“Ta có thể đưa ra lý do gì,” hoàng tử cất lời, “để giải thích việc người Ai Cập lại tốn kém công sức bảo quản những thể xác ấy — thứ mà một số dân tộc đem thiêu thành tro, một số khác chôn vùi để hòa vào đất mẹ, và tất cả đều đồng lòng đưa khuất mắt ngay sau khi hoàn tất các nghi thức tang ma?”
“Nguồn gốc của những phong tục cổ xưa,” Imlac đáp, “thường là điều ít ai rõ, bởi thói quen vẫn cứ tiếp diễn ngay cả khi nguyên nhân đã chẳng còn; và việc phỏng đoán về các nghi lễ mê tín thì thật vô ích, vì những gì lý trí đã không khởi xướng thì lý trí cũng chẳng thể giải thích. Từ lâu tôi vẫn tin rằng tục ướp xác xuất phát thuần túy từ lòng trìu mến dành cho di hài của người thân hoặc bạn bè; và tôi càng nghiêng về quan điểm này hơn bởi dường như không thể có chuyện sự chăm chút ấy lại phổ biến cho tất cả mọi người; nếu toàn bộ người chết đều được ướp xác, thì những nơi lưu giữ họ theo thời gian hẳn phải rộng lớn hơn cả chốn sinh cơ của người sống. Tôi cho rằng chỉ có giới quý tộc hoặc những người có địa vị mới được bảo vệ khỏi sự phân hủy, còn lại đều phó mặc cho dòng chảy của tự nhiên.”
“Nhưng người ta vẫn thường cho rằng người Ai Cập tin linh hồn sẽ sống chừng nào thân xác còn chưa tan rã, và vì thế họ đã thử nghiệm phương pháp này để đánh lừa cái chết.”
Nekayah lên tiếng: “Liệu những bậc thông thái Ai Cập có thể suy nghĩ nông cạn đến thế về linh hồn hay sao? Nếu linh hồn một khi đã có thể sống sót sau khi lìa khỏi xác, thì nó còn có thể nhận hay chịu đựng điều gì từ thân xác ấy nữa?”
“Người Ai Cập chắc hẳn đã suy luận sai lầm,” nhà thiên văn học nói, “trong bóng tối của thời kỳ ngoại giáo và buổi rạng đông của triết học. Bản chất của linh hồn vẫn là điều còn tranh cãi giữa muôn vàn cơ hội tiếp cận tri thức minh bạch hơn của chúng ta; một số người nay vẫn cho rằng linh hồn có thể mang tính vật chất, dẫu họ vẫn tin rằng nó là bất tử.”
“Quả thực, có những người từng cho rằng linh hồn là vật chất,” Imlac đáp, “nhưng tôi khó lòng tin được có ai biết tư duy lại nghĩ như vậy; bởi mọi kết luận của lý trí đều củng cố tính phi vật chất của tâm trí, và mọi dấu hiệu từ giác quan lẫn sự khảo sát của khoa học đều đồng lòng chứng minh bản chất vô tri của vật chất.”
“Chưa từng có ai cho rằng năng lực tư duy là vốn có trong vật chất, hay mọi hạt nhỏ đều là một thực thể biết suy nghĩ. Thế nhưng, nếu bất kỳ phần nào của vật chất hoàn toàn vô tri, thì ta có thể cho rằng phần nào có khả năng suy nghĩ? Vật chất chỉ có thể khác biệt với vật chất ở hình dáng, mật độ, kích thước, chuyển động và hướng chuyển động. Liệu khả năng nhận thức có thể gắn liền với yếu tố nào trong số đó, dù chúng có biến đổi hay kết hợp ra sao? Tròn hay vuông, đặc hay lỏng, lớn hay nhỏ, chuyển động chậm hay nhanh, theo chiều này hay hướng khác — tất cả đều là những trạng thái tồn tại mang tính vật chất và đều xa lạ với bản chất của tư duy. Nếu bản chất vật chất vốn đã không có tư duy, nó chỉ có thể trở nên biết suy nghĩ thông qua một sự cải biến mới nào đó; nhưng mọi sự cải biến mà nó có thể dung nạp đều hoàn toàn không dính dáng gì đến năng lực tư duy.”
“Nhưng những người theo chủ nghĩa duy vật,” nhà thiên văn học biện bác, “lại cho rằng vật chất có thể sở hữu những phẩm tính mà chúng ta chưa từng biết đến.”
Imlac đáp lời: “Kẻ nào dám đưa ra phán quyết chống lại những gì mình đã rõ chỉ vì có thể tồn tại thứ mà mình chưa biết; kẻ nào dám đặt một khả năng giả thuyết lên trên một chân lý đã được thừa nhận, thì không xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những sinh linh có lý trí. Tất cả những gì chúng ta biết về vật chất là nó trơ ì, vô tri và không có sự sống; và nếu niềm xác tín ấy không thể bị bác bỏ trừ khi viện dẫn đến một thứ mà ta hoàn toàn mù tịt, thì chúng ta đã nắm giữ toàn bộ bằng chứng mà trí tuệ con người có thể dung nạp. Nếu điều đã rõ có thể bị phủ quyết bởi điều chưa biết, thì chẳng có sinh mệnh nào, trừ Đấng toàn tri, có thể đạt tới sự chắc chắn.”
“Dẫu vậy, chúng ta chớ nên,” nhà thiên văn học thận trọng nói, “đem sự kiêu ngạo mà giới hạn quyền năng của Đấng Sáng Tạo.”
Nhà thơ đáp: “Việc cho rằng điều này không đi đôi với điều kia, rằng cùng một mệnh đề không thể vừa đúng vừa sai, rằng cùng một con số không thể vừa chẵn vừa lẻ, rằng tư duy không thể được ban phát cho một tạo vật vốn sinh ra đã không có khả năng tư duy — thì hoàn toàn không phải là sự giới hạn đối với Đấng Toàn Năng.”
Nekayah tiếp lời: “Tôi không thấy câu hỏi này có mấy ý nghĩa thực tiễn. Liệu tính phi vật chất — thứ mà theo ý kiến của tôi, ông đã chứng minh vô cùng thỏa đáng — có tất yếu bao hàm sự trường tồn vĩnh cửu hay không?”
“Về tính phi vật chất,” Imlac nói, “những khái niệm của chúng ta chỉ mang tính phủ định và do đó vô cùng mơ hồ. Tính phi vật chất dường như ngụ ý một năng lực tự nhiên trường tồn vĩnh cửu như một hệ quả tất yếu của việc thoát khỏi mọi nguyên nhân gây mục rữa: bất cứ thứ gì tiêu vong đều bị phá hủy bởi sự rã rời trong cấu trúc và sự chia lìa giữa các bộ phận; và chúng ta không thể tài nào hình dung nổi một thực thể vốn không có các bộ phận, và do đó không thể rã rời, lại có thể bị hủy hoại hay suy suyển theo tự nhiên.”
Rasselas cất lời: “Tôi không tài nào hình dung nổi bất cứ thứ gì không có sự kéo dài trong không gian: thứ gì có sự kéo dài ắt phải có các bộ phận, và ông cũng thừa nhận rằng bất cứ thứ gì có các bộ phận đều có thể bị phá hủy.”
Imlac đáp: “Hãy ngẫm lại chính những suy ngẫm của anh, và sự khó hiểu ấy sẽ giảm bớt. Anh sẽ tìm thấy thực thể tồn tại mà không cần đến sự kéo dài trong không gian. Một hình thái lý tưởng cũng hiện thực không kém gì khối vật chất; thế nhưng hình thái lý tưởng ấy lại chẳng hề có sự kéo dài nào. Khi anh suy ngẫm về một kim tự tháp, việc tâm trí anh sở hữu ý niệm về kim tự tháp ấy cũng chắc chắn không kém gì việc bản thân tòa kim tự tháp đang sừng sững đứng đó. Ý niệm về một kim tự tháp chiếm không gian nhiều hơn ý niệm về một hạt bắp ở điểm nào? Hay làm thế nào mà một trong hai ý niệm ấy có thể chịu sự tổn thương chia cắt? Nguyên nhân thế nào thì kết quả thế ấy; tư duy ra sao thì năng lực suy nghĩ cũng vậy — đó là một năng lực miễn nhiễm trước mọi sự tổn thương và chẳng thể bị chia cắt.”
Nekayah nói: “Nhưng Đấng Tối Cao — Đấng mà tôi không dám gọi tên, Đấng đã tạo dựng nên linh hồn — hoàn toàn có thể tiêu diệt nó.”
“Ngài chắc chắn có quyền năng tiêu diệt nó,” Imlac đáp, “bởi dẫu linh hồn có bất diệt đến đâu, nó vẫn nhận năng lực trường tồn từ một bản thể siêu việt hơn. Triết học có thể chỉ ra rằng linh hồn sẽ không tiêu vong bởi bất kỳ nguyên nhân nội tại hay quy luật phân hủy nào; nhưng triết học chỉ có thể nói đến thế. Còn việc nó sẽ không bị xóa sổ bởi chính Đấng đã tạo ra nó hay không, chúng ta phải khiêm nhường lĩnh hội từ một nguồn uy quyền cao cả hơn.”
Toàn thể đoàn người lặng đi một lát, tập trung suy ngẫm. Rasselas lên tiếng: “Hãy rời khỏi chốn tử biệt này thôi. Cảnh tượng nơi lăng tẩm của người chết này sẽ ảm đạm biết bao đối với những ai chưa từng hay biết rằng mình sẽ chẳng bao giờ chết; rằng những gì đang hành động lúc này sẽ tiếp tục tiến trình của nó, và những gì đang tư duy lúc này sẽ mãi mãi tư duy. Những con người đang nằm duỗi thẳng trước mắt chúng ta đây, những bậc hiền triết và quyền quý thuở cổ đại, đang cảnh tỉnh chúng ta phải ghi nhớ sự ngắn ngủi của kiếp sống hiện tại; có lẽ họ từng bị cướp đi khi đang bận rộn, cũng giống như chúng ta lúc này, trong việc lựa chọn con đường cho cuộc đời.”
Công chúa nói: “Với tôi, việc lựa chọn con đường cho cuộc đời giờ đây đã trở nên kém phần quan trọng; từ nay về sau, tôi hy vọng chỉ tâm niệm đến sự lựa chọn cho cõi vĩnh hằng.”
Đoạn, họ vội vã bước ra khỏi những hang động, và dưới sự bảo vệ của đội hộ vệ, quay trở về Cairo.