“Ta không đành lòng,” vị hoàng tử cất lời, “cho rằng hạnh phúc lại được ban phát một cách quá đỗi hà tiện cho cõi trần, cũng chẳng thể tin rằng nếu được tự mình lựa chọn đường đời, ta lại không biết cách lấp đầy mỗi ngày bằng niềm vui. Ta sẽ chẳng làm tổn thương bất cứ ai và sẽ không khơi gợi sự oán hận; ta sẽ xoa dịu mọi nỗi bất hạnh và tận hưởng những lời chúc phúc từ lòng biết ơn. Ta sẽ chọn bạn bè trong số những bậc hiền triết và người vợ trong số những người phụ nữ đức hạnh, nhờ đó sẽ chẳng phải bận tâm trước bất kỳ sự phản bội hay tệ bạc nào. Con cái ta, qua sự chăm bẵm của ta, sẽ trở thành những kẻ học thức và kính Chúa, rồi sẽ đền đáp tuổi già của ta bằng tất cả những gì thơ ấu của chúng từng nhận được. Liệu kẻ nào dám quấy rầy một người mà khắp nơi có thể cất tiếng gọi đến hàng ngàn con người đã được ban ơn phước hoặc được giúp sức bởi quyền lực của hắn? Và cớ sao cuộc đời lại không thể trôi đi trong sự qua lại êm đềm của lòng bảo bọc và sự kính trọng? Tất cả những điều ấy hoàn toàn có thể đạt tới mà chẳng cần nhờ cậy đến những sự tinh vi kiểu Âu châu vốn xét qua hệ quả chỉ thấy hào nhoáng hơn là hữu ích. Hãy gác chúng lại và tiếp tục hành trình của chúng ta.”
“Từ xứ Palestine,” Imlac kể tiếp, “tôi băng qua nhiều vùng đất của châu Á; ở những vương quốc văn minh hơn thì với tư cách là một thương gia, còn giữa chốn núi rừng hoang dã thì trong vai một kẻ hành hương. Cuối cùng, tôi bắt đầu khao khát quê hương xứ sở, mong được nghỉ ngơi sau những dặm trường gian khó tại chính nơi tôi đã trải qua thuở thiếu thời, và làm vui lòng những người bạn cũ bằng những câu chuyện phiêu lưu của mình. Biết bao lần tôi tự hình dung ra cảnh những kẻ từng cùng tôi vui đùa trong những năm tháng rực rỡ của tuổi trẻ, nay quây quần bên tôi vào buổi chiều tấu khúc của cuộc đời, ngạc nhiên trước những câu chuyện và lắng nghe những lời khuyên nhủ của tôi.
“Khi ý nghĩ ấy đã ngự trị trong tâm trí, tôi coi mọi khoảnh khắc trôi qua mà không đưa mình đến gần Abyssinia hơn là một sự phí hoài. Tôi vội vã lên đường sang Ai Cập, và dẫu lòng đầy nôn nóng, tôi vẫn bị cầm chân suốt mười tháng trời để chiêm ngưỡng sự huy hoàng cổ xưa cũng như tìm hiểu về những di sản tri thức thời cổ đại. Tôi tìm thấy ở Cairo sự hòa trộn của muôn dân trăm họ: kẻ thì bị thu hút bởi tình yêu tri thức, kẻ mang hy vọng kiếm lời; rất nhiều người mang khát vọng sống theo ý mình mà không bị dòm ngó, được ẩn mình trong sự vô danh của chốn đông đúc; bởi ở một đô thị đông đúc như Cairo, người ta vừa có thể đạt được niềm vui giao tế xã hội lại vừa giữ được sự kín đáo của chốn thâm sơn cùng cốc.
“Từ Cairo, tôi du hành đến Suez, lên tàu vượt Biển Đỏ, xuôi theo bờ biển cho đến khi đặt chân tới thương cảm cảng mà tôi từng rời đi từ hai mươi năm trước. Tại đây, tôi gia nhập một đoàn lữ hành và bước chân trở lại quê hương.
“Lúc bấy giờ, tôi hằng mong chờ những cái ôm ấp từ họ hàng và những lời chúc mừng từ bạn bè, đồng thời nuôi hy vọng rằng dẫu cha tôi có coi trọng tài sản đến đâu đi nữa, ông vẫn sẽ hân hoan và kiêu hãnh nhận lại một người con trai có khả năng bồi đắp thêm hạnh phúc và vinh quang cho xứ sở. Nhưng chẳng mấy chốc tôi nhận ra suy nghĩ của mình chỉ là hão huyền. Cha tôi đã qua đời được mười bốn năm, để lại gia sản chia đều cho các anh tôi, những người đã dời nhà sang các tỉnh khác. Về phần những người bạn cũ, phần lớn đã nằm dưới cỏ mồ mỏi; số còn lại, kẻ thì lờ mờ nhớ tới tôi, kẻ thì coi tôi như một kẻ đã bị tiêm nhiễm những thói hư tật xấu ngoại bang.
“Một kẻ đã quen với những thăng trầm của cuộc đời thì chẳng dễ gì gục ngã. Qua một thời gian, tôi quên đi nỗi thất vọng, tìm cách lấy lòng giới quý tộc trong vương quốc; họ đón tiếp tôi vào bàn tiệc, nghe câu chuyện của tôi rồi buông lời tiễn biệt. Tôi mở một trường học liền bị cấm giảng dạy. Tôi bèn quyết định an phận trong sự tĩnh lặng của đời sống gia đình, ngỏ lời với một người phụ nữ vốn yêu thích những cuộc trò chuyện của tôi, nhưng nàng lại từ chối lời cầu hôn chỉ vì cha tôi làm nghề buôn bán.
“Cuối cùng, mệt mỏi trước những lời nài nỉ và sự cự tuyệt, tôi quyết định vĩnh viễn trốn chạy khỏi cõi trần, không còn trông chờ vào ý kiến hay sự thất thường của kẻ khác. Tôi mỏi mòn ngóng chờ ngày cánh cổng của Thung lũng Hạnh phúc mở ra, để có thể nói lời vĩnh biệt với cả niềm hy vọng lẫn nỗi sợ hãi; ngày ấy cuối cùng cũng đến, màn thể hiện của tôi được đón nhận thiện cảm, và tôi hân hoan phó mặc đời mình cho sự giam cầm vĩnh viễn.”
“Rốt cuộc anh có tìm thấy hạnh phúc ở nơi này chăng?” Rasselas lên tiếng. “Hãy nói cho ta nghe, đừng giấu giếm điều gì, liệu anh có mãn nguyện với hoàn cảnh hiện tại, hay vẫn ao ước được lang thang và tìm tòi đây đó? Tất cả cư dân trong thung lũng này đều ca tụng số phận của họ, và trong chuyến viếng thăm hằng năm của Hoàng đế, họ luôn mời gọi những người khác đến chia sẻ phúc phần.”
“Thưa Hoàng tử vĩ đại,” Imlac đáp, “tôi xin nói thật lòng. Tôi không biết có một ai trong số những kẻ hầu người hạ của ngài lại không oán thán khoảnh khắc họ đặt chân vào chốn u tịch này. Tôi ít bất hạnh hơn những người khác, bởi tâm trí tôi ngập tràn những ký ức, thứ mà tôi có thể biến hóa và kết hợp tùy theo ý thích. Tôi có thể khỏa lấp sự cô độc bằng việc ôn lại thứ tri thức đang phai mờ dần trong trí nhớ, và bằng cách hoài niệm về những thăng trầm trong quá khứ. Thế nhưng, tất cả những điều ấy rốt cuộc lại dẫn đến một thực tế chua xót rằng những gì tôi thu nhặt được nay đã trở thành vô dụng, và chẳng có niềm vui nào trong quá khứ có thể tìm lại được nữa. Những kẻ khác, những người có tâm trí chẳng hề lưu giữ bất kỳ điều gì ngoài khoảnh khắc hiện tại, hoặc bị gặm nhấm bởi những5 tâm địa hiểm độc, hoặc cứ ngây dại ngồi trong bóng tối của sự trống rỗng vĩnh hằng.”
“Thứ tâm địa nào có thể ám ảnh những kẻ,” Hoàng tử nói, “vốn chẳng có lấy một đối thủ cạnh tranh? Chúng ta đang ở một nơi mà sự bất lực triệt tiêu mọi ác tâm, và mọi sự đố kỵ đều bị dập tắt bởi việc cùng nhau hưởng thụ.”
“Người ta có thể cùng nhau sở hữu của cải vật chất,” Imlac đáp, “nhưng chẳng bao giờ có thể đồng điệu trong tình yêu hay lòng kính trọng. Sẽ luôn có chuyện người này được lòng hơn kẻ khác; kẻ nào biết mình bị coi thường thì lòng đố kỵ sẽ mãi sục sôi, và thậm chí sẽ càng thêm ghen ghét, hiểm độc nếu bị buộc phải sống trước mặt những kẻ khinh miệu mình. Những lời mời mọc mà họ dùng để lôi kéo người khác vào một trạng thái mà chính họ đang cảm thấy khốn khổ, bắt nguồn từ bản chất hiểm độc tự nhiên của nỗi tuyệt vọng cùng cực. Họ chán ghét chính mình, chán ghét lẫn nhau, và chỉ mong tìm thấy sự giải thoát nơi những người bạn đồng hành mới. Họ ghen tị với sự tự do mà sự dại dột đã tước đoạt của bản thân, và vô cùng hào hứng muốn thấy toàn bộ nhân loại bị giam cầm giống như họ.”
“Tuy nhiên, tôi hoàn toàn vô can trước tội lỗi ấy. Chẳng ai có thể nói rằng họ khốn khổ là do lời phỉnh phờ của tôi. Tôi nhìn đám đông năm này qua năm khác đang khẩn khoản xin được gia nhập chốn ngục tù với ánh mắt đầy thương cảm, và chỉ ước gì mình được phép cảnh báo họ về hiểm họa đang chực chờ.”
“Imlac thân mến của ta,” vị Hoàng tử nói, “ta sẽ giãi bày toàn bộ cõi lòng cùng ngươi. Ta đã ấp ủ ý định trốn khỏi Thung lũng Hạnh phúc từ lâu. Ta đã dò la mọi ngóc ngách của ngọn núi này nhưng vấp phải những bức tường ngăn cản không tài nào vượt qua nổi — hãy chỉ cho ta cách phá vỡ xiềng xích nơi ngục tù này; ngươi sẽ là bạn đồng hành trong chuyến phiêu lưu của ta, là người dẫn đường cho những bước chân lang thang, là kẻ chia ngọt sẻ bùi trong vận mệnh của ta, và là người duy nhất dẫn dắt ta trong việc lựa chọn lẽ sống.”
“Thưa Ngài,” nhà thơ đáp lời, “cuộc đào thoát của ngài sẽ vô cùng gian nan, và có lẽ ngài sẽ sớm hối hận vì sự tò mò của mình. Thế giới mà ngài đang tự hình dung phẳng lặng và yên ả như mặt hồ trong thung lũng, thực chất sẽ là một vùng biển cuộn trào bão tố và sôi sục những xoáy nước; sẽ có lúc ngài bị nhấn chìm bởi những con sóng bạo tàn, có lúc lại bị quăng quật vào những mỏm đá của sự phản bội. Giữa muôn vàn bất công và lừa lọc, sự cạnh tranh và nỗi âu lo, sẽ có hàng ngàn lần ngài ao ước được trở lại chốn bình yên này, và sẵn sàng từ bỏ cả hy vọng để được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi.”
“Đừng cố dập tắt quyết tâm của ta,” Hoàng tử nói. “Ta đang rất đỗi nôn nóng được tận mắt chứng kiến những gì ngươi từng thấy; và vì chính ngươi cũng đã chán ngấy thung lũng này, rõ ràng là hoàn cảnh trước kia của ngươi còn tốt đẹp hơn hiện tại. Dù kết quả của cuộc thử nghiệm này ra sao đi nữa, ta vẫn quyết định sẽ tự mình phán đoán về những điều kiện sống khác nhau của nhân loại, rồi từ đó mới đưa ra lựa chọn đường đời một cách chín chắn.”
“Tôi e rằng,” Imlac cất lời, “ngài đang bị kìm hãm bởi những rào cản vững chắc hơn cả những lời can gián của tôi; dẫu vậy, nếu quyết tâm của ngài đã định đoạt, tôi sẽ không khuyên ngài phải tuyệt vọng. Chẳng có mấy điều là bất khả thi trước sự chuyên cần và tài nghệ.”