Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
16. “Sống vĩnh cửu ở một nơi”

❊ ❊ ❊

16

“Sống vĩnh cửu ở một nơi”

Trong lần gặp đầu tiên giữa tôi với người em họ Cootie của Henrietta , khi chúng tôi ngồi uống nước ép hoa quả, ông đã nói với tôi rằng không ai nhắc đến Henrietta. Không nhắc đến từ khi bà đổ bệnh, sau khi bà chết, và cho đến bây giờ. “Chúng tôi không nhắc đến những từ như ung thư”, ông ấy nói, “và chúng tôi không kể chuyện về người đã mất”. Theo lời ông, tại thời điểm đó, gia đình đã tiếp tục sống quá lâu mà không nhắc đến Henrietta, gần như là bà chưa bao giờ tồn tại, ngoại trừ những đứa con và các tế bào của bà.

“Nghe có vẻ thật kỳ lạ”, ông nói, “nhưng các tế bào đó đã sống lâu hơn ký ức về chị ấy”.

Ông nói nếu tôi muốn biết về Henrietta, tôi phải đi đến cuối đường và nói chuyện với Cliff, người đã lớn lên cùng Henrietta như một người anh em ruột.

Khi tôi tấp xe vào lối đi nhà Cliff, ông đã nghĩ tôi là một tín đồ của Nhân chứng Giê-hô-va[1] hoặc một nhân viên bán bảo hiểm, vì những người da trắng duy nhất ghé qua nhà ông thường là một trong hai nhóm người đó. Dù vậy, ông vẫn mỉm cười và vẫy tay: “Cô khỏe chứ?”

Cliff đã ngoài 70 và vẫn trông nom kho thuốc lá phía sau nông trại mà cha ông đã xây nhiều thập niên trước, ông kiểm tra lò sưởi vài lần mỗi ngày để đảm bảo rằng chúng vẫn ở mức 500C. Trong nhà Cliff, những bức tường trắng và xanh đã sẫm màu vì những vết dầu và bụi bặm. Ông chặn lối đi lên tầng hai bằng bìa cứng và chăn để hơi ấm khỏi bay lên trên và lọt ra ngoài qua các ô cửa trống. Ông lấy băng dính, báo để bít những cái lỗ trên trần nhà, trên tường, và cửa sổ. Ông ngủ dưới tầng một, trên một cái giường đơn mỏng tanh không có ga trải, được đặt đối diện tủ lạnh và bếp lò, bên cạnh cái bàn gấp nơi ông xếp đầy những lọ thuốc mà ông đã quên mất là thuốc gì. Có lẽ là thuốc điều trị ung thư tuyến tiền liệt. Có lẽ là thuốc điều trị huyết áp cao.

Cliff dành phần lớn thời gian của mình ở hiên nhà, ngồi trên chiếc ghế bành kẻ sọc cũ đến mức hầu như chỉ còn đệm và lò xo, và vẫy tay với mọi chiếc xe đi qua. Cliff cao khoảng 1m8, dù đã còng vài phân. Ông có làn da nâu sáng, khô và sần sùi như da cá sấu, đôi mắt màu lục ở chính giữa, và xanh dương đậm ở viền. Nhiều thập niên làm việc trong các xưởng đóng tàu và những cánh đồng thuốc lá đã khiến hai bàn tay ông cứng như vải bố, các móng tay vàng khè, nứt nẻ, và sờn đến tận biểu bì. Trong lúc nói, Cliff nhìn chằm chằm xuống mặt đất và bẻ các ngón tay bị viêm khớp của ông, ngón nọ chồng lên ngón kia, như thể ông đang bắt chéo các ngón tay để cầu nguyện[2]. Rồi ông gỡ các ngón tay ra và lặp lại như vậy.

Khi nghe tôi đang viết một cuốn sách về Henrietta, ông đứng dậy khỏi ghế, mặc áo khoác vào, lại gần xe của tôi, và hét lên: “Đi nào, tôi sẽ đưa cô đến mộ của chị ấy”.

Đi khoảng nửa dặm trên đường Thị trấn Lacks, Cliff bảo tôi đỗ xe trước một căn nhà làm bằng gạch xỉ và bìa ép rộng không quá 30 m2.

Ông đẩy cánh cửa bằng thép gai và gỗ dẫn đến đồng cỏ và ra hiệu cho tôi bước vào. Cuối đồng cỏ, lẩn sau những rặng cây, là một căn lán thời nô lệ được che bằng các tấm ván với những cái lỗ đủ to để nhìn xuyên qua. Cửa sổ của nó không có kính và được bao xung quanh bằng những lớp ván mỏng cùng những tấm biển quảng cáo Coca-Cola hoen rỉ từ những năm 1950. Căn nhà xiêu vẹo, bốn góc của nó đặt trên những tảng đá đủ kích cỡ. Những tảng đá ấy đã nâng đỡ căn nhà suốt hơn 200 năm, sàn nhà cách mặt đất một khoảng đủ cao để một đứa trẻ có thể bò bên dưới.

“Đó là Nhà Chung nơi Henrietta đã lớn lên!” Cliff hét, chỉ tay vào căn nhà. Chúng tôi bước về phía ấy trên nền đất đỏ và những chiếc lá khô lạo xạo dưới chân, không khí có mùi của hoa hồng dại, mùi thông, và mùi của đàn bò.

“Henrietta đã giữ cho nó tươm tất – một căn Nhà Chung thực sự. Giờ tôi chẳng còn nhận ra nó nữa”.

Sàn nhà bên trong phủ đầy rơm và phân; nó đã bị sập ở một số chỗ vì sức nặng của những con bò – giờ đây chúng được tự do đi lại trong khu đất. Ở tầng trên, trong căn phòng nơi Henrietta từng ngủ cùng Day, một vài vết tích của sự sống nằm rải rác trên sàn: chiếc ủng rách rưới với các lỗ xỏ dây bằng kim loại nhưng không có dây, một chai soda TruAde dán nhãn màu trắng và đỏ, một chiếc giày nữ hở ngón nhỏ xíu. Tôi thắc mắc liệu có phải giày của Henrietta.

“Có thể!” – Cliff nói. “Đúng là trông như giày của Henrietta”. Ông chỉ vào nơi từng là bức tường màu đen đã đổ xuống nhiều năm trước, chỉ còn sót lại hai khung cửa sổ cao. “Đây là nơi Henrietta từng ngủ”.

Henrietta thường nằm sấp bụng và nhìn ra ngoài từ những ô cửa này, xuống cánh rừng và nghĩa trang gia đình. Nghĩa trang là một khoảng đất trống rộng chừng 1.000 m2. Trên đó các bia mộ nằm rải rác, và được bao quanh bởi những sợi thép gai. Cũng chính những con bò giẫm nát sàn Nhà Chung đã phá hủy vài phần của hàng rào nghĩa trang. Chúng bỏ lại những đống phân và dấu chân trên các ngôi mộ; giẫm nát những bó hoa – chỉ còn trơ lại cành và ruy băng; và đạp đổ vài bia mộ đang nằm chỏng chơ trên mặt đất.

Khi chúng tôi ra ngoài, Cliff lắc đầu và nhặt những mảnh vỡ của tấm biển nát vụn lên. Một mảnh viết CHÚNG CON YÊU, mảnh khác ghi MẸ.

Một số bia mộ được tự làm bằng bê tông; số khác được mua ở cửa hàng và bằng cẩm thạch. “Đó là của những người có chút tiền”, Cliff nói, chỉ vào một tấm bia bằng cẩm thạch. Nhiều ngôi mộ được đánh dấu bằng những miếng kim loại to bằng tấm thẻ chỉ mục gắn trên những cây gậy, trên đó ghi tên và ngày tháng; số còn lại không được đánh dấu.

“Chúng tôi thường đánh dấu các ngôi mộ bằng một tảng đá để có thể tìm chúng”, Cliff nói. “Nhưng nghĩa trang này đã từng bị một chiếc xe ủi dọn sạch, nên hầu hết những tảng đá đã biến mất”. Theo lời ông, có nhiều người được chôn ở nghĩa trang dòng họ Lacks, nhiều năm trước nghĩa trang đã hết chỗ, nên họ bắt đầu đặt các ngôi mộ xếp chồng lên nhau.

Ông chỉ vào một cái hố trên mặt đất không có gì đánh dấu bên cạnh: “Đây là mộ của một người bạn tốt của tôi”. Rồi ông bắt đầu chỉ quanh nghĩa trang vào những cái hố to bằng thân người. “Nhìn thấy chỗ kia không... và chỗ kia... cả chỗ kia nữa. Chúng đều là những ngôi mộ không có bia. Chúng bị sụt xuống sau một thời gian, khi đất đã lắng xuống quanh thi thể”. Thỉnh thoảng ông lại chỉ vào một tảng đá nhỏ trống trơn và nói đó là của một người anh em họ hay một bà dì.

“Đó là mộ của mẹ Henrietta”, ông chỉ vào tấm bia đơn độc gần mép rìa trang, vây quanh bởi những rặng cây và những bụi hồng dại.

Nó cao vài thước, mặt trước sờn cũ và đen đúa vì thời gian và thời tiết. Trên bia khắc:

❀ ❀ ❀

[1] Nhân chứng Giê-hô-va là một tôn giáo mà niềm tin của họ dựa trên Kinh Thánh Ki-tô giáo.

[2] Khi một người muốn cầu may mắn và thuận lợi cho một việc gì đó, họ sẽ bắt chéo ngón tay trỏ và ngón tay giữa vào nhau.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.