Thời buổi này, những bài viết hồi tưởng về "chuồng bò" xem chừng rất thịnh hành. Từng ở "chuồng bò" đã trở thành một thứ kinh nghiệm vinh quang, giống như trước thời kỳ cải cách mở cửa, người ta hồi tưởng việc mình từng chăn bò cho địa chủ cũ, dệt vải cho đại chưởng quỹ, hay bị ngụy bảo trưởng bắt đi lính tráng vậy. Nội dung hồi tưởng là sự đau khổ, nhưng tư thế của người hồi tưởng lại là sự tự hào. Nhờ có sự tự hào ấy, họ liền có tư cách để luận bàn lịch sử. Họ thường nói: "Anh chưa từng ở 'chuồng bò', anh hiểu thế nào là 'Văn hóa Đại cách mạng vô sản'? Lúc đó cậu hãy còn là đứa trẻ, tôi mới chính là người từng trải qua 'Văn hóa Đại cách mạng vô sản'." Thế là qua các bài viết hồi tưởng về "chuồng bò", chúng ta hiểu ra rằng, những kẻ từng ở "chuồng bò" đều là người tốt. Ở "chuồng bò" thứ nhất đồng nghĩa với việc có học vấn, có văn hóa, có công lao, có cống hiến, là "người mới bốn có" thời bấy giờ; thứ hai đồng nghĩa với việc có đạo đức, có dũng khí, có phẩm giá, nếu không thì tại sao lại chịu sự bức hại tàn khốc như thế? Logic rất rõ ràng, kẻ xấu nói tôi là người xấu cơ mà, vậy thì tôi nhất định phải là người tốt đại cát đại lợi rồi. Điểm này xem chừng đã tiến bộ hơn so với thời "Văn hóa Đại cách mạng vô sản", bởi vì thời "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" cho rằng, bạn tuy từng ở ngục tù của giặc Nhật, Quốc Dân Đảng, nhưng không có nghĩa là bạn chính là người của Đảng Cộng sản, bạn cũng có thể là vì ăn cắp vặt, dụ dỗ thiếu nữ hay những việc đại loại thế mới phải vào tù, đừng có mòng phi ngư mục hỗn (hòng cá mè một lứa), cóc ghẻ đeo kính giả làm cán bộ lớn bụng phệ. Hơn nữa cho dù bạn thực sự vì kháng chiến ái quốc mà vào tù, bạn cũng có thể phản bội đầu hàng giặc, quay lại tàn sát đồng chí cách mạng, tàn độc hơn cả kẻ thù gấp mười lần đấy chứ! Dựa vào cái gì mà ngồi tù mấy ngày là có thể đòi hỏi cái này cái nọ với nhân dân, bốn trăm triệu nhân dân đã chịu đựng từng ấy khổ đau, họ đi khoe khoang với ai, đi đòi hỏi với ai chứ!
Tôi nói những lời châm chọc này, không phải là muốn nói những người từng ở "chuồng bò" đều đáng tội. Tôi biết rất nhiều người trong số họ là bị oan uổng, lại có một phần quả thực đã đấu tranh với thế lực tả khuynh cực đoan. Tôi muốn nhắc nhở rằng, phàm là một thứ gì đó đã thành mốt, thì rất khó tránh khỏi việc hàng giả hàng kém chất lượng hùa theo ăn theo. Giống như hồi tôi còn nhỏ, ngay cả địa chủ già cũng mưu toan ôn nghèo kể khổ, trong những "sử sách máu lệ" chồng chất ấy, bên trong có bao nhiêu phần trăm là nước? Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm về mặt này, ngày nay không nên đi vào vết xe đổ nữa. Học sinh bây giờ cứ nghĩ "chuồng bò" là nơi đáng sợ hơn cả ngục tù, bên trong ngày nào cũng là giết người, tự sát, tra tấn, chết đói. Những "chuồng bò" như thế đương nhiên là có, nhưng khắp nơi trên toàn quốc, tình hình muôn hình vạn trạng, hơn nữa giai đoạn đầu, giữa và cuối của "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" cũng hoàn toàn khác nhau. Thái độ thực sự cầu thị, là phải dũng cảm hồi tưởng những chuyện cũ bất lợi cho hoàn cảnh hiện tại của mình, giống như học giả chân chính, không thể che giấu những tài liệu bất lợi cho quan điểm của mình. Mọi sự che giấu đều sẽ phải chịu sự báo ứng của lịch sử. Vấn đề "chuồng bò" cũng như vậy, đừng kịch tính hóa, thần bí hóa nó. Trong những trang viết hồi tưởng về nỗi thống khổ của tri thức, thái độ sáng tác của tiên sinh Dương Giám trong "Cán hiệu lục ký" và tiên sinh Quý Tiễn Lâm trong "Chuồng bò tạp ức" rất đáng được tán dương. Họ có lập lập trường, nhưng không phóng đại; có sự hài hước, nhưng không bóp méo. Hồi tưởng của bất cứ ai cũng khó tránh khỏi tính chủ quan, nhưng chỉ cần tâm thái ngay thẳng, không mưu toan kiếm một chén canh quyền lực hay ảo tưởng trở thành "Nghị quyết về vấn đề lịch sử", thì bản thân tính chủ quan đó cũng dễ dàng trở thành tính khách quan.
Mang theo suy nghĩ ấy, tôi cũng đến "ké cửa", hồi tưởng lại kinh nghiệm cùng cha "ở chuồng bò" của mình. Tôi xin tuyên bố trước, "chuồng bò" mà tôi hồi tưởng có lẽ là "chuồng bò" có tình hình tốt nhất cả nước, hoàn toàn không có những khung cảnh hung hăng, đẫm máu nào cả. Tôi không dám lấy "chuồng bò" này để đại diện cho "chuồng bò" của cả nước, cũng giống như tôi phản đối việc lấy "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" của một vài cá nhân để đại diện cho "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" của 700 triệu nhân dân. Nếu có ai không thích hồi tưởng của tôi, các bạn có thể phủ nhận nơi tôi nói là "chuồng bò", cứ định nghĩa riêng "chuồng bò" là ngục tù đặc biệt chuyên đánh đập tàn sát trí thức là được.
Thời "Văn hóa Đại cách mạng vô sản", tôi quả thực là một đứa trẻ. Tôi sinh năm 1964, mặc dù thông minh sớm, những chuyện từ sau hai tuổi cơ bản đều nhớ, nhưng cũng chỉ là trí nhớ tốt mà thôi, khả năng phán đoán lúc đó thì không có. Cả đời tôi thích ghi nhớ càng nhiều thứ càng tốt mà không cần phán đoán, khi nào cần phán đoán thì hãy phán đoán. Bởi vì phán đoán không phải là vĩnh hằng, những thứ được ghi nhớ mới là đồ thật. So với việc nuôi binh một ngày dùng một giờ, tôi thích nuôi binh ngàn ngày hơn.
Có lẽ là vào khoảng năm 1970, lúc tôi năm sáu tuổi, dù sao thì cũng là trước khi tôi đi học tiểu học, trước khi em gái tôi ra đời, trước khi Lâm Bưu ngã chết, trước khi sách tranh của tôi chưa đến 100 cuốn, tôi đã có một lần trải nghiệm cùng cha "ở chuồng bò". Hồi đó không biết đến từ "chuồng bò", từ này rõ ràng là từ miền Nam truyền tới. Nơi ở của súc vật phương Bắc chúng ta thường không gọi là "chuồng", đều gọi là "vây", có chuồng ngựa, chuồng bò, chuồng cừu, chuồng gà. Địa điểm câu chuyện có thật trong "Tứ đại đồng đường" của Lão Xá có tên là "Tiểu Dương Quyển hồ đồng" (Hồ đồng chuồng cừu nhỏ). Bạn bè miền Nam thường công kích "bá quyền ngôn ngữ phổ thông" của người phương Bắc chúng ta, thực ra chúng ta đã dung nạp vô số từ vựng miền Nam, Thái Sơn không chối từ đất cát, Thương Hải không từ chối dòng nước nhỏ, chút bá quyền này há lại dễ dàng có được sao? Ví dụ như bây giờ tôi cũng cảm thấy từ "chuồng bò" này rất hay, có vẻ thô sơ và tồi tệ hơn "chuồng bò" (chuồng vây) một chút, có thể làm nổi bật hơn sự bức hại của "Bè lũ bốn tên" đối với các anh hùng chủ nghĩa tự do, thế nên tôi dùng từ "chuồng bò".
Thực ra cho đến tận sau này, tôi mới nghe nói trên đời có thứ gọi là "chuồng bò". Sau đó nghe càng lúc càng thấy đáng sợ, giống như trại tập trung của phát xít, đã có một khoảng thời gian căm thù tận xương tủy. Mãi cho đến sau này mới hiểu ra, "chuồng bò" mà họ nói vốn không phải tên thật, hóa ra đó là một phép ẩn dụ, hơn nữa còn là phép ẩn dụ ở một khu vực cục bộ được phóng đại ra toàn quốc, tức là "bá quyền ngôn ngữ", điều mà nó ám chỉ chính là nơi quản lý tạm thời trong "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" do các đơn vị cư ép "ngưu quỷ thần rắn" và những nhân viên có vấn đề khác tập trung lại để tiếp nhận cải tạo tư tưởng bao gồm cả cải tạo lao động, thời đó đa số gọi là "lớp học tập". Cứ thế là tôi liền nghĩ đến, thứ đó chúng ta đâu có lạ gì đâu, hồi bé vẫn thường nhìn thấy, rất nhiều hàng xóm từng đi rồi, thiếu gia đây còn từng đích thân đồn trú nữa cơ mà.
Nhớ là vào một buổi chiều xanh biếc, cha không uống rượu bên ngoài mà về nhà. Khi không uống rượu, ông rất khôi ngô tuấn tú, lông mày rậm mắt to, mũi thẳng miệng vuông, nhìn một cái là ra ngay cái khí chất anh vũ kiểu hạ cấp quân quan giải phóng quân ngày trước, đẹp trai hơn cả Tôn Đạo Lâm, Vương Tâm Cương, Vu Dương. Các bạn nhỏ của tôi thường hay đến nhà tôi để chiêm ngưỡng bức ảnh mặc quân phục của cha tôi, sờ soạng những món đồ mà cha tôi mang về từ quân đội sau khi chuyển ngành. Hôm đó cha cùng mẹ bàn bạc cái gì đó, tôi mải chơi trò "đánh kẻ xâm lược" với các bạn ở bên ngoài nên không để ý. Nhưng tôi biết cha có một chuyện không vui, đó là có người trong nhà xưởng tố cáo ông là đảng viên giả. Cha vào Đảng năm 1948 trong Chiến dịch Hoài Hải, đã hơn hai mươi năm, khi xét duyệt đảng viên, ông lại không tìm được người giới thiệu ban đầu của mình. Ông là một bợm rượu lười biếng, một năm viết không nổi hai bức thư, vì văn hóa kém, không thăng tiến được trong quân đội, nên đã sớm chuyển ngành, rất ít khi liên lạc với chiến hữu cũ. Lúc này ông đang làm quản lý phân xưởng, không nịnh bợ lãnh đạo, lại thường xuyên uống rượu với công nhân lạc hậu. Đặc biệt là ở trong xưởng, hở ra là ông lại bày đặt thói bề trên, nói lão tử đây là người tham gia cách mạng từ thời kháng chiến, mắng tất cả lãnh đạo trong xưởng một lượt. Lần này hay rồi, người ta nắm được thóp của ông, cho ông một vố đau đớn. Nhưng tôi lại cảm thấy, một người ngày nào cũng nói mình là lão cách mạng, mắng sạch cả lãnh đạo của Đảng, thế nhưng khi xét duyệt tư cách đảng viên của ông ta, ông ta ngay cả người giới thiệu vào Đảng của mình cũng nói không rõ ràng, vậy thì con người này nên được chỉnh đốn lại một chút, ít nhất cũng nên giúp ông ta tìm cho ra người giới thiệu của mình. Nếu không, Đảng còn có uy tín gì trong quần chúng nữa? Cha tôi dựa vào tư cách "lão làng" và sự chính trực của mình, mắng lãnh đạo suốt cả đời, lãnh đạo cũng thường xuyên cho ông mặc áo ôm (chèn ép). Nhưng nói đến "bức hại" thì không có đâu, dẫu sao cũng là sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Các đời lãnh đạo lớn nhỏ trong xưởng của ông đều từng đến nhà tôi thăm viếng, bị cha tôi ép uống một ngụm rượu cám bã, nuốt một miếng rau thập cẩm, rồi mặt đỏ tưng bừng mà rời đi. Vào thời đó, thế này đã được coi là "hủ bại" rồi.
Vì tư cách "già dặn", cha đã bị lôi ra đấu tố ngay từ thời kỳ đầu của "Văn hóa Đại cách mạng vô sản". Người ta gọi là "quỳ suốt đêm", nghĩa là bị ép khom lưng chịu đựng cuộc phê đấu suốt cả một đêm. Thế nhưng đến sau Đại hội IX của Đảng, tâm lý mọi người nhìn chung đều cho rằng "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" đã qua đi rồi. Người lớn thường hay nói "hồi Đại hội Văn hóa Đại cách mạng" thế này thế nọ, cha tôi thì mở miệng ra là thổ âm Lỗ Nam, thường hay mắng "cái thời đại cách mạng văn hóa ấy", chủ yếu là mắng chuyện "đập phá cướp giật", chuyện không hiếu kính cha mẹ, không tôn kính thầy cô. Mãi cho đến khi tuyên bố "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" chính thức kết thúc, chúng tôi mới biết: Ồ, hóa ra ban nãy vẫn là "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" đấy à. Khoảng năm 1970, cảm nhận cá nhân của tôi là đời sống vật chất và tinh thần đều rất bình thường, bao gồm cả việc cha mẹ thường xuyên tham gia lớp học tập gì đó, tôi cho rằng ai tham gia học tập cũng là điều đương lẽ cả, không học tập thì vẫn còn là con người nữa sao?
Thế nhưng thần sắc của cha mẹ ngày hôm nay hình như có chút kỳ lạ. Họ bảo với tôi, ngày mai cha phải đi tham gia một lớp học tập, phải ở lại đó luôn. Nghe xong tôi liền có chút ngưỡng mộ, cả đời tôi thích ăn cơm nhà người khác, ngủ giường nhà người khác, nghe lời nhà người khác, làm việc cho nhà người khác — số mệnh sinh ra đã là người vô sản. Thế nên sáng hôm sau lúc cha ra cửa, tôi liền đòi đi theo. Cha ôm tôi ở cửa tòa nhà một lúc lâu, đặt xuống rồi đi, tôi lại đuổi theo, cha lại bồng tôi lên. Từ nhỏ tính cách tôi không hợp với cha mẹ, cha mẹ thường xuyên đánh tôi, đặc biệt là sau bốn năm tuổi, họ rất ít khi bồng ẵm tôi. Thế nên khung cảnh này tôi nhớ rất rõ ràng, cùng với bầu trời cao vời vợi trong trẻo và hương thơm xào nấu món ăn của các nhà trong tòa nhà. Lớn lên tôi thường nghĩ đến mặt ôn hòa của họ đối với tôi, từ đó cũng tha thứ cho những trận đòn vô lý mà họ giáng lên người mình. Lúc này mẹ gọi tôi quay lại, cha lại bảo cứ để cái đồ khốn nạn này đi theo tao đi. Thế là cứ như vậy, tôi cùng cha đến "lớp học tập".
Lớp học tập lúc bấy giờ chính là cơ quan chỉnh đốn nội bộ do các đơn vị chuyên môn thành lập để tiến hành học tập tư tưởng mang tính cưỡng chế và cải tạo tư tưởng đối với những nhân viên có sai lầm, có vấn đề. Thông thường không cho phép về nhà và tự do ra vào, không cho phép tùy ý liên lạc ra bên ngoài. Còn như thời gian dài ngắn, quy tắc cụ thể ra sao thì trăm hoa đua nở. Nghe nói có lớp học tập giống như nhà giam, học viên giống như phạm nhân, bị đánh đét chửi mắng. Mà cũng có lớp học tập thì giống như viện dưỡng lão, sơn hào hải vị quanh năm, đọc báo xem thời sự, đại khái chắc cũng giống như nhà tù mà võ sĩ quyền anh Mỹ Tyson từng ở. Tyson nếu miêu tả nhà tù Mỹ, chắc chắn sẽ hoàn toàn khác biệt với những người nhập cư trái phép vào tù.
Lớp học tập mà cha tôi đến là một lớp lớn thuộc hệ thống Cục Thương mại thành phố Cáp Nhĩ Tân, học viên có tới mấy trăm người. Địa điểm học tập là ở một trường đại học, hình như là Học viện Sư phạm Cáp Nhĩ Tân (nay là Đại học Sư phạm). Lúc báo danh phải nộp mấy đồng tiền ăn và mấy cân phiếu lương thực, điều này mang tính tượng trưng một chút, đồ ăn thực tế giá trị vượt xa những thứ này. Sau khi báo danh mới phát hiện ra rất nhiều thúc thúc (chú) a di (cô) tôi đều quen biết, bao gồm cả một số cán bộ đảng viên trong xưởng của cha. Họ thấy tôi đến đều rất vui mừng, bởi vì họ đều biết tôi "có chút tài mỡ". Các đơn vị khác cũng có người dẫn trẻ con theo, nhưng ai nấy đều ủ rũ rượi, có lẽ không phải tự nguyện đến. Tiếp theo là phân chia phòng, 8 người một phòng, rất lớn, rộng tầm 20 mét vuông. Trẻ con ngủ chung giường với người lớn. Phòng ốc cực kỳ sạch sẽ, tôi cảm thấy giống như khách sạn, bây giờ nghĩ lại, đó chính là ký túc xá học sinh.
Sau đó tôi đã trải qua một khoảng thời gian vô cùng vui vẻ. Ba bữa ăn mỗi ngày đều cực kỳ ngon, ngày nào cũng có thịt có lương thực tinh chế, hơn nữa món ăn lại rất đa dạng. Nhà tôi hồi đó chỉ có mình tôi là con, đời sống thuộc dạng khá giả ở khu vực đó, nhưng vì chi tiêu không có kế hoạch, cha lại hay ăn nhậu linh đình bên ngoài, thế nên bình thường phải đến Chủ nhật mới được ăn thịt, gạo mì cũng không thể ngày nào cũng ăn được. Ở trong lớp học tập này, lúc ăn cơm là 8 người một bàn, buổi sáng là bánh bao, bánh nướng, cháo ngô, bốn đĩa rau xào, hai đĩa dưa muối nhỏ. Buổi trưa và buổi tối luân phiên thay đổi bánh bao, bánh xốp, bánh quẩy, bánh hoa cuộn, cơm tẻ, mì sợi, có từ sáu đến tám đĩa thức ăn nóng, món mặn món chay phân nửa. Thỉnh thoảng cũng ăn bánh ngô hoặc sủi cảo, bánh bao, lúc ăn bánh ngô thì ăn kèm cháo gạo tẻ, lúc ăn sủi cảo, bánh bao thì không cho thức ăn nữa, nhưng nước tương giấm và tỏi thì tha hồ lấy. Cha nhắc nhở tôi đừng gắp nhiều thịt quá, phải để phần thịt lại cho người khác. Thế nhưng người khác lại thường xuyên gắp thịt cho tôi. Tôi ở đây ngược lại đã học được một số quy củ của đời sống tập thể. Cha sống trong quân đội nhiều năm, rất quen thuộc với kiểu ăn cơm tập thể thế này. Ông đã kể cho mọi người nghe rất nhiều chuyện thú vị khi ăn uống trong quân đội. Ví dụ như làm thế nào để có thể ăn được nhiều cơm hơn? Nếu bạn múc một bát cơm đầy, cứ nghĩ là rất nhiều, nhưng đến lúc bạn ăn xong quay đi múc tiếp, thì trong thùng cơm đã chẳng còn hạt nào nữa rồi. Người thông minh nên múc nửa bát trước, ăn xong trước người khác, rồi hẵng đi múc một bát thật đầy. Tuy nhiên, cha có vẻ không mấy hài lòng với bữa ăn ở đây, bởi vì không có rượu. Sau đó ông và mấy ông chú bợm rượu không biết từ đâu vẫn kiếm được rượu, uống liền mấy bận.
Ngoài ăn uống ra thì là học tập. Mỗi buổi sáng tập trung học tập, thường là lãnh đạo nào đó báo cáo hoặc mời bần hạ trung nông đến ôn nghèo kể khổ, mọi người ghi chép lại. Cha tôi xuất thân từ lớp học tư thục, chữ viết rất đẹp. Ông thường hay nói: "Đám học sinh trung học kể từ sau 'Văn hóa Đại cách mạng' tới nay, chữ viết chả ra cái thá gì cả! Làm sao mà viết đẹp bằng tôi cơ chứ!" Tôi luôn muốn nói ông đang bôi nhọ Văn hóa Đại cách mạng, nhưng chữ của chính tôi thì lại viết xấu như gà bới, đành phải mặc kệ ông bôi nhọ. Bọn họ luôn giục tôi lẻn ra ngoài chơi, nhưng tôi không muốn chơi cùng mấy đứa trẻ đó, cứ nửa hiểu nửa không cùng người lớn lắng nghe. Bầu không khí nghiêm túc ấy, có chút khô khan, có chút lạnh lẽo ấy, tôi cảm thấy rất thích, cảm thấy thế giới thật trong sạch, bản thân mình và mọi người đều rất trong sạch.
Buổi chiều là thảo luận theo nhóm, chủ yếu là đọc báo và phát biểu. Lúc đọc báo, họ thường hay bảo tôi đọc tiêu đề và đoạn đầu tiên, sau đó khen tôi rằng: "Chưa đi học mà đã thế này, khôn lỏi thật đấy mẹ kiếp! Thằng con nhà tôi á, chữ nghĩa bằng vung!" Tôi nhớ lại những cảnh tượng này, nhìn lại đứa con trai bây giờ của mình, cả ngày không nhận nổi hai chữ rưỡi, thế mà cái bà mẹ hồ đồ của nó vẫn khen nó khôn, tôi liền nói: "Chữ nghĩa bằng vung! Tức chết bố nó đi được!" Thế là mẹ nó liền nói: "Đúng đấy, tức chết cái thằng bố chữ nghĩa bằng vung của nó đi!" Đọc báo xong thì lần lượt lên phát biểu. Có người nói chay, có người cầm cuốn sổ nhỏ mà đọc, có người viết mấy trang giấy chi chít rồi cứ thế cầm đọc. Có người trước khi phát biểu thì đọc thuộc lòng vài câu ngữ lục Chủ tịch Mao, phát biểu xong thì hô vài câu khẩu hiệu. Thực ra lúc đó chẳng có ai yêu cầu làm như vậy, hoàn toàn không phóng đại và đáng sợ giống như trong tiểu phẩm "Chụp ảnh kiểu này" của Khương Côn, Lý Văn Hoa. Nhưng đây là một thứ mốt, không phải ai cũng có thể tìm được những câu ngữ lục và khẩu hiệu phù hợp với nội dung phát biểu. Tôi là người ghi nhớ những thứ có cá tính sâu sắc nhất. Có một chú nọ khi kiểm điểm lý do tại sao lại đánh vợ, trước tiên đã đọc thuộc lòng "Thời đại khác rồi, nam nữ đều như nhau, việc đồng chí nam làm được, đồng chí nữ cũng làm được. Phụ nữ gánh vác nửa bầu trời." Khẩu hiệu hô cuối cùng là: "Sinh vĩ đại, tử vinh quang!" Toàn là những thứ liên quan đến phụ nữ, nhưng tôi đứng bên cạnh nghĩ thum thủm, vợ chú có phải Lưu Hồ Lan đâu, sao lại có thể "sinh vĩ đại, tử vinh quang" được cơ chứ? Vợ chú mà là Lưu Hồ Lan thì chú có dám đánh không? Hơn nữa, cha tôi ở nhà cũng đánh vợ đánh con, sao không thấy kiểm điểm? Điều ông kiểm điểm là vấn đề tùy tiện mắng người trong đơn vị. Tôi cảm thấy cha tôi nên học thuộc lòng điều kỷ luật thứ năm trong "Tam đại kỷ luật bát hạng chú ý": "Thứ năm không được đánh người và mắng người, tác phong quân phiệt nhất định phải kiên quyết khắc phục!" Nhưng cha tôi chẳng học thuộc cái gì cả, bài phát biểu của ông vừa dài lại vừa rất tự nhiên, mang đậm phong thái của thủ trưởng, chốc chốc lại đan xen vài câu chửi thề thô tục của Sơn Đông, đây là bản lĩnh được rèn luyện trong quân đội. Tôi nghĩ, một người như cha, nếu quân đội đưa họ đi học đại học, nhất định sẽ trở thành một nhân vật lớn tài giỏi. Kết quả là ông ôm hận tài không gặp thời, chìm đắm trong việc uống rượu chửi thề suốt cả quảng đời còn lại. Vấn đề mà cha kiểm điểm là vấn đề mắng người, nhưng vừa kiểm điểm lại vừa vô thức mắng tiếp, đặc biệt là cụm từ "mẹ kiếp" tần suất xuất hiện rất cao, mọi người thường cười lớn, nói lão Khổng ông kiểm điểm cái khỉ gì chứ, càng kiểm điểm lại càng tội ác tày trời. Cha nói "Tôi đách có cách nào khác cả, ai mẹ kiếp lại thích mắng người chứ? Mấy cái đồ mặt dày nhà các người cứ ngoan ngoãn nghe cho xong đi, lại cứ cố tình đi bới móc tìm lông tìm vết cái khỉ khô gì cơ chứ!" Mọi người đều thích tìm kiếm một số chuyện bên lề để chuyển chủ đề, làm cho cuộc thảo luận bị ngắt quãng, điều này tương đương với việc nghỉ ngơi tinh thần. Thảo luận cơ bản là nghiêm túc nghiêm chỉnh, nhưng cũng đan xen những tiếng cười đùa chửi rủa, bao gồm cả việc trêu chọc lẫn nhau giữa nam và nữ, có một lần mấy vị a di còn cầm báo chí đuổi đánh mấy người đàn ông một trận tơi bời.
Chủ đề thảo luận thường là do buổi sáng quy định, nhưng thỉnh thoảng họ cũng ngẫu hứng thảo luận về những vấn đề mình hứng thú. Ví dụ như có lần họ thảo luận "Phụ nữ gánh vác nửa bầu trời" rốt cuộc có ý nghĩa gì. Đó là phụ nữ cũng không thể cứ nhàn rỗi ở nhà mãi được, phải ra ngoài phụ giúp gánh vác nửa cái bầu trời. Một a di liền nói: "Gánh vác nửa bầu trời tức là mỗi nhà một nửa ý, tôi một nửa, anh một nửa, có đời thuở nhà ai các anh gánh vác cả cái bầu trời chưa hả?" Chú nọ liền nói: "Cái này chẳng phải rành rành ra đấy sao, các cô làm gì có sức khỏe bằng bọn tôi, tôi ăn 4 cái bánh bao, cô ăn hai cái, tôi vác 100 cân gạo, cô vác 50 cân, đây chẳng phải nói lên rằng, chúng tôi là toàn vẹn, còn các cô là một nửa đó sao?" A di liền nói: "Anh thật đúng là dám trơ mặt ra mà ăn nói hàm hồ đấy nhé! Tôi sinh liền 4 đứa con, anh sinh mấy đứa?" Chú nọ đáp: "Cô dọa tôi chắc, cô sinh 100 đứa cũng thế thôi, xin hỏi, không có tôi thì cô sinh kiểu gì được!" Mọi người cười lớn, vị a di nọ vớ lấy chiếc khăn quàng cổ to sụ lao tới, quất cho chú nọ chạy đông trốn tây, miệng nói được lắm, dứt khoát nhường hẳn cả bầu trời cho các anh gánh vác hết luôn, chúng tôi chẳng làm gì nữa hết là được chứ gì? A di liền nói không được, buộc phải mỗi nhà một nửa, không ai được phép lười biếng. Đánh đùa nháo nhào một hồi lâu, cuối cùng vẫn chẳng hiểu câu nói này rốt cuộc có ý nghĩa gì.
Buổi tối là thời gian tự do hoạt động, thỉnh thoảng xem phim, biểu diễn văn nghệ này nọ. Có người đánh cờ, có người đánh bóng rổ, nhiều nhất là chơi bài phé. Cũng có người tìm cớ xin phép về nhà. Thực ra cũng chẳng có ai thực sự canh chừng cả, đi dạo mấy tiếng đồng hồ cũng chẳng ai hay biết, thế nhưng mọi người đều rất tự giác, hễ ra ngoài là đều nhất luật xin phép. Trước khi xem phim biểu diễn văn nghệ phải cùng nhau hát tập thể, thỉnh thoảng họ không thích hát, liền bảo mấy đứa trẻ chúng tôi lên sân khấu hát, hoặc là bảo tôi hát trích đoạn hí khúc mẫu mực, đọc thuộc lòng ngữ lục Chủ tịch Mao. Hồi đó tôi vẫn chưa thể hát trọn vẹn vở hí khúc mẫu mực, nhưng những đoạn hát chính thì không vấn đề gì. Chỉ là giọng nói chưa vỡ tiếng, hát cái gì cũng vẫn là giọng trẻ con. Ngữ lục Chủ tịch Mao ngoại trừ "Tam lão thiên" (Ba bài văn cũ) ra, những đoạn ngắn thì tôi có thể đọc thuộc lòng cả trăm đoạn, những câu hay dùng, từng được đăng trên báo thì đều thuộc làu làu. Họ thích tùy tiện đọc một câu, rồi tôi liền cất tiếng đối đáp ngay lập tức, đối đáp trôi chảy, không sơ hở một chút nào. Thế nên sau này tôi nổi tiếng khắp cả Cục Thương mại, cứ mỗi lần cha tôi đến cục họp là người khác lại hỏi: "Khổng mập ơi, con trai anh lại đọc trường thiên tiểu thuyết gì đấy hả?" Thỉnh thoảng tôi cũng cảm thấy, họ đang lợi dụng tôi để giải khuây, thế nên đôi khi tôi từ chối biểu diễn. Nhưng thông thường tôi không thấy việc giải khuây cho người khác khi không tổn hại đến phẩm giá của bản thân thì có gì là không tốt.
Cứ như vậy, mấy trăm người ngày ngày không lao động, không đi làm, trải qua cuộc sống ăn, ngủ, nghe, nói, đọc, viết, xem, chơi. Điều này khác gì với việc đi học đại học chứ? Quả thực, những học viên này đều là những người có "vấn đề" này hay vấn đề khác. Nhưng nhìn dáng vẻ của họ, hình như không quá nặng nề, có vẻ như đây là một trình tự đương nhiên phải có trong cuộc đời. Có lẽ là vì tôi còn quá nhỏ, không nhìn thấu được nỗi đau khổ trong lòng họ chăng? Tôi chỉ có thể nói là từ bề ngoài của cuộc sống, họ sống thoải mái và dễ chịu hơn bình thường rất nhiều. Không một ai oán thán lớp học tập này, không một ai mong ngóng nó kết thúc sớm, không dám nói họ là tự nguyện chịu đày đọa, nhưng ít nhất cũng là tùy hoàn cảnh mà an phận.
Cái "chuồng bò" mà tôi hồi tưởng lại không hề giống "chuồng bò" chút nào, trái lại trông giống như một trại hè thì đúng hơn. Tôi xin bày tỏ sự áy náy và xin lỗi chân thành đối với những tiền bối từng chịu nỗi khổ "chuồng bò". Nghĩ lại ngày nay, những gì tôi nhìn thấy có lẽ đều là mặt tốt đẹp, mang tính phiến diện của một đứa trẻ. Lớp học tập đối với người lớn mà nói, chắc chắn là không có tự do, bị kỳ thị, có lẽ còn có cả mặt bị ép phải nói dối. Dùng phương thức như thế này để xử lý "mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân" có lẽ là không thích hợp cho lắm. Nhưng chúng ta rốt cuộc nên áp dụng phương thức thích hợp nào đối với những người có khuyết điểm sai lầm này nọ? Chẳng lẽ nói một con người, đặc biệt là cán bộ đảng viên, lại thêm cả học phiệt, "uy quyền", chỉ cần không phạm pháp thì không ai được phép quản họ nữa sao? Việc xảy ra rất nhiều sự kiện "chuồng bò" vô nhân đạo, rốt cuộc có liên quan gì đến sự phẫn nộ tích tụ lâu ngày trong lòng quần chúng hay không? Tôi nghĩ, để tránh việc bi kịch "chuồng bò" lặp lại, trước hết chúng ta phải xuất phát từ những vụ việc cụ thể để nghiên cứu nguyên nhân sinh ra "chuồng bò", hơn nữa không được vì phẫn nộ cá nhân mà "yêu ma hóa" "chuồng bò", xem "chuồng bò" một cách đơn giản như một kỳ quan hoang đường. Phải thừa nhận rằng trong "Văn hóa Đại cách mạng vô sản" không hề tối tăm mù mịt như thế, ngày nào cũng chìm trong nước sôi lửa bỏng. Cả "tả phái" lẫn "hữu phái" đều không được ép buộc đối phương chấp nhận quan điểm "Văn hóa Đại cách mạng" của mình, phải tôn trọng nỗi đau thương hoặc niềm vui của người khác. Hoàn toàn không thừa nhận những kẻ từng ở "chuồng bò" cũng có sai lầm, không thừa nhận một số người quả thực nên bị quần chúng phê phán, hoặc lấy lý do từng ở "chuồng bò" để phản công thanh toán nhân dân, điều này không những lãng phí những bài học kinh nghiệm lịch sử quý giá, mà hơn nữa còn đồng nghĩa với việc đang chuẩn bị lễ đặt móng cho những cái chuồng bò mới.
Tôi sợ là có lý do của nó.