Những nhà nghiên cứu văn học Bắc Kinh thường đều nhận thấy khí chất bình dân của văn học Bắc Kinh, từ Lão Xá đến Vương Đề Sóc, đều được xem là đại biểu của "tinh thần thị dân". Thế nhưng nếu nghiên cứu kỹ lưỡng khí chất bình dân mà văn học Bắc Kinh thể hiện ra, đặc biệt là khi so sánh với khí chất bình dân của văn học các thành phố khác, chúng ta sẽ phát hiện ra rằng, bên ngoài hoặc có thể nói là đằng sau khí chất bình dân, văn học Bắc Kinh vẫn còn mang một khí chất quý tộc vô cùng mạnh mẽ. Đây không chỉ là dấu hiệu quan trọng phân biệt văn học Bắc Kinh với văn học các thành phố khác, mà còn là dấu hiệu quan trọng làm cho khí chất bình dân của văn học Bắc Kinh trở nên độc đáo.
Văn học Bắc Kinh được nhắc đến trong bài viết này mang nghĩa rộng, bao gồm văn học phái Kinh và văn học phong vị Kinh, là văn học sáng tác với thân phận người Bắc Kinh hoặc lấy đời sống Bắc Kinh làm đề tài. Khí chất quý tộc được nhắc đến trong bài viết này chỉ hơi thở nhân văn vượt lên trên đời sống thường nhật của người bình dân, lấy sự theo đuổi đời sống tinh thần làm cốt lõi.
Khí chất quý tộc của văn học phái Kinh dường như không cần phải chứng minh quá nhiều. Khi bàn về phái Kinh và phái Hải, Lỗ Tấn từ sớm đã chỉ ra rằng, phái Kinh gần quan còn phái Hải gần thương. "Văn nhân ở Bắc Kinh thì gần quan, ở Thượng Hải thì gần thương, người gần quan là để quan có danh, người gần thương là để thương trục lợi, mà bản thân cũng nhờ đó mà mưu sinh." ("Phái Kinh" và "phái Hải") Tác giả của văn học phái Kinh phần lớn không phải là người Bắc Kinh, nhưng họ thích làm giáo sư và văn nhân ở Bắc Kinh. Họ thích nhịp sống thong thả hơn ở Bắc Kinh, dùng thái độ thưởng thức để miêu tả đời sống Bắc Kinh. Những tác phẩm quan trọng nhất của họ chưa chắc đã là đề tài Bắc Kinh, Thẩm Tùng Văn, Tiêu Càn, Uông Tăng Kỳ đều nổi danh bằng "văn học hương thổ". Nhưng đặc sắc trong những trang "văn học hương thổ" ấy của họ lại chính là ở chỗ được sáng tác theo góc nhìn của người trí thức Bắc Kinh. Lỗ Tấn gọi loại văn học hương thổ này là "văn học ký ngụ". Họ đã rời xa vùng hương thổ mà mình miêu tả, họ thân ở trung tâm văn hóa, từ xa tưởng nhớ về vùng hương thổ mang màu sắc điền viên ấy. Vùng hương thổ đó không phải là hiện thực, mà chính là một thứ thủ pháp để thể hiện tư thái quý tộc của họ. Miền Tây Hồ Nam tựa khúc ca tựa giấc mộng mà Thẩm Tùng Văn phác họa chỉ tồn tại trong ký ức và tưởng tượng của ông (tham khảo bài viết sơ hợt của tôi "Tự ti tình kết của Thẩm Tùng Văn"), thế giới Tây Hồ Nam của ông tồn tại như mặt đối lập của thế giới đô thị tội ác, là hệ quy chiếu để Thẩm Tùng Văn phê phán văn minh hiện đại. Nếu mất đi ý nghĩa này, thì hoàn toàn có cơ sở để nói những tiểu thuyết như "Biên thành" của Thẩm Tùng Văn là giả dối. Thứ mà họ miêu tả là xã hội tầng dưới, nhưng thứ họ quan tâm lại là những vấn đề siêu hình về hướng đi của văn minh nhân loại. Giống như Đào Tiềm tuy "trồng đậu dưới núi Nam", "mang trăng gùi cuốc về", nhưng cảnh giới tư tưởng của ông vẫn mang tính quý tộc. Lỗ Tấn gọi đùa họ là "đại sư phái Kinh", chính là nhìn nhận một cách chuẩn xác mặt khí chất quý tộc của họ. Quý tộc cũng quan tâm đến nỗi khổ đau của người bình dân, hay nói cách khác chính vì họ là quý tộc nên họ mới quan tâm đến nỗi khổ đau của người bình dân, điều quan trọng không phải là "khổ đau" mà là "sự quan tâm", tư thái của quý tộc được thể hiện ra từ "sự quan tâm" ấy. Tác phẩm "Trong chín mươi độ" của Lâm Huy Ân rất quan tâm đến những người nghèo trong ngày hè oi bức, nhưng hiệu quả đọc tiểu thuyết lại vô cùng sảng khoái. Tác phẩm "Chiếc gối thêu" của Lăng Thúc Hoa rất quan tâm đến số phận của những người phụ nữ bình dân, nhưng bút điệu của tiểu thuyết lại tao nhã làm sao. Giống như tiểu thuyết thông tục thường miêu tả đời sống hoa lệ của vương hầu quý tộc, nhưng chính vì thế mà lại phơi bày ra bầu không khí thế tục của chính mình. Văn học phái Kinh chính là dùng một thái độ "ban ơn", một thái độ nhìn xuống nhân gian, khiến người ta cảm thấy cao không thể với tới. Trong sự nhẹ nhõm bề ngoài của văn học phái Kinh, ẩn chứa một sự tự phụ sâu sắc, tưởng chừng hòa nhã gần gũi, nhưng thực chất khoảng cách rất rõ ràng. Tính cá nhân của văn học phái Kinh vô cùng nổi bật, tuy gọi là một phái nhưng không ai thuộc quyền ai, không dính dáng gì đến nhau, phong cách ngôn ngữ cũng "mỗi làng có một chiêu cao riêng". Thẩm Tùng Văn sử dụng thứ ngôn ngữ mang tính trữ tình do chính ông khổ luyện thành, dài ngắn không đều, thường không đúng quy tắc và thỉnh thoảng vẫn có câu sai. Phế Danh thích sử dụng những đoản ngữ mang tính bệnh trạng nhẹ, khô khan súc tích mô phỏng phương thức biểu đạt của tuyệt cú. Uông Tăng Kỳ tuy không phải là người Bắc Kinh (quê quán ở Cao Hậu, Giang Tô), nhưng lại thích mô phỏng khẩu ngữ Bắc Kinh nhất, ông sử dụng một loại câu văn có tính miêu tả cực mạnh lại vừa dồi dào âm điệu trầm bổng. Ví dụ như một đoạn đối thoại trong tiểu thuyết "Nắng gắt tháng Tám":
“Còn có phép tắc gì nữa không? Tôi thế mà cả đời làm lương dân thiện lương, xưa nay chưa từng tuân thủ pháp luật đâu. Lúc này, hỗn loạn cả rồi. Trước mắt tôi cứ như là 'đất vàng đổ xuống', đơn giản là, không phân biệt được Đông Tây Nam Bắc nữa rồi.”
“Ông rảnh rỗi lo chuyện bao đồng này làm gì. Cửa hàng lương thực có còn bán bột ngô nữa không?”
“Bán!”
“Thế là được rồi. Có bột ngô là được rồi.……”
Sự lựa chọn của họ đều là những thứ không thể thay thế và sao chép lẫn nhau, mang đặc trưng của những "tác phẩm nghệ thuật tinh xảo". Do đó mà họ coi thường phái Hải và các phái khác có người kể chuyện ở quá gần đời sống, mang phong thái "giữ mình trong sạch" vươn cao trên văn đàn. Nhìn từ góc độ tiếp nhận, độc giả của họ cũng rất ít, đại thể giới hạn ở tầng lớp tri thức. Những người bình dân mà họ quan tâm không thể nhìn thấy và cũng không đọc hiểu được đại tác của họ. Đại đa số các nhà văn phái Kinh đều xuất thân bình dân, nhưng văn học phái Kinh lại là văn học mang khí chất quý tộc từ đầu đến cuối. Điều này là do các nhà văn phái Kinh đã trở thành những người Bắc Kinh thuần túy về mặt văn hóa, họ sống một thứ đời sống văn hóa được điểm xuyết bằng triết lý và thi ý. Giáo sư Dịch Trung Thiên đã viết trong bài viết "Đọc Bắc Kinh" rằng:
……Cách sống của người Bắc Kinh rất triết học, cũng rất mang tính thi ca. Bởi vì triết học Trung Quốc là một thứ triết học nhân sinh. Nó không xuất phát từ suy luận logic, mà xuất phát từ trải nghiệm nhân sinh. Trải nghiệm chỉ có thể được diễn đạt bằng thơ ca, đời sống cũng chỉ sau khi được thi vị hóa thì mới có tính nghệ thuật. Đời sống của người Bắc Kinh sở dĩ tràn ngập tính nghệ thuật chính là vì họ luôn luôn làm thơ. Hoặc có thể nói, luôn luôn làm mộng. Làm thơ và làm mộng, đôi khi vốn không có sự khác biệt quá lớn. Nếu nói là có khác biệt, thì tức là mộng có ác mộng, còn thơ thì phần lớn là tốt đẹp. Người Bắc Kinh phần lớn chính là sống trong những giấc mộng đẹp và sử thi. Điều này khiến cho họ tuy không tránh khỏi việc xa rời thực tế, nhưng quả thực cũng vô cùng phóng khoáng hùng vĩ; tuy không tránh khỏi việc tự cho mình là đúng, nhưng quả thực cũng viên mãn tròn trịa. Người Bắc Kinh có chút ranh mãnh, nhưng không nông cạn. Họ cũng không né tránh sự tục tằn, nhưng trong sự tục tằn có sự nhã nhặn, hơn nữa lại là sự điển nhã và cao nhã. Ngay cả những câu nói đùa cợt tục tằn nhất, cũng có điển tích lịch sử làm nền tảng; ngay cả những tiểu thị dân ở tầng đáy xã hội nhất, cũng tỏ ra (tất nhiên cũng chỉ là tỏ ra) vô cùng có trí tuệ có học thức. Thậm chí ngay cả sự từng trải khôn khéo của họ, cũng bởi vì là triết lý thi ca, cho nên đến chỗ từng trải khôn khéo nhất ngược lại lại không thể hiện ra sự từng trải khôn khéo nữa. Đâu chỉ là không thể hiện ra sự từng trải khôn khéo? Chắc là vẫn còn mang theo mấy phần ngây thơ đáng yêu. Người Bắc Kinh dù sao cũng là người kế thừa chính thống nhất của nền văn minh cổ đại. Lạc đà gầy dẫu sao vẫn lớn hơn ngựa, bọn họ thế nào cũng không thể mất giá được.
Mà triết lý và thi ý, chính là tinh túy của văn học phái Kinh. Nếu nói từ văn học phong vị Kinh không dễ dàng nhận ra khí chất quý tộc, thì từ văn học phái Kinh không khó để cảm nhận được thứ khí chất "viên mãn tròn trịa" đó.
Văn học phong vị Kinh có hai tầng ý nghĩa. Một là phong vị Kinh của đề tài, tức là miêu tả thật có thần phong tục văn hóa của vùng Bắc Kinh. Hai là phong vị Kinh của ngôn ngữ, tức là sử dụng khẩu ngữ Bắc Kinh thuần túy đích thực. Hai điều này vốn dĩ không thể tách rời nhau, đặc biệt là khi miêu tả phong tục của vùng Bắc Kinh, nếu rời xa tiếng Bắc Kinh thì khó mà đạt được hiệu quả. Có một số tản văn viết về Bắc Kinh, tuy sự thật đều đúng, tình cảm cũng chân thật, nhưng chỉ vì thiếu đi tiếng Bắc Kinh sinh động, hoặc thể hiện có vấn đề đối với tiếng Bắc Kinh, cho nên không thể được liệt vào gia tộc "văn học Bắc Kinh". Ví dụ như tác phẩm "Bàn về Bắc Bình" của Lâm Ngữ Đường, kể về rất nhiều mặt của Bắc Bình, nhưng lại duy chỉ không kể về ngôn ngữ của Bắc Bình, kết quả bằng như viết về một "Bắc Bình câm lặng", giá trị của bài viết giảm sút đi rất nhiều. "Mùa thu cố đô" của Uộc Đạt Phu ngược lại có viết về ngôn ngữ Bắc Kinh, nhưng lại đem câu nói "Một trận mưa thu một trận lạnh" của người Bắc Kinh viết thành "Một tầng mưa thu một tầng lạnh", lại còn tự cho rằng mình rất biết thưởng thức tiếng Bắc Kinh, quả thực là phá hỏng cả phong cảnh. Đa số các nhà văn vùng Giang Chiết đều không thể cảm nhận được cái diệu kỳ của tiếng Bắc Kinh, Uất Đạt Phu là như vậy, Trừ Chí Mô không hiểu biết nhưng ra điều hiểu biết cũng là như vậy. Những người khác như Lỗ Tấn, Chu Tác Nhân, Mao Thuấn, Chu Tự Thanh thì thành thật, dứt khoát không viết. Cho nên tác giả của văn học phong vị Kinh chủ yếu là người Bắc Kinh sinh ra lớn lên ở địa phương hoặc những người sống lâu năm ở Bắc Kinh. Bằng không, nếu không có sự thể nghiệm sâu sắc đối với đời sống Bắc Kinh thì khó mà "thấu vị" được.
Có một số văn học phong vị Kinh hòa làm một thể với văn học phái Kinh. Ví dụ như Uông Tăng Kỳ vừa là phái Kinh vừa là phong vị Kinh, Lâm Cẩn Lan hình như cũng dính dáng đến cả hai. Rất nhiều nhà văn chỉ cần có chút quan hệ với Bắc Kinh, thì đều có khả năng được liệt vào phong vị Kinh hoặc phái Kinh. Trên thực tế những nhà văn như Lưu Thiệu Đường không nên thuộc về phạm vi của phái Kinh hoặc phong vị Kinh, thứ văn hóa vận hà mà ông chủ yếu miêu tả theo nghĩa nghiêm ngặt thì không thuộc về văn hóa Bắc Kinh, tác phẩm gần gũi nhất với đề tài phong vị Kinh của ông có thể nói là "Cửa mặt Kinh", nhưng cửa mặt Kinh rốt cuộc vẫn ở bên ngoài vòng cửa thành Bắc Kinh, "ra khỏi vòng thành Bắc Kinh, cho đến bờ Vận Hà Bắc cách đó bốn mươi dặm, đều gọi là cửa mặt Kinh". Hơn nữa thứ mà ông sử dụng cũng không phải là tiếng Bắc Kinh, mà là phương ngôn vùng Kinh Đông. Chỉ có sự sáng tác của những người như Đặng Hữu Mai, Tô Thúc Dương, Trần Kiến Công, Lưu Tâm Vũ, Hàn Thiếu Hoa, Triệu Đại Niên v.v., mới là phong vị Kinh thực sự. Còn như Lão Xá và Vương Đề Sóc, thì đã vượt ra ngoài phong vị Kinh mà lấy một người thành một phái, tự nhiên nên được bàn luận riêng.
Văn học phong vị Kinh vốn dĩ chủ yếu miêu tả đời sống thường nhật của Bắc Kinh, vậy thì khí chất bình dân của nó tự nhiên trước hết sẽ thu hút sự chú ý của mọi người. Ngoài tính chất thường nhật của nội dung tác phẩm ra, tư thái của nhà văn cũng tràn ngập khí chất bình dân. Các nhà văn phong vị Kinh không chỉ xuất thân bình dân, mà cách đối nhân xử thế và phong cách viết lách cũng mang màu sắc bình dân. Trừ Lưu Tâm Vũ từng làm giáo viên ngữ văn cấp hai ra, thông thường không sử dụng ngôn từ quan phương. Đặng Hữu Mai, Trần Kiến Công đều là lãnh đạo của hội nhà văn, nhưng họ đều rất chú ý đến sự hòa dễ và tính cá nhân của phương thức ngôn từ, Lưu Tâm Vũ cũng dần dần thoát khỏi dấu vết của ngôn từ quan phương, theo đuổi sự tự thành một nhà. Cho nên tinh thần bình dân quả thực là một trong những yếu tố của văn học phong vị Kinh.
Thế nhưng khí chất bình dân của văn học phong vị Kinh, có gì khác biệt với khí chất bình dân của văn học các thành phố khác? Ví dụ như Phùng Ký Tài viết về Thiên Tân, Giả Bình Ao viết về Tây An, Trì Lợi viết về Vũ Hán, Lương Hiểu Thanh viết về Cáp Nhĩ Tân, họ cũng được xem là nhà văn bình dân. So sánh ra mà nói, khí chất bình dân của văn học phong vị Kinh, liền cho thấy không phải là khí chất bình dân thông thường, mà là đằng sau khí chất bình dân ấy, lại phảng phất lộ ra một luồng khí chất quý tộc.
Khí chất quý tộc của văn học phong vị Kinh trước hết biểu hiện ở chỗ, sự lưu luyến cho đến mê đắm đối với đời sống văn hóa trở thành nội dung chính của tác phẩm. Lấy "Năm đó", "Cầm thuốc" của Đặng Hữu Mai làm đại biểu, tác phẩm tuy viết về đời sống thường nhật, nhưng lại không chú trọng vào mặt vật chất củi gạo dầu muối, mà chú trọng vào mặt tinh thần. Sự theo đuổi tinh thần này không phải là sự theo đuổi sau khi được thỏa mãn vật chất theo kiểu "kho lẫm thực mới biết lễ tiết", mà là sở thích tập thể không liên quan đến mức độ đời sống vật chất, thậm chí kho lẫm không thực cũng phải biết lễ tiết, tức là càng nghèo càng phải làm ra vẻ, dùng lời của Lão Xá mà nói là: "Chúng ta đã sáng tạo ra một phương thức sinh hoạt mang phong cách độc đáo: người có tiền thì thực sự cầu kỳ, người không có tiền thì nghèo cũng cầu kỳ." (Chương 2, "Dưới cờ đỏ phấp phới") Ví dụ như trong tác phẩm "Đi dạo" của Hàn Thiếu Hoa có viết:
“Đi dạo này, thực ra không chỉ cốt để duỗi cẳng chân cho thoải mái. Đi dạo một chuyến thế này, chứng kiến biết bao nhiêu là thứ,” một người hàng xóm đã nghỉ hưu nhiều năm, hôm qua từ địa đàn đi dạo trở về, nói: “Càng đi dạo, tôi lại càng mở rộng tầm mắt, vui vẻ, thông suốt rồi……”
Những hoạt động thường nhật như đi dạo, trong văn học phong vị Kinh được miêu tả như là nội dung văn hóa. Lại ví dụ như trong "Ở nơi cao nhất" của Tô Thúc Dương có viết:
Sau đó, chuyển trường. Trường tuyên bố không có nhà để phân phối, tôi liền làm gia thuộc của vợ, ở trong ký túc xá của trường trung học có nhà tranh cho giáo viên ở. Căn phòng nhỏ 14 mét vuông với bức tường bùn gạch vụn và mái lợp giấy này, đã ghi lại tất cả bi và hoan trong những năm tháng tráng kiện nhất của tôi. Từ năm 24 tuổi tôi ở cho đến 46 tuổi, 22 năm trời, dẫu cho nếm mật nằm gai cũng vậy, dẫu cho trắc trở nhục nhã cũng vậy, nếm trải đủ mọi gian khổ nhưng cũng cùng người nhà có họa phúc có nhau, nuôi dưỡng hai người con khôn lớn, căn phòng nhỏ ấy khắc sâu thế giới nội tâm của tôi, thực sự là nơi tôi lưu luyến nhất. Rất nhiều tác phẩm của tôi đều ra đời từ căn phòng nhỏ này, tôi đã miêu tả đầy lưu luyến căn phòng nhỏ này của mình trong rất nhiều bài viết. Căn phòng nhỏ này cũng đã tiếp đón rất nhiều thầy trò bạn bè. Huynh Trương Khế hẳn không quên được cảnh tượng ngồi ghế đẩu nhỏ nhâm nhi rượu trò chuyện phiếm trong căn phòng nhỏ này. Lại có cả bạn bè nước ngoài ghé thăm căn phòng nhỏ này, họ không cảm thấy căn phòng nhỏ này nghèo nàn tồi tàn, chỉ nhớ đến sự ấm áp, đại khái là các loại hoa cỏ và rau củ mà vợ trồng trước cửa nhà chúng tôi đã khiến họ cảm thấy có hương vị điền viên nồng đượm và sự ấm áp của gia đình chăng.
Lấy khổ làm vui, tìm vui trong khổ, chính là tinh thần quý tộc đích thực mà Khổng Tử đã nói "Hồi cũng không đổi niềm vui của mình".
Khí chất quý tộc của văn học phong vị Kinh thứ hai biểu hiện ở chỗ, thái độ trần thuật thong thả không vội vã. Nhịp điệu tự sự của tác phẩm thông thường đều tương đối thong thả, không vội vã thúc đẩy cốt truyện, mà trọng tâm là ở chỗ "nhấm nháp hương vị". Người kể chuyện có độ tự tin cao đối với việc duy trì sức hấp dẫn của tác phẩm, cứ thế thong thả kể lại, chứ không khoe mẽ quá nhiều kỹ thuật tự sự mới mẻ. Cho nên rất nhiều tiểu thuyết phong vị Kinh đều có khuynh hướng tản văn hóa, hoặc có thể nói là thể hỗn hợp giữa tiểu thuyết và tản văn. Ví dụ như phần mở đầu tiểu thuyết "Tiên nhân thừa lộ bàn" của Lưu Tâm Vũ vô cùng giống tản văn văn hóa:
Ở đảo Quỳnh Hoa trong công viên Bắc Hải ở Bắc Kinh, có một thắng cảnh bị rất nhiều du khách bỏ quên, đó chính là Tiên nhân thừa lộ bàn được ẩn giấu trong một góc yên tĩnh. Đó là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mỹ. Trên một cái bệ không lớn lắm, có một cái bệ đá cẩm thạch, trên bệ có một cột đá cẩm thạch, trên bệ đá được chạm khắc hoa văn, trên cột đá được chạm khắc rồng uốn lượn, cột đá ấy rất giống hoa biểu, nhưng bên trên không phải là điêu khắc đá hình mây và quái thú, mà là một mặt phẳng nhỏ, tựa như một mặt bàn được giơ cao, còn trên "mặt bàn" thì sừng sững một đồng nhân mặc trang phục cổ đại, đồng nhân này đối mặt với mặt hồ Bắc Hải, giơ cao hai cánh tay của mình, thứ được giơ lên, chính là một chiếc mâm đồng to lớn, đó chính là cái gọi là thừa lộ bàn.
Khí chất quý tộc của văn học phong vị Kinh còn biểu hiện ở chỗ, theo đuổi phong cách ngôn ngữ mang tính cá nhân và tính nghệ thuật. Mặc dù đều sử dụng khẩu ngữ Bắc Kinh đích thực, nhưng mỗi người vẫn mang những đặc sắc khác nhau. Sự phóng khoáng của Lâm Cẩn Lan, sự từng trải tinh thông của Đặng Hữu Mai, sự hóm hỉnh của Tô Thúc Dương, sự tiêu sái của Trần Kiến Công, ngẫm nghĩ kỹ lưỡng, đều vô cùng thú vị. Ví dụ như phần mở đầu "Tìm vui" của Trần Kiến Công:
“Tìm niềm vui”, là tiếng lóng của Bắc Kinh, cũng là “sở thích thanh nhã” của người Bắc Kinh. Người Bắc Kinh thích tìm niềm vui, giỏi tìm niềm vui. Cái “niềm vui” này thực ra cũng rất dễ tìm. Nuôi một con chim thanh họa mi là một “niềm vui”. Thả dạo cánh diều là một “niềm vui”. Một bát rượu cộng thêm một tép tỏi cũng là một “niềm vui”. Cho dù có nhắc đến cái chết đi chăng nữa, họ cũng không nói là “chết”, mà thích nói là: “Đi nghe dế kêu rồi đấy”, hình như vẫn có thể tìm ra chút niềm vui nữa ấy chứ.
Trước kia Thiên Kiều có “Tám quái”, trong đó có một người gọi là “Đại binh Hoàng”. Nghe nói từng làm “binh đội tóc đuôi sam” của Trương Tấn, cũng coi như là “anh hùng buổi chiều tà” đi, mỗi ngày đều đến Thiên Kiều chiếm chỗ trải đất chửi mắng. Bố của Tam Hoàng Ngũ Đế, mẹ của tổng thống đương triều, chị của quyền quý đại quan, em của muôn dân trăm họ. Gieo vần đối chữ, câu nào câu nấy lanh lảnh, nước miếng văng tứ tung, chỉ thiên vẽ đất. Vào cái lúc ấy, ba lớp trong ba lớp ngoài, tiếng hò reo vang lên liên hồi, đường sá vì thế mà tắc nghẽn. Người chửi ra vẻ đã trở thành kẻ kiêu hùng phú quý, bước đi hiên ngang nhìn cao ngất trời, điều đó là đương nhiên không cần phải bàn. Người nghe phựa như đứa nghèo bỗng phất lên, lên núi Thái Sơn mà thấy thiên hạ nhỏ bé. Cắm chốt ở Thiên Kiều ra sức “chửi” và nghe “chửi”, chính là một “niềm vui”.
Văn học phong vị Kinh không phải được quy tụ dưới sự hiệu triệu của một quan niệm nào đó, mà trước hết là sự tập hợp của một thứ sở thích cá nhân.
Dưới đây lần lượt lấy Lão Xá và Vương Đề Sóc - những người đại diện tiêu biểu nhất cho đặc điểm của văn học Bắc Kinh làm ví dụ, để phân tích khí chất quý tộc trong tác phẩm của họ.
Lão Xá được công nhận chung là "nghệ sĩ nhân dân", "nhà văn bình dân". Sách giáo khoa văn học hiện đại Trung Quốc lưu hành cho rằng Lão Xá đã giành được đông đảo độc giả thị dân cho tân văn học. Một trong những thành tựu quan trọng của Lão Xá là viết ra được linh hồn của thị dân Bắc Kinh, người ta thường cho rằng, thị dân Bắc Kinh phái cũ dưới ngòi bút của Lão Xá thành công hơn rất nhiều so với thị dân Bắc Kinh phái mới. Nguyên nhân trong đó chính là Lão Xá đã viết ra được khí chất quý tộc ở những thế hệ thị dân lớn tuổi ở Bắc Kinh.
Tác phẩm "Dưới cờ đỏ phấp phới" của Lão Xá viết về những người Bát Kỳ nghèo nhất ở Bắc Kinh. Thế nhưng chính trong số những nhóm người nghèo nhất này, độc giả lại nhìn thấy một nền văn hóa tinh tế tao nhã đến thế. Trong một gia đình của Đại tỷ, bố chồng của Đại tỷ "tuy là võ chức, là Tá lĩnh mang đỉnh đới tứ phẩm, nhưng lại không thích nói chuyện mang quân đi đánh giặc", ông "dành cả tinh phí cuộc đời vào việc làm thế nào để hũ nhỏ xẻng nhỏ, tiếng ho và nụ cười đều chứa đựng độ nghệ thuật cao, từ đó lúc nào cũng say sưa trong những kích thích nhỏ nhặt và thú vui nhỏ nhặt". Chồng của Đại tỷ thì lại giống với bố anh ta:
Ý nghĩa của cuộc sống, trong mắt hai bố con họ, chính là mỗi ngày đều phải chơi đùa, chơi một cách tỉ mỉ, cầu kỳ, say mê.
Chồng Đại tỷ không nuôi chim thanh họa mi, mà mang khí phách anh hùng chơi chim ưng và chim bồ câu mỏ quặp, uy phong lẫm liệt đi bắt vài con chim sẻ. Khoảng thời gian này, anh ta chơi chán chim ưng và chim bồ câu mỏ quặp rồi, bèn đổi sang nuôi chim bồ câu. Mỗi con chim bồ câu của anh ta đều đáng giá một hai lạng bạc; "Bồ câu bay kín trời" là một câu nói hào sảng mà anh ta thích nói. Mấy chiếc còi chim bồ câu mà anh ta sưu tầm đều do danh gia chế tác, được sưu tầm từ các sạp đồ cổ.
Mà cuộc sống của Đại tỷ là:
……Cô ấy đứng trước các bề trên, đứng một mạch mấy tiếng đồng hồ, hơn nữa nụ cười vẫn luôn nở trên khuôn mặt không một chút mỏi mệt. Đồng thời, cô ấy phải quan sát tứ phía, nhìn từng chén trà, kịp thời châm thêm trà nóng; nhìn ống tẩu nước và ống tẩu thuốc lá sợi, kịp thời qua châm thuốc, thổi bùi nhùi mồi lửa. Tư thế đưa ống tẩu bằng hai tay của cô ấy mới đẹp đẽ làm sao, đôi môi cô ấy mím nhẹ, một cái là thổi bùi nhùi cháy bùng lên, mới nhẹ nhàng đẹp đẽ làm sao. Những điều này, đều nhận được lời tán thưởng của các bà cụ (không bao gồm mẹ chồng cô ấy), mà không ai chú ý tới đôi chân của cô ấy thường xuyên sưng húp lên. Trước mặt các bề trên, cô ấy không dám nói nhiều, lại không thể cứ đứng ngây ra như gỗ đá ở đó hầu hạ. Cô ấy phải cẩn thận lựa chọn những từ ngữ đơn giản mà thích hợp nhất, vào khoảng trống thích hợp nhất, chính xác như nhịp trống chiêng trên sân khấu, nói một hai câu nhỏ, khiến các bà cụ vui vẻ, từ đó trò chuyện càng thêm sôi nổi.
Nghệ thuật sinh hoạt này được thực hành thường xuyên ở nhà, để chuẩn bị được gia công đặc biệt, mang ra biểu diễn ở những7 trường hợp lớn hơn. Nhà người thân bạn bè tổ chức lễ ba ngày, đầy tháng cho trẻ con, tổ chức đại thọ tròn 40 hoặc 50 tuổi cho nam nữ, đều là đại hội biểu diễn thi thố của nghệ thuật này. Còn như đại lễ cưới hỏi ma chay, thì lại càng cần phải biểu diễn thật đặc biệt xuất sắc, đến cả độ cao của tiếng cười, và độ sâu của việc thỉnh an, cũng đều phải vừa vặn, có nhịp phách, có chừng mực. Cô phụ và mẹ chồng của Đại tỷ nếu gặp nhau trong những dịp như thế này, thì họ bắt buộc phải xuất kỳ bất ý, mỗi người khoe tài năng của mình, dùng đủ mọi bút pháp, nói bóng nói gió, đánh bại đối thủ, được lưu truyền thành giai thoại.
---❊ ❖ ❊---
Ở đây, sự khốn khó của đời sống vật chất đã bị lu mờ hoặc thậm chí che lấp bởi đời sống tinh thần đượm đà hơi thở văn hóa. Dù là bình dân, nhưng lại dùng tiêu chuẩn của quý tộc để yêu cầu bản thân. Mà sự khốn khó của đời sống vật chất, lại càng làm nổi bật lên khí chất quý tộc "hùm chết không ngã oai". Có thể viết ra sự cao quý trong cảnh nghèo túng, đây là một trong những sức hút trong con chữ của Lão Xá. Không chỉ viết về Bắc Kinh như vậy, ông viết về những nơi khác cũng có thể như vậy, ví dụ như nhân vật chính Trang Diệc Nhã trong truyện ngắn "Mối tình", là một tri thức nhỏ ở Tế Nam, anh ta thích sưu tầm tranh chữ, thế nhưng lại không mua nổi những bức tranh quý giá đó, anh ta chỉ có thể mua những "mảnh vỡ đoạn ngắn" đáng giá ba năm đồng, hoặc là tác phẩm của những danh gia nhỏ không có giá thị trường. Và điều này lại cấu thành ý nghĩa quan trọng nhất trong đời sống của anh ta.
Trong tiểu thuyết trường kỳ "Nhị Mã", Lão Xá đã khắc họa một lão tiên sinh họ Mã từ nhỏ sinh ra ở Bắc Kinh, sau tuổi trung niên sang Anh làm ăn buôn bán. Ông thân ở đại đô thị tư bản lấy việc kiếm tiền làm ý nghĩa cốt lõi của đời sống, thế nhưng vẫn duy trì một bộ dáng làm kiểu của người Bắc Kinh cũ:
Lão tiên sinh họ Mã là người rảnh rỗi thứ nhất ở Luân Đôn: trời mưa không ra khỏi nhà, trời nổi gió không ra khỏi nhà, trời có sương mù cũng không ra khỏi nhà. Ngậm ống tẩu nhỏ, thêm lửa cho đỏ và sáng, qua khung cửa kính, nhấm nháp thật kỹ vẻ đẹp của mưa, sương mù, gió. Người Trung Quốc ở bất cứ nơi nào cũng có thể nhìn ra cái đẹp, hơn nữa sự biểu hiện của cái đẹp là sống động, là sự liên kết giữa tình và cảnh được phát ra từ lực thẩm mỹ trong sâu thẳm tâm cá nhân. Thuyền về trong mưa khói này, dẫm tuyết tìm hoa mai này, giữa mưa khói và tuyết, rốt cuộc vẫn có một lão già gầy mỉm cười. Lão già gầy ấy chính là vị thần sắc đẹp của người Trung Quốc. Vị thần sắc đẹp này không sống ở cung điện trên trời, mà sống ở trong tâm của mỗi cá nhân. Cho nên lão tiên sinh họ Mã không kìm được mà mỉm cười, chiếc ô tô xuyên qua màn mưa tơ, đẹp. Chiếc ô tô nhỏ bị gió thổi lệch đi, đẹp. Một chuỗi ánh đèn lơ lửng trong sương mù, giống như ánh đom đóm vài đêm thu, đẹp. Ông ngậm ống tẩu nhỏ, nhìn ra bên ngoài một lúc, lại nhìn ngọn lửa trong lò một chút, quên hết mọi sầu muộn phiền não. Ông chỉ nghĩ đến một thứ, rượu!
Lão tiên sinh họ Mã ít nhiều cũng coi là một người Bắc Kinh có địa vị nhất định. Lại nhìn Lạc đà Tường Tử dưới ngòi bút của Lão Xá, đây là một phu xe ở tầng đáy xã hội từ dưới quê lên Bắc Kinh, nhưng chính ở trên người anh ta, cũng phảng phất lộ ra một thứ khí chất cao quý theo đuổi sự thỏa mãn đời sống tinh thần:
Một con người to lớn như thế, kéo trên chiếc xe đẹp như thế, chiếc xe của chính anh ta, gọng lò xo rung rinh rung rinh, đến cả càng xe cũng khẽ động đậy; thùng xe sáng bóng như thế, đệm xe trắng ngần như thế, tiếng còi vang dội như thế; chạy không nhanh thì sao có lỗi với bản thân, sao có lỗi với chiếc xe ấy chứ? Điểm này không phải là hư vinh, mà hình như là một thứ trách nhiệm, không chạy nhanh, chạy bay đi, thì không đủ để phát huy đầy đủ sức mạnh của bản thân và vẻ đẹp của chiếc xe. Chiếc xe ấy cũng đáng yêu thật đấy, kéo qua nửa năm trời nay, tựa như khắp nơi đều có tri giác và tình cảm, một cú vặn hông, một cú khụy chân, hay một cái rướn lưng của Tường Tử, nó đều lập tức hưởng ứng theo, mang lại sự giúp đỡ vừa ý nhất cho Tường Tử, giữa anh ta và nó không có một chút khoảng cách gượng gạo nào. Gặp lúc đoạn đường phẳng ít người, Tường Tử có thể dùng một tay túm lấy càng, đôi bánh lốp kêu khẽ vi vút như một cơn gió nhỏ thúc giục anh ta chạy, bay bổng mà vững chãi. Kéo đến địa điểm, quần áo của Tường Tử vắt ra được cả mồ hôi, ròng ròng, giống như vừa vớt từ trong chậu nước ra. Anh ta cảm thấy mệt mỏi, nhưng rất sảng khoái, đáng tự hào, một loại mệt mỏi, giống như cưỡi ngựa quý chạy mấy chục dặm vậy.
Đây chính là tinh thần Bắc Kinh được Lão Xá phác họa tỉ mỉ, trong tình trạng cần sinh tồn cơ bản nhất, vẫn bừng lên tình hoài lãng mạn vượt lên trên thế tục. Giống như Trang Tử đã nói: "Đạo ở nơi nào, càng xuống lại càng thấp." Lý tưởng sống của Tường Tử, thoạt nhìn qua chẳng qua chỉ là muốn mua một chiếc xe của riêng mình, mà thực chất chiếc xe đó là một biểu tượng, thứ mà anh ta theo đuổi là sự độc lập, tự do của đời sống cá nhân và sự thực hiện đầy đủ giá trị bản thân. Cho nên độc giả các ngành các nghề mới đều nhìn thấy chính mình từ trên người Tường Tử. Lão Xá nói phong cách ngôn ngữ của mình là phải "nấu ra hương thơm của văn bạch thoại", kỳ thực điều này đồng thời cũng có nghĩa là phải chắt lọc lấy vẻ nhã nhặn từ trong sự tầm thường, phải thăng hoa khí chất quý tộc từ trong đời sống bình dân. Lão Xá vì nắm bắt được tinh túy này của văn hóa Bắc Kinh mà trở thành đại sư số một của văn học Bắc Kinh.
Tác phẩm của Vương Đề Sóc thoạt nhìn cũng mang tính bình dân, hơn nữa còn là tầng thấp hơn so với các tác phẩm phong vị Kinh khác, đến mức rất nhiều độc giả và học giả đều gọi tác phẩm của Vương Đề Sóc là "văn học lưu manh". Sự sáng tác của Vương Đề Sóc quả thực tồn tại bầu không khí "lưu manh", nhưng những nhân vật kiểu lưu manh dưới ngòi bút của Vương Đề Sóc không phải là kẻ vô lại ngu muội đơn giản, mà là những "kẻ lưu manh" có ưu thế tinh thần và sự tự tin mạnh mẽ, có sự theo đuổi tinh thần. Loại lưu manh Bắc Kinh vốn có một bộ triết lý nhân sinh riêng này kỳ thực đã xuất hiện dưới ngòi bút của Lão Xá rồi, chỉ là Lão Xá đã đưa ra sự phê phán đạo đức rõ ràng đối với những nhân vật này. Từ Lão Trương trong "Triết học của Lão Trương" cho đến Đường Thiết Chuẩn, Lưu Ma Tử trong "Quán trà". Đối với những việc "vô sỉ" không phù hợp với quy chuẩn đạo đức thông thường mà họ làm, bản thân họ lại có một bộ giải thích rất cao minh. Lão Trương mở cửa hàng ngay trong trường học do mình mở, ông ta không cho phép học sinh sang cửa hàng khác mua đồ, nhưng lại nói là để "tăng cường lòng yêu trường của học sinh". Đường Thiết Chuẩn hành nghề bói toán dùng thuốc lá Anh để hút thuốc phiện Nhật, nhưng lại đắc ý nói rằng: "Thuốc lá của đế quốc Anh, thuốc phiện của Nhật Bản, hai đại đế quốc hầu hạ một mình tôi, chút phúc khí này còn nhỏ lắm sao?" Họ làm những việc của "tiểu nhân", nhưng lại cứ muốn thể hiện bản thân giống như một vị quý tộc, đây cũng là một trong những đặc sắc của văn hóa Bắc Kinh. Mà đến trong tác phẩm của Vương Đề Sóc, thái độ đối với những nhân vật này không phải là phê phán và châm biếm, mà là thưởng thức thậm chí ca ngợi. Thế nhưng bất kể kẻ lưu manh dưới ngòi bút của Vương Đề Sóc có "sa đọa" thế nào đi nữa, độc giả từ đầu đến cuối vẫn sẽ cảm thấy họ lưu manh không phải vì theo đuổi vật chất, sẽ cảm thấy họ lưu manh mà có vị, có cảnh giới. Có một bài bình luận về văn hóa Bắc Kinh nói rằng:
Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn là một thành phố dám tư duy độc lập đồng thời cũng dám phát biểu những suy nghĩ đó. Chính vì thế, nó mới trở thành cội nguồn của Phong trào Ngũ Tứ và Phong trào Tân văn hóa. Ngay cả cái gọi là "người Bắc Kinh chuyện gì cũng dám nói", cũng ẩn chứa tinh thần này ở bên trong. Nó thậm chí khiến cho cái thói ăn nói ba hoa của người Bắc Kinh khiến cho những kẻ miền Nam không biết gì, ăn nói vụng về phải ghen tị không thôi.
Cũng tương tự như vậy, chính tinh thần này, đã khiến cho Bắc Kinh dẫu có thô tục thô bỉ nhưng không đến mức chìm đắm. Bắc Kinh không thiếu sự thô tục thô bỉ. Nó thường biểu hiện thành một thứ thói lưu manh đặc trưng của Bắc Kinh, một thứ khí chất cao quý, một thứ khí chất hài hước! Thói lưu manh của Bắc Kinh cũng là hạng nhất. Nếu muốn so tài với người Bắc Kinh xem ai lưu manh hơn, tin rằng không ai có thể so nổi, trên thực tế cũng không ai dám so. Thế nhưng, Bắc Kinh sẽ không vì thế mà biến thành một "thành phố lưu manh". Bởi vì tinh thần quý tộc chính là linh hồn của người Bắc Kinh.
Khí chất quý tộc chính là linh hồn của thành phố Bắc Kinh!
—— Chu Kinh Sinh "Khí phách quý tộc và khí phách bá đạo của Bắc Kinh"
Tác phẩm "Bọn nhóc bướng bỉnh" của Vương Đề Sóc, viết về mấy thanh niên không làm việc đàng hoàng, du lịch lảng vảng ở rìa xã hội, thế nhưng bọn họ không những từ chối học đại học, mà còn công khai coi thường giáo sư ở đại học, thậm chí dùng trò ác ý để trêu chọc giáo sư. Nam nhân vật chính trong tác phẩm "Tiếp viên hàng không", lừa gạt nữ sinh đại học, nhưng lại tự cho rằng tâm hồn mình cao thượng trong sạch. Trong tiểu thuyết trường kỳ tự truyện "Trông có vẻ rất đẹp", đã hé lộ thái độ xử thế thích tỏ ra kiêu ngạo được nuôi dưỡng từ nhỏ của những đứa trẻ lớn lên ở Bắc Kinh như Vương Đề Sóc. Sự tự tin quá mức này đã mất đi vẻ "hòa nhã" và "hàm súc" của thời đại Lão Xá, mà nhấn mạnh nhiều hơn đến sự "sảng khoái" và "hóm hỉnh". Kỳ thực đây là một thứ khí chất tinh thần của "quý tộc sa cơ lỡ vận". Phạm vi sinh hoạt của chính Vương Đề Sóc và phạm vi sinh hoạt của những nhân vật chính mà ông miêu tả, không phải là Bắc Kinh cũ đại diện bởi văn hóa ngõ hẻm, mà là Bắc Kinh mới đại diện bởi "văn hóa đại viện" hưng khởi sau năm 1949. Vương Đề Sóc tự thuật rằng:
Người có thường thức đều biết, sau năm 1949, chính quyền trung ương non trẻ mang theo đông đảo người tới, Bắc Kinh biến thành thành phố di dân giống như Niu-oóc. Tôi không biết con số di dân này lớn đến mức nào, dù sao thì bốn quận Hải Điền, Triều Dương, Thạch Cảnh Sơn, Phong Đài này cơ bản đều do di dân cấu thành…… Hồi nhỏ tôi sống ở ngoài Phục Hưng Môn, cả một vùng lớn đó dứt khoát gọi là “Bắc Kinh mới”. Ấn tượng là người các tỉnh trong cả nước đều đủ cả, thậm chí còn có cả người Triều Tiên, người Việt Nam, duy chỉ không có nổi một gia đình “người Bắc Kinh gốc”…… Tôi không cho rằng tôi có mối quan hệ nguồn cội gì với những người Bắc Kinh thời đại Lão Xá đó, phong tục cố đô mang màu sắc mãn tộc đó, truyền thống văn hóa đến chỗ tôi thì đứt lìa gốc rễ. Tâm trạng, lối làm việc, phương thức tư duy bao gồm cả thói quen ngôn ngữ của tôi thà rằng nói là chịu ảnh hưởng của một thứ văn hóa mới nhiều hơn. Tạm thời cứ gọi văn hóa này là “văn hóa cách mạng” đi. Tôi cho rằng sau khi nước Trung Hoa mới thành lập đã sinh ra văn hóa của riêng mình, điều này thể hiện rõ rệt nhất ở Bắc Kinh, có dấu vết để truy tìm. Khi Mao lâm chung từng nói những lời đầy thương cảm này (đại ý): Tôi chẳng thay đổi được ai cả, chỉ thay đổi được mấy vùng lân cận Bắc Kinh. Tôi nghĩ sự thay đổi này nên chỉ sự thay đổi về con người. Tôi cho rằng bản thân mình chính là một phân tử trong số những con người bị thay đổi hoặc bị nhào nặn này. Những gì tôi viết dưới ngòi bút cũng là con người trên con đường này.
—— "Kẻ điếc không sợ súng"
Lời của Vương Đề Sóc có phần tuyệt đối, văn hóa đại viện và văn hóa Bắc Kinh cũ không phải là không có mối quan hệ nguồn cội nào. Những người sống trong đại viện này là "quý tộc cách mạng" của các cơ quan chính phủ và quân đội di chuyển vào Bắc Kinh sau khi cách mạng Trung Quốc giành thắng lợi, những đứa trẻ lớn lên trong các đại viện này vừa có sự ảnh hưởng lẫn nhau, vừa có sự mâu thuẫn và kỳ thị lẫn nhau với những đứa trẻ Bắc Kinh ở ngõ hẻm. Con cháu quý tộc cách mạng trong đại viện có tầm nhìn phóng khoáng, kiến thức rộng rãi, chiếm ưu thế tự nhiên về mặt học tập và việc làm v.v. Thế nhưng sau khi thời đại "cải cách mở cửa" ập đến, những đứa con của các quan chức tầng lớp trung hạ trong số họ đã cảm nhận được sự mất mát. Họ đành phải dựa nhiều hơn vào năng lực của bản thân để mưu sinh chốn thị dấn, nhưng mặt khác lại vẫn duy trì phương thức tư duy và tình cảm của quý tộc, mà điều này lại vừa hay chính là cảnh ngộ văn hóa của toàn bộ Bắc Kinh sau năm 1979. Trong thời đại Mao Trạch Đông có một bài hát nổi tiếng tên là "Bài ca Bắc Kinh", nội dung là ca ngợi địa vị chính trị của Bắc Kinh với tư cách là thủ đô Trung Quốc, "Trái tim tổ quốc, biểu tượng đoàn kết, niềm tự hào của nhân dân, sự bảo đảm của thắng lợi". Trong thời đại Đặng Tiểu Bình thì có một bài hát nổi tiếng tên là "Quê hương là Bắc Kinh", nội dung là ca ngợi phong cảnh Bắc Kinh, "Trăng sáng đền Thiên Đàn, gió Bắc Hải, sư tử cầu Lô Cầu, thông chùa Đàm Tự". Từ chính trị chuyển sang văn hóa, nhưng vẫn phảng phốt lộ ra khí chất quý tộc của Bắc Kinh một cách mạnh mẽ. Trên mạng có một bài viết bàn về văn hóa đại viện của Bắc Kinh như thế này:
Đại viện có văn hóa của đại viện, tiểu thuyết của Vương Đề Sóc viết chính là văn hóa đại viện. Đọc giả thường cho rằng đó là văn hóa Bắc Kinh, tôi nghĩ điều này không được chuẩn xác lắm. Văn hóa Bắc Kinh thực sự, phải là văn hóa của Hầu Bảo Lâm Hầu Dược Hoa bọn họ, cũng là văn hóa bắt chước người nước ngoài như Đại Sơn bọn họ, không lưu manh cho lắm, mang theo một chút hương vị tự thưởng thức bảo bối của mình biết đủ thường vui. Còn văn hóa của Vương Đề Sóc, dù là chủ nghĩa lý tưởng hay phản chủ nghĩa lý tưởng, là tinh anh hay phản tinh anh, thì lại là văn hóa di dân của Bắc Kinh, có sự ưu việt rất mạnh, đánh chết cũng không chịu cùng một gộc với người Bắc Kinh gốc. Thậm chí, ngôn ngữ lưu manh kiểu Vương Đề Sóc điển hình, cũng không phải là tiếng Bắc Kinh gốc, phạm vi sử dụng ban đầu chỉ giới hạn bên trong nội bộ đại viện, chỉ khi ý thức đại viện dần dần lan tỏa ra toàn quốc, mới được toàn quốc đương nhiên chủ yếu là "Trung Quốc phương Bắc" tiếp nhận.
—— Lý Phương "Người Bắc Kinh"
Nếu nói khí chất quý tộc trong tác phẩm của Lão Xá mang một thứ "vương khí" tao nhã phóng khoáng, vậy thì khí chất quý tộc trong tác phẩm của Vương Đề Sóc lại mang một thứ "bá khí" áp bức người ta. Thị dân Bắc Kinh phái cũ trong tác phẩm của Lão Xá đi đến đâu cũng tạo sự thuận tiện cho người khác, nể mặt người khác, ví dụ như anh cả Trưởng trong "Ly hôn", anh ta "sứ mệnh thần thánh phải hoàn thành trong đời: làm mai mối và phản đối ly hôn". Mà thanh niên thị dân thế hệ mới trong tác phẩm của Vương Đề Sóc thì đi đến đâu cũng trêu chọc người khác, chơi khăm người khác, lấy việc vạch trần thể diện của người khác làm niềm vui. Vương Đề Sóc khi bàn về văn hóa Bắc Kinh từng nói: "Văn hóa Bắc Kinh có thói ngông cuồng, gặp ai diệt nấy, chuyên nhặt đứa to mà diệt." (Trang web đọc sách thế kỷ mới thanh thiếu niên Trung Quốc) Trong cuộc tranh luận Vương Đề Sóc - Kim Dung năm 1999, Vương Đề Sóc không chút khách khí gọi tác phẩm của Kim Dung - người có lượng độc giả đông đảo nhất - là một trong "tứ đại tục", hơn nữa còn đặc biệt châm biếm Kim Dung là người miền Nam, cho nên ngôn ngữ không tốt. Trong cuộc tranh luận chủ yếu có sự tham gia của độc giả bình thường này, Vương Đề Sóc vì tư thái quá vô lễ của mình mà mất đi rất nhiều sự ủng hộ. Nhưng kỳ thực Vương Đề Sóc đối với Kim Dung không có ác ý thực sự nào cả, anh ta chẳng qua chỉ là "gặp ai diệt nấy, chuyên nhặt đứa to mà diệt". Anh ta dùng thứ ngôn ngữ gần như cay độc tương tự để công kích rất nhiều nhân vật văn hóa nổi tiếng của Trung Quốc, từ Lỗ Tấn đến Lão Xá đến Trừ Chí Mô, từ Trương Nghệ Mưu đến Triệu Trung Tường, thậm chí đến những người sinh ra ảnh hưởng lớn hơn trong những năm gần đây như Dư Kiệt, Ma La, Khổng Khánh Đông v.v. Trong số đó chỉ có ngôn ngữ đối với Lỗ Tấn là còn coi như kiềm chế một chút. Vương Đề Sóc không chút kiêng dè công kích và chế nhạo những thứ mà anh ta không thích xem hoặc không hiểu nổi. Anh ta nói bản thân mình "không thích xem đề tài nông thôn, không thích xem độc thoại nội tâm của tri thức, không thích xem cách làm ăn kinh doanh cách làm sống động một xí nghiệp. Tóm lại, không thích xem một người chính trực sống một đời sống chính trực mà sợ người khác không biết". Giọng điệu này có vị gì đó hoành hành ngang ngược, mà thứ chống đỡ cho tư thái "hoành hành ngang ngược" này của Vương Đề Sóc chính là khí chất quý tộc của Bắc Kinh. Trong "Lạc đà Tường Tử" của Lão Xá có một nhân vật kiểu lưu manh tên là Lưu Tứ, ông ta là một nhân vật bá vương của xã hội thị dân, "ông ta trừng mắt, rồi cười ha hả một tiếng, có thể khiến người ta mê mẩn hồ đồ, tựa như một chân đặt lên thiên đường, một chân đặt xuống địa hình, đành phải nghe theo sự sai khiến của ông ta." (Chương 4) Sau khi cãi nhau to với con gái Hổ Nương, ông ta "dinh tính lên Thiên Tân, hoặc Thượng Hải, chơi bơi một chuyến. Ông ta nói: Lăn lộn cả đời mà chưa từng ra khỏi cửa thành Bắc Kinh, rốt cuộc không tính là anh hùng". Mà đa số người Bắc Kinh cho dù chưa từng ra khỏi Bắc Kinh, cũng có thể không chút kiêng dè coi thường những người đi khắp thiên hạ. Anh cả Trưởng trong "Ly hôn" của Lão Xá đi xa nhất cũng chỉ ra khỏi cửa Vĩnh Định của Bắc Kinh, thế nhưng anh ta vẫn khăng khăng cho rằng "trung tâm thế giới là Bắc Bình", "ngoài người Bắc Bình ra thì đều là nhà quê. Thiên Tân, Hán Khẩu, Thượng Hải, đến cả Paris, Luân Đôn, đều tính tất vào trong, toàn bộ đều là nhà quê". Lão Xá trong bài tản văn nổi tiếng "Nghĩ về Bắc Bình" của ông cũng từng so sánh Bắc Kinh với một số thành phố nổi tiếng thế giới. Ông nói các thành phố như Luân Đôn, Paris, Roma so với Bắc Kinh thì đều có khuyết điểm:
Nói về cách bố trí của Paris thì đã điều hòa hơn Luân Đôn Roma nhiều lắm rồi, thế nhưng so với Bắc Bình thì vẫn còn kém một chút. Bắc Bình thể hiện sự tự nhiên ngay trong sự do con người sắp đặt, hầu như chỗ nào vừa không chật chội, lại vừa không quá hẻo lánh: nhà ở trong những ngõ hẻm nhỏ nhất cũng có sân và cây cối; chỗ hoang vắng nhất cũng cách khu mua bán và khu dân cư không xa. Phương thức phân bố này có thể tính là - theo kinh nghiệm của tôi - thiên hạ đệ nhất. Cái hay của Bắc Bình không nằm ở chỗ thiết bị chỗ nào cũng hoàn thiện, mà nằm ở chỗ nó chỗ nào cũng có khoảng trống, có thể khiến người ta thở phào tự do; không nằm ở chỗ có rất nhiều kiến trúc đẹp, mà nằm ở chỗ xung quanh các kiến trúc đều có nơi chốn trống trải, khiến chúng trở thành cảnh đẹp. Mỗi một tòa lầu thành, mỗi một chiếc cổng chào, đều có thể nhìn thấy từ tận đằng xa. Hơn nữa ở trên phố còn có thể nhìn thấy Bắc Sơn và Tây Sơn nữa chứ!
Chỉ là Lão Xá tuy yêu Bắc Kinh, nhưng không giống anh cả Trưởng xem nơi khác đều là nhà quê. Có điều "anh cả Trưởng đặc biệt biểu thị sự đồng tình với người nhà quê", bởi vì "sinh ra ở nhà quê ít nhiều cũng là một điều bất hạnh". (Chương 1) Mà thời đại Vương Đề Sóc thì đã biết Bắc Kinh không phải là trung tâm của thế giới, những "kẻ nhà quê" kia cũng không còn cung kính với Bắc Kinh như trước nữa, cho nên Vương Đề Sóc và các nhân vật của anh ta mới có thái độ ngang ngược lên, đây chính là sự khác biệt về khí chất quý tộc của hai thời đại. Đương nhiên, sự khác biệt này là tương đối, vương khí với bá khí, hòa nhã với ngạo khí, vẫn luôn hỗn hợp tồn tại trong văn học Bắc Kinh.
Nguyên nhân căn bản sinh ra khí chất quý tộc của văn học Bắc Kinh đương nhiên là khí chất quý tộc vốn có của văn hóa Bắc Kinh. Thủ đô của quốc gia đại nhất thống sáu bảy trăm năm, lịch sử văn hóa mấy ngàn năm, danh lam thắng tích rải rác khắp chín thành, sự tích lũy văn hóa sâu dày, sự tụ hội của nhân tài tinh anh, đã nuôi dưỡng ra cái bẩm tính dù có ăn bánh ngô rau muối thì người Bắc Kinh vẫn cứ bàn chuyện chính trị chuyện nghệ thuật chuyện trời nam đất bắc xưa nay kim cổ. Bắc Kinh sau năm 1949 không chỉ kế thừa khí chất quý tộc trước kia, mà hơn nữa bởi vì Bắc Kinh mới tập trung các trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế, tài chính, khoa học kỹ thuật, văn hóa, giáo dục, tin tức, xuất bản, thể thao vào một thân, khí chất quý tộc này lại càng được củng cố hơn nữa. Lão Xá năm 1951 ở phần cuối "Tôi yêu Bắc Kinh mới" đã viết: "Tôi yêu Bắc Kinh, tôi càng yêu Bắc Kinh mới ngày nay - cô ấy mới sạch sẽ, sáng sủa, đẹp đẽ làm sao! Sao tôi lại không cảm ơn chủ tịch Mao chứ? Chính ngài, đã mang lại ánh sáng và những lợi ích không thể kể xiết cho Bắc Kinh đấy!" Ông viết ở phần đầu của một bài viết năm 1954: "Tôi sinh ra ở Bắc Kinh, yêu Bắc Kinh. Bây giờ, tôi càng yêu Bắc Kinh hơn, bởi vì Mao Trạch Đông vĩ đại đang sống ở đây." ("Bắc Kinh") Tình yêu của Lão Xá đối với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản là chân thành, đại diện cho tâm lý chân thực của đại đa số thị dân lúc bấy giờ. Thế nhưng bởi vì Mao Trạch Đông sống ở Bắc Kinh mà càng yêu Bắc Kinh hơn, điều này đã bộc lộ rõ rệt khí chất quý tộc rồi. Lão Xá đã như vậy, thế hệ người Bắc Kinh mới đương nhiên lại càng như vậy rồi. Thi sĩ đương đại Y Sa trong "Tôi nhìn văn hóa Bắc Kinh" đã nói:
Quả thế, một thứ ưu việt văn hóa chí cao vô thượng đã cấu thành đặc sắc của văn hóa Bắc Kinh. Điều này khác với tâm lý bài ngoại tự nhiên thuộc về chủ nghĩa bảo hộ địa phương, tâm lý bài ngoại ở đâu cũng có, trái lại khu vực càng nghèo càng khai hóa thì tâm lý bài ngoại càng nghiêm trọng, điều này không liên quan gì đến sự ưu việt đến từ văn hóa. Mà đặc sắc này của Bắc Kinh hoàn toàn được xây dựng trên cơ sở của một thứ đặc sắc Trung Quốc nào đó, Bắc Kinh là thủ đô, thủ đô của nước ta lại thuộc về cái loại có đặc sắc "trung tâm" quá rõ rệt - có lẽ là rõ rệt nhất trên toàn thế giới nhỉ.
Văn học vừa là sự phản ánh và biểu hiện của đời sống, vừa là sự tập trung và nâng cao của đời sống. Ở tất cả các mặt của đời sống Bắc Kinh, mọi người đều phổ biến cảm nhận được khí chất quý tộc của nó, mà văn học vốn dĩ chính là tinh hoa của đời sống văn hóa, cho nên trong văn học Bắc Kinh từ lâu đã thể hiện ra khí chất quý tộc rõ rệt, cũng không có gì là lạ.
Văn học Bắc Kinh vừa có khí chất bình dân rõ rệt, lại vừa có khí chất quý tộc rõ rệt, hai bên dung hợp lẫn nhau, ánh lên vẻ đẹp lẫn nhau, mà đây chính là đặc trưng dung nạp bao hàm tất cả của văn hóa Bắc Kinh. Giáo sư Dịch Trung Thiên đã chỉ ra trong bài viết "Đọc Bắc Kinh":
Dung lượng của Bắc Kinh không chỉ nằm ở không gian kiến trúc, mà còn nằm ở không gian văn hóa. Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn là nơi Hán Hồ lẫn lộn, năm châu bốn bể tụ hội. Tam giáo cửu lưu, năm hồ bốn bể, Hán Mãn Mông Hồi Tạng, Nho Đạo Thích Cảnh (Cơ Đốc giáo) Hồi (Hồi giáo), người của các ngả đường đều ra vào, hội tụ, phát triển ở đây, các loại văn hóa đều giao lưu, va chạm, dung hợp ở đây. Bắc Kinh đối với những điều này, đều đứng từ trên cao mà đối xử bình đẳng như nhau, tuyệt không có thành kiến văn hóa, cũng không có thành kiến chủng tộc, thậm chí không có cái "tính văn hóa khu vực" cố chấp ngoan cố thường có ở những nơi khác. Trái lại, mưa lụa Giang Nam gió phương bắc, trăng lưỡi liềm Tây vực sóng biển Đông hải, đều giao hội, tập kết, tiêu dung ở đây, cùng nhau cấu thành khí tượng phi phi hùng vĩ đại khí của Bắc Kinh. Bắc Kinh đương nhiên là đẳng cấp sâm nghiêm, nhưng bởi vì không gian lớn, khoảng cách xa, cho nên giữa người với người cũng sẽ không cảm thấy có cái sự "chèn ép" nào. Vương hầu huân quý, trọng thần đỉnh phụ, học tử văn sĩ, kẻ bán rong kẻ đi bộ, mỗi người có một cách sống, hơn nữa ở trong "vòng tròn" của riêng mình, cũng đều sống vừa tự tại, lại vừatư nhuận (sung túc). Cho đến bây giờ Bắc Kinh vẫn cứ như thế này: một người ngoại tỉnh, chỉ cần anh ta không "quá kém cỏi", vậy thì, anh ta đến Bắc Kinh, thì sẽ không cảm thấy gượng gạo, cảm thấy "lạc lõng". Nếu anh ta rất hòa nhã, lại biết nói mấy câu tiếng phổ thông (không cần phải quá chuẩn), vậy thì, chẳng mất mấy ngày, anh ta hầu như sẽ cảm thấy mình cũng là người Bắc Kinh rồi. Bắc Kinh, hầu như là có thể dung nạp được toàn thể người Trung Quốc thậm chí là toàn thế giới.
Đặc tính dung nạp bao hàm tất cả này kỳ thực mới chính là khí chất quý tộc căn bản nhất, cũng là đặc tính cơ bản của văn hóa Trung Quốc và văn học Trung Quốc. "Khí tượng phi phi hùng vĩ đại khí" này chính là nguyên nhân văn hóa để Bắc Kinh lâu dài trở thành thủ đô của Trung Quốc, cũng là nguyên nhân quan trọng để văn hóa Bắc Kinh và văn học Bắc Kinh duy trì sức sống. Điều này bất kể là nghiên cứu văn học Bắc Kinh từ góc độ văn hóa địa phương, hay là nghiên cứu văn hóa địa phương từ góc độ văn học Bắc Kinh, đều nên chú ý đầy đủ.