Chiến tranh và hòa bình

Lượt đọc: 1003 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Lực nào thúc đẩy các dân tộc chuyển vần?

Các sử gia viết tiểu truyện và sử gia của từng quốc gia riêng biệt quan niệm lực này là một thứ quyền lực vốn có ở các bậc anh hùng và đấng quân vương. Trong các trước tác của họ, biến cố xảy ra chỉ thuần túy do ý chí của một Napoleon, một Alexander, hay nói chung là của những nhân vật mà họ mô tả. Lời giải đáp mà giới sử gia này đưa ra cho câu hỏi động lực nào gây nên biến cố chỉ có thể làm người ta tạm vừa lòng khi mỗi biến cố chỉ có duy nhất một sử gia thuật lại. Thế nhưng, hễ các sử gia thuộc nhiều quốc tịch và khuynh hướng khác nhau cùng bắt tay miêu tả một biến cố, thì những lời giải đáp ấy lập tức mất hết ý nghĩa, bởi lẽ thứ quyền lực kia được mỗi người hiểu theo một cách, thậm chí thường trái ngược nhau hoàn toàn. Người này quả quyết biến cố sinh ra là do quyền uy của Napoleon, người khác lại bảo do quyền uy của Alexander, kẻ thứ ba lại gán cho quyền uy của một nhân vật nào khác nữa. Đã vậy, các sử gia loại này còn mâu thuẫn với nhau ngay cả trong việc lý giải cội nguồn quyền uy của cùng một nhân vật. Thiers, một người theo phái Bonaparte, khẳng định quyền lực của Napoleon bắt nguồn từ đức độ và thiên tài của ông ta. Lanfrey, một người theo phái Cộng hòa, lại cho rằng quyền lực ấy dựng nên từ sự xảo quyệt và thói lừa mị dân chúng. Cứ thế, bằng cách triệt tiêu quan điểm của nhau, các sử gia thuộc trường phái này đã xóa nhòa luôn nhận thức về cái lực sinh ra biến cố, rốt cuộc chẳng đưa ra được lời giải đáp nào cho câu hỏi cốt yếu của lịch sử.

Các tác giả viết thông sử bao quát mọi dân tộc dường như đã nhận ra sự sai lầm trong cái nhìn của giới sử gia chuyên biệt về lực tạo nên biến cố. Họ không coi đó là thứ quyền lực cố hữu của riêng các bậc anh hùng hay đấng cai trị, mà là hợp lực của muôn vàn lực lượng thiên sai vạn biệt tác động theo nhiều hướng khác nhau. Khi miêu tả một cuộc chiến tranh hay sự quy phục của một dân tộc, nhà thông sử không truy tìm nguyên nhân biến cố nơi quyền uy của một cá nhân, mà trong mối tương tác giữa vô số nhân vật có liên can.

Theo cách nhìn này, quyền lực của các nhân vật lịch sử, một khi được coi là sản phẩm của muôn vàn lực lượng, lẽ ra không thể tiếp tục được xem là động lực tự nó sinh ra biến cố. Thế nhưng, trong phần lớn trường hợp, các nhà thông sử vẫn vận dụng quan niệm về quyền lực như một động lực tự thân tạo ra biến cố và coi nó là nguyên nhân của mọi sự. Trong cách trình bày của họ, một nhân vật lịch sử thoạt đầu chỉ là sản phẩm của thời đại mình, quyền lực của người đó chỉ là hợp lực của nhiều nguồn lực khác nhau; nhưng rồi ngay sau đó, chính thứ quyền lực ấy lại được coi là động lực làm phát sinh biến cố. Chẳng hạn, Gervinus, Schlosser cùng nhiều người khác, lúc thì chứng minh Napoleon là sản vật của cuộc Cách mạng, của những tư tưởng năm 1789 cùng nhiều yếu tố tương tự; lúc khác lại nói huỵch toẹt rằng chiến dịch năm 1812 cùng những sự kiện trái ý họ chỉ đơn thuần là sản phẩm từ ý chí lầm lạc của Napoleon, và chính những tư tưởng năm 1789 cũng đã bị đình trệ phát triển bởi thói tùy hứng của ông ta. Như vậy, các tư tưởng Cách mạng cùng bầu không khí chung của thời đại đã sinh ra quyền lực của Napoleon; nhưng rồi chính quyền lực của Napoleon lại bóp nghẹt các tư tưởng Cách mạng và bầu không khí thời đại ấy.

Sự mâu thuẫn kỳ quặc này không phải là ngẫu nhiên. Nó chẳng những xuất hiện nhan nhản ở khắp nơi, mà toàn bộ các trước tác của giới thông sử thực chất chỉ là một chuỗi mâu thuẫn chồng chéo như thế. Điều này nảy sinh là vì khi bước vào địa hạt phân tích, các nhà thông sử đã dừng lại giữa chừng.

Muốn tìm các lực thành phần tương xứng với một hợp lực, thì tổng của các lực thành phần ắt phải bằng chính hợp lực đó. Quy luật này chưa từng được các nhà thông sử tuân thủ, thành thử để giải thích các hợp lực, ngoài những lực thành phần vốn dĩ không đủ ấy, họ buộc phải thừa nhận thêm một lực lượng chưa được lý giải khác tác động vào kết quả chung.

Các sử gia chuyên biệt khi miêu tả chiến dịch năm 1813 hay cuộc phục vị của dòng họ Bourbon đã khẳng định thẳng thừng rằng những biến cố ấy nảy sinh từ ý chí của Alexander. Song nhà thông sử Gervinus, khi bác bỏ quan điểm này, lại cố công chứng minh rằng chiến dịch năm 1813 cùng sự phục vị của nhà Bourbon còn do những yếu tố khác ngoài ý chí của Alexander — chẳng hạn như hành động của Stein, Metternich, bà de Staël, Talleyrand, Fichte, Chateaubriand, cùng nhiều người khác. Rõ ràng vị sử gia này đã phân rã quyền lực của Alexander thành các lực thành phần: Talleyrand, Chateaubriand và những người còn lại. Thế nhưng, tổng của các lực thành phần ấy — tức là sự tương tác qua lại giữa Chateaubriand, Talleyrand, bà de Staël cùng những người khác — hiển nhiên không thể nào bằng được hợp lực cuối cùng, cụ thể ở đây là hiện tượng hàng triệu người Pháp cúi đầu quy phục dòng họ Bourbon. Việc Chateaubriand, bà de Staël và những người khác trao qua đổi lại với nhau dăm ba câu từ thực chất chỉ ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa chính họ, chứ tuyệt nhiên không thể cắt nghĩa được sự khuất phục của hàng triệu con người. Và bởi vậy, để giải thích tại sao từ những mối quan hệ cá nhân ấy lại nảy sinh sự quy phục của hàng triệu sinh linh — nghĩa là làm sao các lực thành phần chỉ tương đương một đơn vị A lại có thể cho ra một hợp lực gấp ngàn lần A — nhà sử học lại buộc phải quay về bấu víu vào khái niệm quyền lực, thứ quyền lực mà trước đó ông ta đã phủ nhận, để rồi công nhận nó là hợp lực của các lực lượng, tức là phải thừa nhận một ẩn lực vô hình nào đó tác động lên kết quả chung. Đó chính là điều mà các nhà thông sử vẫn thường làm, và vì thế họ không chỉ tự mâu thuẫn với các sử gia chuyên biệt mà còn mâu thuẫn với chính bản thân mình.

Người nông dân vì không hiểu rõ nguyên nhân gây mưa, nên tùy theo việc mình mong mưa hay cầu tạnh mà nói: “Gió đã xua tan mây đi rồi,” hoặc “Gió đã mang mây mưa tới.” Giới thông sử cũng hành xử y như vậy: đôi khi, hễ thấy thuận lòng và hợp với lý thuyết của mình, họ bảo quyền lực là kết quả của biến cố; nhưng khi muốn chứng minh một điều khác, họ lại khẳng định quyền lực chính là thứ sinh ra biến cố.

Trường phái sử học thứ ba — cái gọi là các sử gia văn hóa — tiếp nối con đường mà giới thông sử đã vạch ra (những người vốn đã đôi lần chấp nhận các nhà văn và các phu nhân quý tộc như những lực lượng tạo nên biến cố), lại nhìn nhận lực lượng ấy dưới một lăng kính hoàn toàn khác biệt. Họ thấy động lực ấy nằm trong cái gọi là văn hóa — tức hoạt động trí tuệ.

Các sử gia văn hóa kỳ thực rất mực nhất quán với những bậc tiền bối của mình là các nhà thông sử. Bởi lẽ, nếu biến cố lịch sử có thể được lý giải bằng cách thức những con người nào đó cư xử với nhau ra sao, thì cớ sao lại không thể giải thích bằng việc những người nọ người kia đã viết ra những cuốn sách như thế nào? Trong vô vàn biểu hiện đi kèm mỗi hiện tượng sinh tồn, các sử gia này chắt lọc ra biểu hiện của hoạt động trí tuệ rồi quả quyết rằng chính biểu hiện ấy là nguyên nhân. Dẫu vậy, dù họ có ra sức chứng minh nguyên nhân của mọi biến cố nằm ở hoạt động trí tuệ, thì cũng phải gượng gạo lắm người ta mới có thể chấp nhận mối liên hệ nào đó giữa hoạt động trí tuệ với sự dịch chuyển của các dân tộc; và tuyệt nhiên không thể nào thừa nhận rằng hoạt động trí tuệ lại điều khiển được hành vi của con người. Quan điểm ấy hoàn toàn bị bác bỏ bởi những sự thật trớ trêu như: những vụ tàn sát dã man nhất trong cuộc Cách mạng Pháp lại bắt nguồn từ học thuyết về quyền bình đẳng của con người, hay những cuộc chiến tranh và những cuộc hành quyết tàn khốc nhất lại nảy sinh từ chính lời rao giảng về tình yêu thương.

Thế nhưng, ngay cả khi chấp nhận toàn bộ những lập luận khéo léo đầy rẫy trong các công trình sử học ấy là xác đáng — tức chấp nhận rằng các dân tộc bị chi phối bởi một động lực mơ hồ gọi là tư tưởng — thì câu hỏi cốt tử của lịch sử vẫn trơ trơ chưa có lời đáp. Bên cạnh quyền uy quân vương thuở trước cùng tầm ảnh hưởng của các mưu thần cùng những nhân vật khác mà giới thông sử đưa vào, nay lại thêm một lực lượng mới mẻ khác: tư tưởng, mà mối dây liên hệ giữa nó với quần chúng nhân dân vẫn còn cần được soi tỏ. Người ta có thể hiểu được rằng Napoleon nắm quyền bính nên các biến cố mới xảy ra; thậm chí, nếu chịu khó suy ngẫm thêm đôi chút, người ta còn có thể hình dung Napoleon cùng nhiều ảnh hưởng khác hợp lại đã làm duyên cớ cho một biến cố. Nhưng làm sao một cuốn sách như bản Khế ước Xã hội (Le Contrat Social) lại có thể khiến người Pháp bắt đầu dìm chết lẫn nhau, thì đó là điều không tài nào hiểu nổi nếu không có một lời giải thích thấu đáo về mối quan hệ nhân quả giữa cái lực lượng mới mẻ này với biến cố lịch sử.

Hẳn nhiên giữa những con người cùng sống trong một thời đại luôn tồn tại mối liên hệ nào đó, và vì vậy ta hoàn toàn có thể tìm thấy mối dây ràng buộc giữa hoạt động trí tuệ của con người với các bước chuyển dịch lịch sử của họ, cũng giống như ta có thể tìm thấy mối liên hệ giữa các bước tiến của nhân loại với thương nghiệp, thủ công nghiệp, nghề làm vườn, hay bất cứ lĩnh vực nào khác mà ta muốn. Thế nhưng, vì sao hoạt động trí tuệ lại được các sử gia văn hóa coi là nguyên nhân hay biểu hiện của toàn bộ sự vận động lịch sử thì quả là điều khôn thấu. Chỉ có những lý lẽ sau đây mới có thể dẫn dắt các nhà sử học đi đến kết luận ấy: thứ nhất, lịch sử do giới học giả viết ra, nên đối với họ, thật tự nhiên và thú vị khi nghĩ rằng hoạt động của giai tầng mình chính là nền tảng cho mọi chuyển dịch của toàn thể nhân loại, cũng hệt như niềm tin ấy vốn rất đỗi tự nhiên và dễ chịu đối với giới thương nhân, nông dân hay binh lính (nếu họ không nói ra, chẳng qua là vì thương nhân và binh lính không viết sử mà thôi); và thứ hai, các khái niệm như hoạt động tinh thần, khai sáng, văn minh, văn hóa, tư tưởng đều là những khái niệm mông lung, bất định, và dưới ngọn cờ ấy, người ta rất dễ vận dụng những từ ngữ thậm chí còn hàm hồ hơn nữa để tùy tiện lồng ghép vào bất cứ lý thuyết nào.

Thế nhưng, chưa bàn đến giá trị tự thân của những công trình sử học loại này (vốn dĩ có thể vẫn đem lại ích dụng nào đó cho một ai đó), các bộ sử văn hóa — mà mọi thể loại thông sử ngày càng có xu hướng xích lại gần — vẫn bộc lộ một điểm đáng chú ý: đó là sau khi đã đào sâu mổ xẻ cặn kẽ các học thuyết tôn giáo, triết học và chính trị khác nhau để coi chúng là căn nguyên của biến cố, hễ cứ phải miêu tả một biến cố lịch sử có thực, chẳng hạn như chiến dịch năm 1812, họ lại bất giác quay về mô tả nó như kết quả của việc thực thi quyền lực — và nói huỵch toẹt ra rằng đó là hệ quả từ ý chí của Napoleon. Khi nói vậy, các sử gia văn hóa đã vô tình tự mâu thuẫn với chính mình, đồng thời phơi bày ra rằng thứ lực lượng mới mẻ mà họ tự sáng tác ra rốt cuộc chẳng thể nào cắt nghĩa được những gì đã diễn ra trong lịch sử, và rằng lịch sử chỉ có thể được giải thích bằng cách viện dẫn một thứ quyền lực mà bề ngoài họ vẫn hằng khăng khăng phủ nhận.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của graf Leo Tolstoy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.