Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
25. “Ai cho phép các ông bán lá lách của tôi?”

❊ ❊ ❊

25

“Ai cho phép các ông bán lá lách của tôi?”

Năm 1976 – cùng thời điểm Mike Rogers đăng tải bài báo của mình trên Rolling Stone và gia đình Lacks được biết người ta đang mua bán các tế bào của Henrietta – John Moore đang làm việc 12 tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần, ở vị trí nhân viên thuế quan của Alaska Pipeline. Moore nghĩ công việc này đang giết chết anh ta. Lợi anh ta chảy máu, bụng trướng, các vết bầm tím phủ khắp người. Hóa ra, ở tuổi 31, Moore bị bệnh bạch cầu tế bào tóc, một loại ung thư chết người và hiếm gặp, khiến lá lách của anh ta chỉ toàn những tế bào máu ác tính cho đến khi nó phình lên như một cái ống bị quá tải bên trong.

Bác sĩ địa phương của Moore giới thiệu anh ta đến David Golde, một nhà nghiên cứu bệnh ung thư hàng đầu ở UCLA. Golde nói cắt bỏ lá lách là phương pháp điều trị duy nhất. Moore đã ký giấy cam kết nói bệnh viện có thể “tiêu hủy mô hoặc các bộ phận thân thể bị cắt bỏ bằng cách hỏa táng”, và Golde đã cắt bỏ lá lách của Moore. Một lá lách thông thường nặng dưới 450 gram còn lá lách của Moore nặng 10 kg.

Sau ca phẫu thuật, Moore đã chuyển đến Seattle, trở thành một người kinh doanh hàu và tiếp tục cuộc sống của mình. Nhưng cứ vài tháng từ 1976 đến 1983, anh lại bay đến Los Angeles để Golde kiểm tra hậu phẫu. Ban đầu Moore không nghĩ nhiều đến những chuyến đi này, nhưng sau vài năm phải bay đi bay lại giữa Seattle và LA. để Golde có thể lấy tủy xương, máu, và tinh trùng, anh bắt đầu nghĩ, Các bác sĩ ở Seattle không thể làm việc này sao? Khi Moore nói với Golde rằng anh muốn theo dõi bệnh tình ở gần nhà, Golde đề nghị sẽ trả tiền vé máy bay và thu xếp một căn phòng sang trọng cho anh tại khách sạn Beverly Wilshire. Moore đã nghĩ thật kỳ quái, nhưng anh không tỏ ra nghi ngờ cho đến một ngày năm 1983 – bảy năm sau ca phẫu thuật – khi một y tá đưa cho anh tờ giấy cam kết mới có ghi:

Tôi (đồng ý, không đồng ý) trao cho Đại học California mọi quyền mà tôi, hoặc người thừa kế của tôi, có trước bất kỳ dòng tế bào hay bất kỳ sản phẩm tiềm năng nào được phát triển dựa trên máu và/ hoặc tủy xương được lấy từ tôi.

Ban đầu, Moore đã khoanh “đồng ý”. Nhiều năm sau, anh nói với tạp chí Discover rằng: “Bạn không muốn gây chuyện. Bạn nghĩ có thể gã này sẽ bỏ rơi bạn, và bạn sẽ chết hoặc bị gì đó”.

Nhưng Moore đã nghi ngờ Golde không thành thật với anh, nên khi cô y tá đưa cho anh một tờ đơn tương tự vào lần tái khám tiếp theo, Moore đã hỏi Golde liệu việc tái khám mà ông đang thực hiện có giá trị thương mại gì hay không. Theo Moore, Golde đã nói không, nhưng Moore vẫn khoanh “không đồng ý”, để phòng ngừa.

Sau lần tái khám, Moore đã đến nhà bố mẹ ở gần đó. Khi anh ta đến nơi, điện thoại đổ chuông. Là Golde, người đã gọi hai lần kể từ khi Moore rời bệnh viện. Ông ta nói chắc Moore đã lỡ tay chọn nhầm trong giấy cam kết, và bảo anh quay lại để sửa.

“Tôi không thấy thoải mái đối chất với ông ta”, nhiều năm sau Moore nói với một nhà báo, “nên tôi bảo: ‘Ồ, bác sĩ, không hiểu sao tôi lại có thể nhầm lẫn như vậy’. Nhưng tôi bảo tôi không thể quay lại, vì phải bay về Seattle”.

Không lâu sau, một mẫu đơn tương tự đã được gửi đến nhà Moore với dòng tin nhắn đính kèm “Khoanh Đồng ý”. Nhưng Moore đã không làm vậy. Vài tuần sau anh nhận được một lá thư của Golde bảo anh hãy thôi gây chuyện và ký vào mẫu đơn. Đó là lúc Moore đã gửi mẫu đơn cho một luật sư, và người luật sư phát hiện ra rằng Golde đã dành phần lớn thời gian trong bảy năm kể từ ca phẫu thuật của Moore để phát triển và quảng bá cho một dòng tế bào có tên gọi là “Mo”.

Moore nói với một phóng viên khác rằng: “Thật là mất nhân tính khi bị coi là Mo, bị gọi là Mo trong bệnh án: ‘Hôm nay đã gặp Mo’. Đột nhiên tôi không còn là một con người mà Golde đã quàng tay qua nữa, tôi là Mo, là một dòng tế bào, như thể là một miếng thịt”.

Nhiều tuần trước khi đưa Moore mẫu cam kết mới – nhiều năm sau khi những lần tái khám – Golde đã đăng ký sáng chế cho các tế bào của Moore, và một số loại protein cực kỳ có giá trị mà các tế bào ấy tạo ra. Golde vẫn chưa bán quyền sáng chế, nhưng theo đơn kiện mà Moore đệ, Golde đã tham gia đàm phán với một công ty công nghệ sinh học và công ty này sẽ cho ông cổ phần và lợi tức có giá 3,5 triệu đô để “phát triển thương mại” và “nghiên cứu khoa học” dòng tế bào Mo. Tại thời điểm đó, giá trên thị trường của nó ước tính khoảng 3 tỷ đô.

Những gì thuộc về sinh học thì không thể đăng ký sáng chế cho đến năm 1980, vài năm trước vụ kiện của Moore, khi Tòa án Tối cao đưa ra quyết định cho vụ án của Ananda Mohan Chakrabarty, một nhà khoa học làm việc ở General Electric, người đã tạo ra một loại vi khuẩn được biến đổi gen để tiêu thụ dầu và giúp dọn sạch dầu tràn. Ông đã đăng ký sáng chế nhưng bị từ chối vì không có sinh vật sống nào được coi là một phát minh. Luật sư của Chakrabarty đã tranh cãi rằng vì các vi khuẩn thông thường không ăn dầu, nên loại vi khuẩn của Chakrabarty không được có trong tự nhiên, chúng chỉ tồn tại vì Chakrabarty đã biến đổi chúng dựa trên “trí tuệ con người”.

Chiến thắng của Chakrabarty đã mở ra khả năng đăng ký sáng chế cho các sinh vật sống khác, bao gồm các động vật và các dòng tế bào được biến đổi gen, chúng là những vật thể sống không tồn tại tự nhiên bên ngoài cơ thể con người. Và việc đăng ký sáng chế cho các dòng tế bào không cần phải thông báo hay xin phép “người hiến tặng tế bào”.

Các nhà khoa học đã nhanh chóng chỉ ra rằng các tế bào của John Moore rất khác thường, và rất ít dòng tế bào thực sự đáng để đăng ký sáng chế. Các tế bào của Moore sản sinh ra những protein hiếm mà các công ty dược phẩm có thể sử dụng để điều trị nhiễm trùng và ung thư. Chúng cũng mang một loại virus hiếm gọi là HTLV, một họ hàng xa của virus HIV, mà các nhà nghiên cứu đang hy vọng có thể sử dụng để tạo ra vắc-xin ngăn chặn đại dịch AIDS. Vì thế các công ty dược phẩm sẵn sàng bỏ ra một số tiền khổng lồ để làm nghiên cứu trên các tế bào của Moore. Nếu Moore biết điều này trước khi Golde đăng ký sáng chế, anh ta có thể trực tiếp tiếp cận các công ty và tự mình thỏa thuận bán tế bào.

Vào những năm đầu thập niên 1970, một người đàn ông tên Ted Slavin đã làm như vậy với các kháng thể có trong máu của anh ta. Slavin sinh khoảng thập niên 1950 với bệnh máu khó đông bẩm sinh. Thời đó phương pháp điều trị duy nhất là truyền các yếu tố đông máu từ máu được hiến tặng. Nhưng máu hiến tặng thời đó không được kiểm tra xem có nhiễm bệnh hay không, vì vậy, anh ta bị viêm gan B hết lần này đến lần khác, dù anh ta không biết điều ấy, cho đến nhiều thập niên sau, khi xét nghiệm máu cho thấy máu của Slavin có chứa một lượng kháng thể virus viêm gan B cực kỳ cao. Khi có kết quả xét nghiệm, bác sĩ của Slavin, không như bác sĩ của Moore, đã nói với anh rằng cơ thể anh đang sản sinh ra một thứ cực kỳ có giá trị.

Các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đang tìm cách phát triển một loại vắc-xin viêm gan B, và để làm được vậy thì cần một nguồn kháng thể ổn định như của Slavin, thứ mà các công ty dược phẩm sẵn sàng trả một khoản tiền lớn. Điều này thật thuận tiện, vì Slavin cần tiền. Anh đang làm những công việc lặt vặt như bồi bàn và công nhân xây dựng, nhưng rồi lại bị tai nạn vì chứng máu khó đông và cuối cùng lại thất nghiệp. Nên Slavin đã liên lạc với các phòng thí nghiệm và các công ty dược phẩm để hỏi họ có muốn mua kháng thể hay không. Họ đồng loạt bảo có.

Slavin bắt đầu bán huyết thanh với giá 10 đô mỗi ml, đôi lúc bán tận 500 ml mỗi đơn hàng, cho bất kỳ ai muốn mua. Nhưng anh ta không chỉ cần tiền. Anh ta muốn có người chữa được viêm gan B. Nên anh ta đã viết một lá thư gửi tới nhà virus học đoạt giải Nobel, Baruch Blumberg, người đã tìm ra kháng nguyên viêm gan B và tạo ra xét nghiệm máu phát hiện được kháng thể của Slavin. Slavin đã đề nghị được cung cấp máu và tế bào vô hạn cho các nghiên cứu của Blumberg, từ đó bắt đầu một mối quan hệ hợp tác trong nhiều năm. Nhờ huyết thanh của Slavin, cuối cùng Blumberg đã khám phá ra mối quan hệ giữa viêm gan B và ung thư gan, tạo ra loại vắc-xin chống viêm gan B đầu tiên, cứu sống hàng triệu người.

Slavin nhận ra chắc hẳn anh không phải là bệnh nhân duy nhất mang trong người dòng máu quý giá, nên anh đã tập hợp những người có điều kiện sinh lý tương tự và thành lập một công ty mang tên Essential Biologicals, mà về sau sẽ sáp nhập với một tập đoàn sản xuất các sản phẩm sinh học lớn hơn. Slavin chỉ là một trong số những người đầu tiên biến cơ thể mình thành một thứ kinh doanh, hiện nay có gần hai triệu người Mỹ đang bán huyết thanh của mình, và nhiều người trong số họ đi bán huyết thanh thường xuyên.

Tuy nhiên Moore không thể bán các tế bào được phát triển từ khối u của mình vì làm vậy sẽ vi phạm quyền sáng chế của Golde. Vì vậy vào năm 1984, Moore đã kiện Golde và UCLA vì tội lừa gạt và sử dụng cơ thể của anh trong nghiên cứu mà không được sự cho phép; anh cũng đòi lại quyền sở hữu các tế bào và kiện Golde vì đã ăn trộm chúng. Nhờ đó, anh trở thành người đầu tiên đòi quyền sở hữu các tế bào của chính mình và khởi kiện để đòi quyền lợi, bù đắp tổn thất.

Khi thẩm phán Joseph Wapner, người nổi tiếng vì đã trở thành thẩm phán trong chương trình truyền hình Tòa Án Của Nhân Dân, tiếp nhận vụ án, Moore đã nghĩ sẽ không ai nghiêm túc cân nhắc vụ kiện này. Nhưng các nhà khoa học trên khắp thế giới thì hoảng loạn. Nếu các mẫu mô tế bào – bao gồm các tế bào máu – trở thành tài sản của bệnh nhân, thì các nhà nghiên cứu, những người đã lấy mẫu bệnh phẩm mà không có sự chấp thuận hoặc quyền chuyển nhượng tài sản sẽ vướng vào tội ăn cắp. Giới truyền thông cho đăng hết bản tin này đến bản tin khác, trích lời các luật sư và các nhà khoa học, nói rằng chiến thắng của Moore sẽ “tạo ra sự hỗn loạn cho các nhà nghiên cứu” và “gióng lên hồi chuông báo tử cho các bác sĩ làm nghiên cứu ở các trường đại học”. Họ gọi nó là “mối đe dọa đối với việc chia sẻ mô tế bào cho mục đích nghiên cứu”, và lo ngại rằng các bệnh nhân sẽ cản đường phát triển của khoa học bằng việc đòi quyền lợi quá đáng, thậm chí với cả những tế bào không đáng giá hàng triệu đô như của Moore.

Nhưng rất nhiều các công trình khoa học đã bị chững lại khá nhiều khi các nhà nghiên cứu, các trường đại học, và các công ty công nghệ sinh học kiện nhau vì quyền sở hữu với nhiều dòng tế bào. Chỉ hai trong số các vụ kiện đó nhắc đến người mà các tế bào này bắt nguồn: vụ đầu tiên diễn ra năm 1976, liên quan đến quyền sở hữu của dòng tế bào bào thai người quan trọng. Leonard Hayflick, người đã phát triển dòng tế bào này, phản biện rằng bất kể những tế bào nào được nuôi cấy cũng có nhiều đối tác có quyền sở hữu hợp pháp, bao gồm các nhà khoa học nuôi cấy chúng, những nhà đầu tư, và “những người hiến tặng” tế bào. Nếu không có đóng góp của một trong những bên liên quan, các tế bào nuôi cấy sẽ không tồn tại, và sẽ không có bất kỳ lợi nhuận nào. Vụ kiện ấy không tạo nên tiền lệ vì nó được giải quyết ngoài tòa án, theo thỏa thuận giữa các bên với nhau, với quyền sở hữu tế bào được chia cho các bên liên quan trong vụ kiện, và không bao gồm người hiến tặng tế bào. Một vụ kiện tương tự diễn ra không lâu sau đó, khi một nhà khoa học trẻ đã lấy dòng tế bào mà anh ta giúp phát triển ở Mỹ và bay về Nhật Bản, quê hương của mình, đăng ký quyền sở hữu vì các tế bào ban đầu được lấy từ mẹ của anh ta.

Công chúng đã không nhận ra giá trị của các dòng tế bào cho đến khi tin tức về vụ kiện của Moore được đăng tải, tiêu đề các bài báo trên cả nước đã viết đại loại như:

QUYỀN SỞ HỮU CÁC TẾ BÀO LÀM DẤY LÊN NHIỀU VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI...

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.