đạo, dọc đường bày ra đủ mọi trò cười ngớ ngẩn, cuối cùng bị áp giải về kinh, hoàn toàn là mô phỏng cấu cục và cách sắp xếp nhân vật của "Don Quixote", tư tưởng chủ đề cũng là tinh thần phản võ hiệp của tân văn học.

Tác phẩm "Vân sơn vụ chiểu" năm 1942 viết về ba thầy trò Tôn Ngộ Không hạ phàm xuống cõi trần năm 1941, gặp phải đủ thứ chuyện kỳ quái như bắt cóc, phù quỹ (bói toán đồng cốt), châm biếm sâu cay đời sống hiện thực, được các giới hết lời khen ngợi. Kỳ thực đây chính là phương pháp "cố sự tân biên" mà tân văn học chủ trương. Nếu so sánh với tác phẩm "Tám mươi mốt giấc mơ" của Trương Hận Thuỷ được tân văn học hết lời ca ngợi đăng từ cuối năm 1939 đến đầu năm 1941, trong đó giấc mơ thứ bảy mươi hai mang tựa đề "Tôi là Tôn Ngộ Không", sẽ thấy hai bên tương đồng biết nhường nào.

Nhân vật chính Cao Thủy Giác trong "Thời đại quần anh" năm 1940 là kẻ có đường kiếm tiền rất khéo, dạy vài đứa trẻ đọc sách, đồng thời mở một cái "tiệm tạp hóa họ Cao", ép học sinh và phụ huynh mua nhiều bách hóa trong tiệm nhỏ, ngoài ra còn kiêm thêm việc chấm bát tự (tử vi), viết thư từ v.v., lại còn gia nhập hội đạo đức, quyên góp rồi tự ý chia chác. Đây há chẳng phải là bản sao của nhân vật chính trong "Triết học lão Trương" của Lão Xá sao?

Lỗ Tấn nói bản thân mình vắt ra là sữa, ăn vào là cỏ. Còn Cảnh Tiểu Đích chính là hấp thụ căng tràn dòng sữa của tân văn học, mới có thể sản sinh ra ngần ấy cỏ. Đương nhiên, có cỏ tranh (đạo thảo) lại cũng có cỏ thơm (phương thảo).

Từ Trác Đãi (1883—1961) là một trong những người sáng lập thể thao hiện đại và tân kịch của Trung Quốc. "Trong cuộc đời ông có ba thời kỳ, thứ nhất là thời kỳ Từ Phó Lâm, là nhà thể thao, nhà giáo dục, nhà văn viết truyện đồng thoại; thứ hai là thời kỳ Từ Bán Mai, là nhà tân kịch; thứ ba là thời kỳ Từ Trác Đãi, là tiểu thuyết gia." (Phạm Yên Kiều, "Lịch sử hài hước của Từ Trác Đãi", đăng trong "Bán Nguyệt", quyển 4, số 12).

Từ Trác Đãi sở trường viết truyện ngắn, bởi vì ông nhận thức được rằng "tiểu thuyết chủ yếu là miêu tả những mảnh ghép của cuộc đời, cho nên không cần thiết phải có đầu có cuối, cũng chẳng cần phải trang điểm rườm rà." ("Tiểu thuyết vô đề lục", "Tiểu thuyết thế giới", quyển 1, số 7)... Truyện ngắn của ông uyển chuyển linh hoạt, biến hóa đa dạng, giỏi nắm bắt những sự kiện bình thường quen thuộc, nhìn lớn từ cái nhỏ, "thường ẩn chứa một vài chân lý trong sự hài hước" (Nghiêm Phù Tôn, "Từ Trác Đãi", do Nguỵ Thiệu Xương biên soạn, "Tài liệu nghiên cứu phái Uyên ương bướm", trang 542)... Những tiểu nhân vật được khắc họa đôi khi mang phong vị của Anton Chekhov.

Thời kỳ vùng đất bị chiếm đóng, tác phẩm tiêu biểu của ông "Lý A Mao ngoại truyện", hoàn toàn có thể được xem như bộ phim của Charlie Chaplin trên giấy (Triệu Tiếu Cuồng ca ngợi Từ là "Charlie Chaplin của giới tiểu thuyết", xem "Hoa hồng đỏ", quyển 5, số 9, "Hoa tiền tiểu ngữ")...

“Dưới ách nặng nề khiến dân chúng không thể sống nổi, những gì tác giả viết là con đường mưu sinh phá vỡ lối mòn. Những người thị dân dưới gót giày sắt dường như đã không thể dùng sự cần cù của mình để duy trì sinh kế, tác giả đành phải dùng sự khôn ranh lưu manh để đổi lấy những nụ cười cay đắng của những con người đang khổ sở. Những tràng cười này vốn không xúi giục người ta đi thực hiện hành vi lừa đảo, thế cho nên trong sự phóng đại đã được thêm vào một thành phần hoang đường đậm đặc, ... nhưng dẫu sao thì nó cũng bắt nguồn từ cuộc sống, trung thành với hiện thực." (Phạm Bá Quần, "Charlie Chaplin phương Đông, danh gia tiểu thuyết hài hước - Từ Trác Đãi", tùng thư "Tiểu thuyết thông tục đô thị đầu thời Dân quốc", Nhà xuất bản Nghiệp Cường Đài Loan, 1993).

Quan niệm nghệ thuật và kỹ thuật sáng tác của Từ Trác Đãi còn đến gần với tân văn nghệ hơn cả những người như Dư Thả, chỉ là ông cứ khăng khăng ôm chặt lấy "thú vị", tìm kiếm trò cười trong từng con chữ, toàn bộ đời sống đều bị hài hước hóa. Cho nên có người cho rằng "ông nên đứng chung hàng ngũ với những người làm công tác tân văn nghệ" (Lưu Dương Thể, "Tuyển tập bình chọn tác phẩm phái Uyên ương bướm", trang 260, Nhà xuất bản Văn nghệ Tứ Xuyên, 1987), trong khi "Luận thảo về tiểu thuyết thông tục thời Dân quốc" của Trương Cám Sinh lại vì vị đại gia thông tục này "mang sắc thái tân văn nghệ" mà kiêm luôn việc không chuyên luận (chỉ có mục giới thiệu một trăm chữ ở trang 56).

Tiểu thuyết hài hước đến đời Từ Trác Đãi, thực ra đã vượt qua cảnh giới thẩm mỹ của tiểu thuyết châm biếm, lên án, mà mang theo một vài hơi thở hài hước đen (black humor). Nếu có thể tiếp tục giao lưu với tân văn học, nhất định sẽ còn tỏa sáng rực rỡ hơn nữa.

Các loại tiểu thuyết thông tục khác, cũng tiến cùng thời đại, ở đây không dài dòng thêm nữa. Thời kỳ kháng chiến, từ Trương Hận Thuỷ ở vùng Trung ương cai quản cho đến các loại tiểu thuyết thông tục "Tam sơn ngũ nhạc" ở vùng đất bị chiếm đóng, đều trải qua một quá trình nhã hóa vừa phức tạp đan xen lại vừa vô tình ăn khớp với nhau. Điều này dự báo rằng cục diện nhã - tục sau một thời gian dài "chiến tranh lạnh", đã nghênh đón một thời đại đa cực.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Khổng Khánh Đông

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.