“Chúng tôi cứ lang thang như thế trong vài tuần, theo lời tên thủ lĩnh là để tôi được khuây khỏa, nhưng tôi lại nghi ngờ rằng hắn làm vậy vì lợi ích riêng của bản thân. Tôi cố gắng tỏ ra bằng lòng, bởi sự ủ rũ và oán giận lúc ấy chẳng ích gì, và chính nỗ lực đó đã giúp tâm trí tôi bình tĩnh hơn nhiều; thế nhưng lòng tôi luôn hướng về Nekayah, và những muộn phiền ban đêm lớn gấp bội những tiêu khiển ban ngày. Các thị nữ của tôi, những kẻ trút mọi gánh nặng lên vai chủ nhân, đã cảm thấy nhẹ nhõm từ lúc thấy tôi được đối xử kính trọng, và phó mặc bản thân cho những niềm vui nhỏ nhoi làm vơi bớt mệt nhọc mà chẳng chút bận tâm hay sầu muộn. Tôi vui với niềm vui của họ, và được tiếp thêm sức mạnh nhờ sự tự tin ấy. Tình cảnh của tôi đã bớt đi phần lớn nỗi sợ hãi, khi tôi nhận ra tên người Ả Rập chỉ đi càn quét khắp vùng cốt để vơ vét tài sản. Lòng tham là một thứ tật xấu đồng nhất và dễ bề dung dưỡng; những căn bệnh trí tuệ khác vốn khác biệt tùy theo cấu trúc tâm hồn: điều xoa dịu được niềm kiêu hãnh của người này lại có thể xúc phạm đến niềm kiêu hãnh của kẻ khác; nhưng để lấy lòng kẻ tham lam thì có một lối đi ngắn ngủi—hãy mang tiền đến, và chẳng có gì là không được đáp ứng.
“Cuối cùng chúng tôi cũng đến nơi ở của tên thủ lĩnh; một ngôi nhà kiên cố và rộng lớn, xây bằng đá trên một hòn đảo giữa dòng Nile, nằm, như tôi được biết, dưới vùng chí tuyến. ‘Thưa tiểu thư,’ tên người Ả Rập nói, ‘cô hãy nghỉ ngơi sau chuyến hành trình vài tuần tại nơi này, nơi mà cô phải coi mình như một vị Nữ vương. Công việc của tôi là chiến tranh: vì thế tôi đã chọn chốn cư ngụ hẻo lánh này, từ đây tôi có thể xuất hiện bất ngờ và lui về mà không sợ bị truy đuổi. Giờ đây cô có thể yên tâm nghỉ ngơi: ở đây có rất ít niềm vui, nhưng hoàn toàn không có sự nguy hiểm.’ Hắn bèn dẫn tôi vào các căn phòng phía bên trong, đỡ tôi ngồi lên chiếc ghế dài sang trọng nhất, rồi cúi rạp xuống tận mặt đất.
Mấy người phụ nữ của hắn, những kẻ coi tôi như một đối thủ cạnh tranh, nhìn tôi với ánh mắt đầy ác ý; nhưng khi được thông báo rằng tôi chỉ là một vị tiểu thư cao quý bị giữ lại để đòi tiền chuộc, họ bắt đầu ganh đua nhau trong sự cung kính và nịnh nọt.
“Lại được an ủi bởi những lời đảm bảo chắc nịch về một sự tự do chóng vánh, trong mấy ngày đầu tôi vơi bớt vẻ nóng nảy nhờ sự mới lạ của chốn này. Các tháp canh phóng tầm mắt ra khoảng không gian bao la xung quanh, mở ra khung cảnh uốn lượn của dòng sông. Ban ngày, tôi lang thang từ nơi này sang nơi khác, theo nhịp chuyển dịch của ánh mặt trời làm thay đổi vẻ rực rỡ của cảnh vật, và ngắm nhìn bao điều chưa từng thấy trước đây. Cá sấu và hà mã xuất hiện nhan nhản ở vùng đất hoang vu này; và tôi thường nhìn chúng với nỗi sợ hãi tột cùng, dẫu biết rằng chúng chẳng thể làm hại mình. Có lúc tôi cứ ngóng trông những nàng tiên cá và các vị thủy thần mà, như Imlac từng kể, các lữ khách châu Âu đã đặt tên cho dòng Nile; nhưng chẳng có sinh vật nào như thế xuất hiện, và khi tôi gặng hỏi, tên người Ả Rập chỉ cười trước sự cả tin của tôi.
“Vào ban đêm, tên người Ả Rập luôn hộ tống tôi lên một ngọn tháp chuyên dùng để quan sát thiên văn, nơi hắn cố dạy tôi tên gọi và quỹ đạo của các vì sao. Tôi chẳng mặn mà gì với môn học này; nhưng ra vẻ chăm chú là điều cần thiết để làm vừa lòng người thầy, kẻ rất tự hào về sự hiểu biết của mình, và chẳng mấy chốc tôi nhận ra mình cần một chút việc làm để xua đi sự tẻ nhạt của thời gian cứ trôi qua giữa những cảnh vật y nguyên cũ kỹ. Tôi đã chán ngấy cảnh buổi sáng phải ngắm nhìn những thứ mà buổi tối hôm trước tôi từng quay lưng bỏ đi trong mệt mỏi: cuối cùng tôi đành chấp nhận ngắm các vì sao còn hơn chẳng làm gì cả, nhưng không phải lúc nào tôi cũng giữ được tâm trí tập trung, và rất nhiều khi tôi đang mải nghĩ về Nekayah trong lúc kẻ khác tưởng tôi đang trầm ngâm ngắm bầu trời. Chẳng bao lâu sau, tên người Ả Rập lại lên đường trong một chuyến viễn chinh khác, và khi ấy niềm vui duy nhất của tôi là trò chuyện với các thị nữ về tai họa đã bắt chúng tôi đi, cùng niềm hạnh phúc mà tất cả chúng tôi sẽ tận hưởng khi kết thúc quãng đời giam cầm.”
“Trong pháo đài của tên người Ả Rập ấy có những phụ nữ,” Công chúa cất lời; “sao chị không biến họ thành bạn đồng hành, tận hưởng những câu chuyện của họ và tham gia các trò tiêu khiển cùng họ? Ở một nơi mà họ tìm thấy công việc hay sự giải trí, sao chỉ một mình chị phải ngồi đây gặm nhấm nỗi sầu muộn vô ích? Hay sao chị lại chẳng thể chịu đựng nổi trong vài tháng cái cảnh ngộ mà họ phải chịu đựng suốt cả cuộc đời?”
“Những trò tiêu khiển của đám phụ nữ ấy,” Pekuah đáp, “chỉ là thứ trò chơi trẻ con, chẳng thể làm bận rộn nổi một tâm trí quen với những hoạt động mạnh mẽ hơn. Tôi có thể làm mọi việc mà họ thích thú chỉ bằng những giác quan thông thường, trong khi các khả năng tư duy của tôi đã bay bổng về tới Cairo. Họ chạy từ phòng này sang phòng khác, giống như một con chim nhảy nhót từ cọng kẽm này sang cọng kẽm khác trong lồng. Họ nhảy múa cốt để được chuyển động, như những con cừu non tung tăng trên đồng cỏ. Thỉnh thoảng có kẻ giả vờ bị thương để đám còn lại hoảng hốt, hoặc trốn đi để người khác phải tìm kiếm. Một phần thời gian của họ trôi qua trong việc ngắm nhìn hành trình của những vật nhẹ nổi bồng bềnh trên sông, phần khác để ghi nhận những hình thù muôn hình vạn trạng của mây trời tan ra trên cao.”
“Công việc của họ chỉ là thêu thùa, thi thoảng tôi và các thị nữ cũng phụ giúp; nhưng chị thừa biết tâm trí con người rất dễ xao lãng khỏi mấy đầu ngón tay, và chị cũng chẳng thể ngờ rằng cảnh giam cầm và việc phải xa cách Nekayah lại có thể nhận được sự an ủi từ những đóa hoa bằng lụa là.”
“Cũng chẳng thể hy vọng gì nhiều sự thỏa mãn từ những cuộc trò chuyện với họ: vì người ta có thể chờ đợi họ bàn về chuyện gì cơ chứ? Họ chẳng thấy gì cả, vì từ thuở thiếu thời họ đã sống trong xó xỉnh chật hẹp ấy: những gì chưa từng thấy thì họ chẳng thể hiểu biết, bởi họ không biết chữ. Họ chẳng có khái niệm nào ngoài dăm ba thứ trước mắt, và hầu như chẳng gọi nổi tên thứ gì ngoài quần áo và thức ăn của mình. Vì mang vị thế bề trên, tôi thường xuyên được gọi đến để đứng ra phân xử những cuộc cãi vã của họ, và tôi giải quyết chúng công bằng nhất có thể. Nếu việc nghe lời phàn nàn của người này về kẻ khác có thể làm tôi khuây khỏa, thì hẳn tôi đã bị giữ lại bởi vô số câu chuyện dài dòng; nhưng những nguyên nhân gây ra sự thù hằn giữa họ quá ư vụn vặt khiến tôi chẳng thể lắng nghe mà không ngắt lời.”
“Làm sao,” Rasselas nói, “mà tên người Ả Rập, kẻ mà chị miêu tả là một người có tài nghệ hơn người thường, lại có thể tìm thấy chút niềm vui nào trong hậu cung của mình khi nó chỉ toàn những người phụ nữ như thế? Phải chăng nhan sắc của họ đẹp đến nao lòng?”
“Họ không,” Pekuah đáp, “thiếu đi vẻ đẹp bình dị và tầm thường vốn có thể tồn tại mà chẳng cần sự hoạt bát hay cao cả, chẳng cần năng lượng tư duy hay phẩm giá cao quý. Nhưng đối với một người như tên người Ả Rập, thứ nhan sắc ấy chỉ giống như một đóa hoa ngắt vội bên đường rồi bất cẩn ném đi. Dù hắn có tìm thấy những niềm vui nào chăng nữa ở bên họ, thì đó chắc chắn không phải là niềm vui của tình bạn hay sự giao tế. Khi họ vây quanh đùa giỡn, hắn nhìn họ với vẻ bề trên dửng dưng; khi họ ganh đua để lấy lòng hắn, đôi khi hắn quay đi với vẻ chán ghét. Vì chẳng có chút kiến thức nào, câu chuyện của họ chẳng thể làm vơi đi sự tẻ nhạt của cuộc đời; vì chẳng có sự lựa chọn nào, tình cảm hay vẻ bề ngoài tình cảm của họ chẳng khơi gợi ở hắn niềm kiêu hãnh hay lòng biết ơn. Hắn chẳng hề cảm thấy cao cả hơn trong lòng khi nhận được nụ cười từ một người phụ nữ chưa từng thấy người đàn ông nào khác, hắn cũng chẳng thấy biết ơn thứ tình cảm mà hắn thừa biết chẳng bao giờ chân thật, và đôi khi hắn nhận ra nó được bày tỏ không phải để làm hắn vui lòng mà cốt để làm đau khổ một đối thủ. Thứ mà hắn trao đi, và họ nhận lấy, tựa như tình yêu, thực chất chỉ là sự phân phát thờ ơ quãng thời gian dư thừa, thứ tình yêu mà một kẻ có thể dành cho những gì mình khinh miệt, một thứ tình cảm chẳng có lấy hy vọng hay sợ hãi, chẳng có niềm vui lẫn nỗi buồn.”
“Thưa tiểu thư, chị có lý do để tự thấy mình may mắn,” Imlac lên tiếng, “khi đã được thả về một cách dễ dàng như thế. Làm sao một tâm trí luôn khao khát tri thức lại có thể đành lòng, giữa cơn đói khát trí tuệ, đánh mất một bữa tiệc thịnh soạn như những câu chuyện của Pekuah cơ chứ?”
“Tôi có khuynh hướng tin rằng,” Pekuah đáp, “hắn đã do dự trong một khoảng thời gian; bởi bất chấp lời hứa hẹn, cứ mỗi lần tôi đề nghị cử người đưa thư về Cairo, hắn lại tìm ra lý do để trì hoãn. Trong suốt thời gian bị giam giữ trong nhà hắn, hắn thực hiện nhiều cuộc đột kích vào các vùng đất lân cận, và có lẽ hắn đã từ chối thả tôi nếu số chiến lợi phẩm thu được chưa làm thỏa mãn ý nguyện. Hắn luôn trở về với vẻ lịch thiệp, kể lại những chuyến phiêu lưu, tỏ ra thích thú khi nghe những quan sát của tôi, và tìm cách giúp tôi hiểu biết thêm về các vì sao. Khi tôi nài nỉ hắn cho phép gửi thư đi, hắn xoa dịu tôi bằng những lời hứa hẹn về danh dự và lòng thành; và khi không còn lý do gì để từ chối một cách lịch sự nữa, hắn lại cho đám thuộc hạ lên đường, rồi bỏ mặc tôi cai quản mọi thứ trong lúc hắn vắng nhà. Tôi vô cùng đau khổ trước sự trì hoãn đầy tính toán này, và đôi khi sợ rằng mình sẽ bị lãng quên; rằng các anh chị sẽ rời Cairo, và tôi buộc phải chôn vùi phần đời còn lại trên một hòn đảo của sông Nile.
“Cuối cùng tôi trở nên tuyệt vọng, chán nản, và chẳng mòng lấy lòng hắn nữa, khiến hắn có dạo thường xuyên trò chuyện với các thị nữ của tôi hơn. Việc hắn phải lòng họ hay phải lòng tôi có lẽ đều mang lại hậu quả tồi tệ như nhau, và tôi chẳng lấy làm vui vẻ gì trước tình bạn ngày một lớn dần ấy. Sự bất an của tôi không kéo dài lâu, bởi khi tôi tìm lại được phần nào sự vui tươi, hắn lại quay về bên tôi, và tôi không khỏi cảm thấy khinh miệt sự lo lắng ngốc nghếch trước kia của chính mình.
“Hắn vẫn cứ khất lần việc đòi tiền chuộc, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ chịu quyết định nếu phái viên của anh không tìm được đường tới chỗ hắn. Số vàng mà hắn nhất quyết không chịu đi lấy ấy, nay dâng đến tay thì hắn chẳng thể chối từ. Hắn vội vã chuẩn bị cho hành trình trở về đây của chúng tôi, tựa như một kẻ vừa được giải thoát khỏi nỗi đau dằn vặt từ cuộc nội chiến trong lòng. Tôi nói lời từ biệt với những người bạn đồng hành trong ngôi nhà ấy, và họ tiễn tôi đi với sự dửng dưng lạnh nhạt.”
Nekayah sau khi lắng nghe câu chuyện của người hầu cận yêu quý liền đứng dậy ôm chầm lấy nàng, còn Rasselas trao cho nàng một trăm lạng vàng, và nàng đã dâng lại số vàng ấy cho tên người Ả Rập thay cho năm mươi lạng đã hứa.