21
Những bác sĩ bóng đêmHai tháng sau khi Sonny Lacks cho tôi leo cây, tôi lại ngồi đợi anh ta, lần này là ở đại sảnh của nhà nghỉ Baltimore Holiday. Đó là ngày đầu năm mới, và anh ta đã muộn gần hai tiếng đồng hồ. Tôi đã nghĩ anh ta sẽ lại cho tôi leo cây. Trong lúc tôi chuẩn bị ra về thì nghe thấy một người đàn ông lớn tiếng nói: “Vậy ra cô là Rebecca!”
Đột nhiên Sonny đứng cạnh tôi với nụ cười bẽn lẽn và dịu dàng, hàm răng thưa khiến anh ta trông như một thiếu niên 50 tuổi. Anh ta cười và vỗ vào lưng tôi.
“Cô không chịu bỏ cuộc nhỉ?” – anh ta nói. “Phải thừa nhận, trên đời này chỉ có một người cứng đầu hơn cô, đó là em gái Dale của tôi”. Anh ta cười rạng rỡ và chỉnh lại chiếc mũ lưỡi trai màu đen của mình. “Tôi đã tìm cách thuyết phục nó cùng đến, nhưng nó không chịu”.
Sonny có nụ cười rạng rỡ và đôi mắt tinh quái gần như nhắm tịt mỗi khi anh ta cười. Gương mặt anh ta dịu dàng, điển trai và thân thiện. Anh ta gầy, cùng lắm chỉ cao đến 1m75, với bộ ria mép được cắt tỉa cẩn thận. Anh ta với tay lấy túi xách của tôi: “Được rồi, lên đường thôi”.
Tôi đi theo anh ta đến gần chiếc Volvo mà anh ta đã không buồn khóa và vẫn để máy nổ trong bãi đỗ xe gần khách sạn. Anh ta đã mượn chiếc xe này của một trong số các cô con gái của mình. “Không ai muốn ngồi trên chiếc xe tải cũ kỹ của tôi”, anh ta nói, nhẹ nhàng vào số. “Cô đã chuẩn bị đi gặp Kahuna[1] Lớn rồi chứ?”
“Kahuna Lớn?”
“Phải”, anh ta đáp, cười rạng rỡ. “Deborah nói cô phải nói chuyện với anh Lawrence của chúng tôi trước khi những người khác nói chuyện với cô. Anh ấy sẽ kiểm tra cô, rồi quyết định sau. Nếu anh ấy đồng ý, có thể những người còn lại sẽ tiếp chuyện cô”.
Chúng tôi lái xe qua vài con phố trong im lặng.
“Lawrence là người duy nhất trong số các anh chị em chúng tôi còn nhớ về mẹ”, cuối cùng Sonny lên tiếng. “Deborah và tôi chẳng biết gì về bà”. Rồi, không rời mắt khỏi đường, Sonny đã cho tôi biết tất cả những gì anh biết về mẹ của mình.
“Tất cả mọi người đều nói bà rất thân thiện và giỏi nấu ăn”, anh nói. “Rất xinh đẹp nữa. Các tế bào của bà đã nổ tung trong những quả bom hạt nhân. Nhờ tế bào của bà mà có tất cả những phát minh mới – những phép màu y học như vắc-xin bại liệt, một số loại thuốc trị ung thư và những bệnh khác nữa, thậm chí cả AIDS. Bà thích chăm sóc người khác, nên cũng hợp lý khi bà đã làm tất cả những việc ấy thông qua các tế bào của mình. Ý tôi là, mọi người lúc nào cũng nói bà rất hiếu khách, dọn dẹp nhà cửa, nấu bữa sáng cho tất cả mọi người, ngay cả khi có đến 20 người”.
Anh ta rẽ vào con hẻm trống bên cạnh những căn nhà liền kề bằng gạch đỏ rồi nhìn vào tôi lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi bước lên xe.
“Đây là nơi chúng tôi đưa các nhà khoa học và phóng viên đến, những người muốn biết rõ hơn về mẹ tôi. Là nơi cả gia đình tôi quây hội đồng họ”, anh ta nói, rồi cười to. “Nhưng cô có vẻ tử tế, nên tôi sẽ giúp cô và không đưa thằng em của tôi đến lần này”.
Tôi xuống xe và Sonny lái đi, hét lên: “Chúc may mắn!” qua cửa kính.
Tất cả những gì tôi biết về các anh em trai của Sonny là họ rất nóng tính. Một trong số họ đã từng giết người – tôi không biết chính xác là ai và vì sao. Vài tháng trước, khi Deborah cho tôi số điện thoại của Lawrence và thề sẽ không bao giờ nói chuyện với tôi, cô đã dặn: “Các anh em của tôi hay tức giận khi những người da trắng đến và hỏi về mẹ chúng tôi”.
Khi tôi đi qua một cái sân hẹp – một nửa sân được láng xi măng – nối từ con hẻm tới nhà của Lawrence, một làn khói bay ra từ cửa bếp nơi chiếc tivi nhỏ đặt trên cái bàn gấp phát ra tiếng lè rè. Tôi gõ cửa, rồi đứng đợi. Không có tiếng trả lời. Tôi thò đầu vào bếp. Những miếng thịt lợn béo ngậy đang cháy trên bếp. Tôi gọi to. Vẫn không có tiếng trả lời.
Tôi hít một hơi thật sâu rồi bước vào. Khi tôi vừa đóng cửa, Lawrence xuất hiện, to gấp đôi tôi, thân hình cao một mét tám, nặng 125 kg, chiếm gọn chiều rộng của căn bếp hẹp, một tay đặt lên bàn, tay còn lại tựa tường.
“Xin chào, cô Rebecca”, anh ta nói, nhìn tôi từ đầu đến chân. “Cô muốn nếm thử món thịt tôi đang nấu chứ?” Đã gần một thập niên kể từ lần cuối tôi ăn thịt lợn, nhưng đột nhiên điều đó có vẻ không còn liên quan. “Sao tôi có thể từ chối được chứ”, tôi đáp.
Một nụ cười dịu dàng nở trên gương mặt của Lawrence. Anh đã 64 tuổi, nhưng ngoài những lọn tóc bạc, trông anh ta có vẻ trẻ hơn thế vài chục tuổi, với nước da mịn màu hạt dẻ và đôi mắt nâu trẻ trung. Anh ta kéo cạp quần bò màu xanh rộng thùng thình, chùi tay vào chiếc áo phông dính đầy dầu mỡ và vỗ tay.
“Được rồi”, anh ta nói, “tốt lắm. Tốt lắm. Tôi sẽ rán cho cô vài quả trứng nữa. Cô gầy quá”.
Trong lúc nấu, Lawrence nói chuyện về cuộc sống ở miền quê. “Khi những người lớn tuổi vào thị trấn để bán thuốc lá, họ thường mang về cho bọn trẻ chúng tôi một miếng xúc xích để chia nhau. Thi thoảng, nếu chúng tôi ngoan, họ sẽ để chúng tôi chấm bánh mì với mỡ thịt lợn muối xông khói”. Trí nhớ của anh ấy rất đáng nể. Anh ấy vẽ những hình miêu tả cỗ xe ngựa mà Day đã tự tay làm bằng các thanh gỗ khổ 5x10 cm. Lawrence dùng những sợi dây và khăn ăn để chỉ cho tôi thấy cách anh thường buộc thuốc lá để đem phơi khô lúc còn nhỏ.
Nhưng khi tôi hỏi về mẹ, Lawrence đột nhiên im lặng. Cuối cùng, anh ấy nói: “Bà rất xinh đẹp”. Rồi lại nói về thuốc lá. Tôi lại tiếp tục hỏi về Henrietta và anh ấy đáp: “Cha tôi thường đua ngựa dọc theo con đường Thị trấn Lacks cùng các bạn của ông”. Chúng tôi cứ quẩn quanh như vậy cho đến khi anh ấy thở dài và nói mình không nhớ gì về mẹ. Thậm chí Lawrence nói anh ấy không nhớ gì về phần lớn tuổi niên thiếu của mình.
“Tôi đã xóa nó khỏi tâm trí vì những đau khổ và buồn bã”. Và anh ấy không có ý định gợi nhớ về quãng thời gian đó.
“Ký ức duy nhất tôi giữ về mẹ là bà rất nghiêm khắc”. Lawrence kể bà thường bắt anh giặt tã bằng tay; anh đem chúng đi phơi, rồi bà lại ném chúng xuống nước, nói chúng chưa sạch. Nhưng lần duy nhất bà đánh Lawrence là lúc anh đi bơi ở bến tàu Turner Station. “Bà đã bảo tôi đi lấy một cây gậy cho bà đánh, rồi lại bắt tôi đi tìm một cây khác lớn hơn, và lớn hơn, cho đến khi bà buộc chúng lại với nhau rồi nện vào mông tôi”.
Trong lúc anh ấy kể, căn bếp lại đầy khói – cả hai chúng tôi đã quên mất rằng anh ấy đang nấu ăn. Lawrence xua tôi ra khỏi căn bếp, bảo tôi vào phòng khách ngồi trước tấm lót đĩa bằng nhựa có trang trí hình Giáng Sinh, đặt một đĩa đầy gồm trứng chiên và miếng thịt lợn cháy to bằng bàn tay tôi, nhưng dày hơn nhiều. Rồi anh ấy ngồi xuống chiếc ghế gỗ bên cạnh, đặt khuỷu tay lên đầu gối, và nhìn chằm chằm xuống sàn nhà trong im lặng khi tôi ăn.
“Cô đang viết một cuốn sách về mẹ tôi”, cuối cùng anh ấy nói.
Tôi gật đầu trong lúc nhai.
“Các tế bào của bà đã lớn bằng cả thế giới, đủ để che phủ cả Trái đất”, anh ấy nói, mắt ngấn lệ trong lúc vung tay tạo thành một quả địa cầu quanh người. “Thật kỳ quái... Chúng cứ thế lớn dần lớn dần mãi, không ngừng chiến đấu với bất kể những gì chúng phải đương đầu”.
Anh ấy tựa người xuống ghế, gương mặt của anh ấy chỉ cách mặt tôi vài phân, và thì thầm: “Cô có biết tôi đã nghe thấy gì không? Tôi nghe nói đến năm 2050, trẻ con sẽ được tiêm huyết thanh làm từ tế bào của mẹ tôi để có thể sống đến 800 tuổi”. Anh ấy cười với tôi như thể muốn nói: tôi cược rằng mẹ của cô không thể làm tốt hơn thế. “Chúng sẽ chữa tất cả các loại bệnh. Chúng là một phép màu”.
Lawrence ngả lưng xuống ghế và nhìn chằm chằm xuống chân, nụ cười vụt tắt. Sau một hồi lâu, anh ấy ngẩng lên và nhìn vào mắt tôi.
“Cô có thể cho tôi biết các tế bào của mẹ tôi thực sự đã làm được những gì không?” – anh ấy thì thầm. “Tôi biết chúng đã làm được điều gì đó quan trọng, nhưng không ai nói với chúng tôi”.
Khi tôi hỏi anh ấy có biết một tế bào là gì không, anh ấy nhìn chằm chằm xuống hai chân như thể một cậu học trò vừa bị gọi trả bài nhưng chưa làm bài tập về nhà.
“Sơ sơ”, anh ấy đáp. “Không hẳn”.
Tôi xé một tờ giấy từ cuốn sổ tay, vẽ một vòng tròn lớn với chấm đen nhỏ bên trong, và giải thích cho anh ấy hiểu về tế bào, rồi kể về một số điều mà HeLa đã làm cho nền khoa học, và ngành nuôi cấy tế bào đã phát triển đến mức nào kể từ đó.
“Thậm chí hiện nay các nhà khoa học đã có thể nuôi cấy giác mạc”, tôi nói, thọc tay vào túi xách để tìm bài báo mà tôi đã cắt. Tôi đưa nó cho anh ấy và bảo rằng, nhờ việc sử dụng các kỹ thuật nuôi cấy mà HeLa giúp phát triển, các nhà khoa học đã có thể lấy mẫu giác mạc của một người, nuôi cấy nó trong môi trường, rồi ghép vào mắt của người khác để trị mù lòa.
“Thật không thể tin được”, Lawrence nói, và lắc đầu. “Đó là một phép màu!”
Đột nhiên, Sonny mở toang cửa, hét lớn: “Cô Rebecca vẫn còn sống chứ?” Anh ấy tựa vào ngưỡng cửa giữa phòng ăn và phòng khách.
“Có vẻ như cô đã vượt qua bài kiểm tra”, Sonny nói, chỉ vào cái đĩa đã vơi một nửa của tôi.
“Cô Rebecca đang kể cho tôi nghe về các tế bào của mẹ”, Lawrence nói. “Cô ấy đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện thật thú vị. Cậu có biết các tế bào của mẹ sẽ giúp Stevie Wonder[2] nhìn được không?”
“Ừm, thực ra thì, không phải các tế bào của bà ấy sẽ được cấy vào mắt người”, tôi lắp bắp nói. “Các nhà khoa học đã sử dụng kỹ thuật được phát triển nhờ các tế bào của bà để tạo ra giác mạc của người khác”.
“Đó là một phép màu”, Sonny nói. “Tôi đã không hề biết điều đó, nhưng hôm trước Tổng thống Clinton đã nói vắc-xin bại liệt là một trong những điều quan trọng nhất xảy ra trong thế kỷ 20, và các tế bào của bà cũng có liên quan”.
“Đó là một phép màu”, Lawrence nói.
“Việc này cũng vậy”, Sonny nói, từ từ dang tay ra và đứng sang một bên để lộ người cha 84 tuổi của mình, Day, khập khễnh đi trên đôi chân yếu ớt đằng sau.
Day đã không rời khỏi nhà suốt một tuần vì bị chảy máu cam không ngừng. Giờ ông đang đứng giữa lối đi trong chiếc quần jeans bạc màu, áo sơ mi vải flannel, và đôi dép lê màu xanh lam bằng nhựa, mặc dù đang là tháng 1. Ông gầy và yếu ớt, hầu như chẳng thể đứng vững. Khuôn mặt màu nâu sáng trông cứng cáp hơn vì tuổi già, nứt nẻ nhưng vẫn mềm mại, như một đôi ủng đã sờn cũ. Mái tóc bạc của ông khuất dưới chiếc mũ màu đen giống hệt của Sonny.
“Ông ấy bị hoại tử ở chân”, Sonny nói, chỉ vào các ngón chân của Day, chúng tối màu hơn các bộ phận khác trên cơ thể và đầy những vết lở loét. “Chân ông ấy quá đau để đi giày thường”. Tình trạng hoại tử đã lan từ các ngón chân lên đầu gối. Bác sĩ của ông nói phải cắt bỏ các ngón chân, nhưng Day đã từ chối. Ông nói ông không muốn các bác sĩ cắt gọt cơ thể của ông như họ đã làm với Henrietta. Ở tuổi 52, Sonny cũng có suy nghĩ tương tự; các bác sĩ nói anh cần phẫu thuật nong mạch vành, nhưng anh thề sẽ không bao giờ đồng ý.
Day ngồi bên cạnh tôi, cặp kính râm màu nâu bằng nhựa che đôi mắt không ngừng nhỏ lệ.
“Bố”, Lawrence hét lên, “bố có biết các tế bào của mẹ sẽ giúp Stevie Wonder nhìn được không?”
Day lắc đầu từ tốn. “Không”, ông lẩm bẩm. “Đến giờ mới biết. Mặc dù tao cũng không lấy làm ngạc nhiên”.
Rồi có tiếng dậm chân thình thịch trên trần và tiếng loạch xoạch của một người đang đi đi lại lại. Lawrence nhảy khỏi bàn và đi vào bếp. “Vợ tôi là một con rồng lửa khi không có cà phê vào buổi sáng”, anh ấy nói. “Tôi phải đi pha cho bà ấy một tách”. Trong khi lúc đó đang là hai giờ chiều.
Vài phút sau, Bobbette Lacks bước xuống cầu thang, từ từ đi qua phòng khách, mặc một chiếc áo choàng bông màu xanh bạc màu. Mọi người ngừng trò chuyện trong lúc chị ấy đi ngang qua và bước vào bếp, nhưng chị không nói một lời, cũng không nhìn một ai.
Bobbette trông có vẻ là một người ồn ào đang cố giữ yên lặng, một người phụ nữ có tiếng cười hào sảng và cơn thịnh nộ chực bùng lên bất cứ lúc nào. Chị ấy đầy vẻ Đừng giỡn mặt với tôi, gương mặt nghiêm nghị và nhìn chằm chằm về phía trước. Chị ấy biết tại sao tôi có mặt ở đây, và có nhiều điều muốn nói, nhưng cực kỳ mệt mỏi trước ý nghĩ lại phải trò chuyện với một người da trắng muốn có thứ gì đó từ gia đình này.
Chị ấy biến mất vào căn bếp và Sonny nhét một mẩu giấy nhàu nát vào tay Day – một tờ giấy in bức hình của Henrietta với hai tay chống nạnh. Anh ấy chộp chiếc máy ghi âm của tôi từ giữa bàn, đưa cho Day, và nói: “Được rồi, cô Rebecca có một vài câu hỏi dành cho bố. Hãy nói với cô ấy những gì bố biết”.
Day nhận chiếc máy ghi âm từ tay Sonny và chẳng nói gì.
“Cô ấy chỉ muốn biết những điều Dale lúc nào cũng hỏi bố”, Sonny nói.
Tôi hỏi Sonny liệu ông có thể gọi Deborah đến, và những người đàn ông nhà Lacks lắc đầu, bật cười.
“Lúc này Dale không muốn nói chuyện với ai cả”, Sonny nói.
“Vì nó đã quá mệt mỏi”, Day cằn nhằn. “Họ không ngừng hỏi đủ thứ, và nó không ngừng trả lời, nhưng chẳng nhận lại được gì. Đến một cái bưu thiếp cũng không”.
“Phải”, Sonny đáp, “đúng vậy. Tất cả những gì họ muốn là biết mọi việc. Đó cũng là điều cô Rebecca muốn. Nên nói đi bố, làm cho xong chuyện”.
Nhưng Day không muốn nói về cuộc sống của Henrietta.
“Điều đầu tiên tôi được nghe là bà ấy bị ung thư”, Day nói, lặp lại câu chuyện mà ông đã nói hàng chục lần cho các phóng viên suốt nhiều năm, hầu như không sai một chữ. “Hopkins đã gọi cho tôi, nói hãy đến bệnh viện vì bà ấy đã chết. Họ xin tôi cho họ Henrietta và tôi từ chối. Tôi nói: ‘Tôi không biết các ông đã làm gì, nhưng các ông đã giết chết bà ấy. Đừng tiếp tục cắt xẻo bà ấy nữa’. Nhưng sau khi em họ tôi nói cũng chẳng có hại gì, tôi đã đồng ý”.
Day nghiến ba chiếc răng còn sót lại. “Tôi không ký giấy tờ gì hết”, ông ấy nói. “Tôi chỉ bảo họ rằng họ có thể làm giải phiễu. Chỉ thế thôi. Các bác sĩ chẳng nói thêm gì về việc giữ cho bà ấy còn sống trong ống nghiệm hay nuôi tế bào. Tất cả những gì họ nói là muốn làm giải phiễu để xem họ có thể giúp các con tôi hay không. Và tôi chỉ biết rằng: họ là bác sĩ, cô phải làm theo những gì họ nói. Tôi không hiểu biết bằng họ. Họ nói nếu tôi cho họ cơ thể của vợ tôi, họ có thể sử dụng chúng để nghiên cứu về ung thư và có thể giúp được con cháu tôi”.
“Phải!” – Sonny hét lên. “Họ nói nó sẽ có ích cho con cháu của ông ấy phòng khi chúng bị ung thư. Ông ấy có năm đứa con, ông ấy còn biết làm gì hơn?”
“Họ biết các tế bào ấy đang được nuôi dưỡng khi tôi đến đó gặp họ vào lúc bà ấy chết”, Day nói, và lắc đầu. “Nhưng họ chẳng nói gì với tôi. Họ chỉ hỏi liệu họ có thể mổ xẻ cơ thể của bà ấy để tìm hiểu về bệnh ung thư đó hay không”.
“Vậy bố trông chờ gì từ Hopkins?” – Bobbette hét lên từ trong bếp, nơi chị đang xem một chương trình phim truyền hình dài tập. “Tôi thậm chí sẽ không đến đó để cắt móng chân”.
“Ừm hừm”, Day hét lại, dậm chiếc gậy màu bạc xuống sàn như một dấu chấm than.
“Hồi ấy họ làm đủ trò”, Sonny nói. “Nhất là với những người da đen. John Hopkins nổi tiếng với những thí nghiệm ở người da đen. Họ bắt cóc người da đen trên đường…”
“Đúng vậy!” – Bobbette nói, xuất hiện trước cửa nhà bếp với cốc cà phê của mình. “Ai cũng biết điều đó”.
“Họ ngang nhiên bắt cóc người da đen trên đường”, Sonny nói.
“Bắt cóc người da đen!” – Bobbette hét, ngày càng lớn giọng.
“Làm các thí nghiệm trên người họ!” – Sonny hét.
“Cô sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu biết có bao nhiêu người bị mất tích ở Đông Baltimore khi tôi còn là một đứa trẻ”, Bobbette nói và lắc đầu. “Để tôi nói cho cô biết, tôi đã sống ở đây vào những năm 1950 khi họ giữ Henrietta, và chúng tôi không được phép lại gần Hopkins. Hồi còn nhỏ, chúng tôi phải đề phòng khi trời tối, bằng không Hopkins sẽ bắt chúng tôi”.
Nhà Lacks không phải là những người duy nhất được nghe đồn rằng Hopkins và các bệnh viện khác thường bắt cóc người da đen. Từ những năm 1800, lịch sử truyền miệng của cộng đồng người da đen đã chứa đầy những câu chuyện về “các bác sĩ bóng đêm” bắt cóc người da đen để làm thí nghiệm. Và có một phần sự thật đáng ghê sợ đằng sau những câu chuyện ấy.
Một số câu chuyện được dựng lên bởi các chủ đồn điền người da trắng, họ lợi dụng tín ngưỡng lâu đời của người châu Phi về những hồn ma gây bệnh và cái chết. Để ngăn ngừa nô lệ bỏ trốn hay tụ họp vào ban đêm, các chủ nô đã thêu dệt những câu chuyện về các thí nghiệm đáng sợ được thực hiện với người da đen, rồi trùm ga trải giường màu trắng lên người và lượn lờ trong đêm, giả làm các bóng ma đi phát tán bệnh tật hoặc bắt cóc họ để làm thí nghiệm. Những tấm ga trải giường màu trắng đó đã truyền cảm hứng cho việc sử dụng áo choàng trắng có mũ đội đầu của Ku Klux Klan.
Nhưng các bác sĩ bóng đêm không chỉ là những nhân vật hư cấu được dựng lên như một trò dọa nạt. Nhiều bác sĩ đã lấy nô lệ ra thử nghiệm thuốc và giải phẫu để phát triển các kỹ thuật mổ mới, thường là không có thuốc gây mê. Nỗi sợ các bác sĩ bóng đêm chỉ gia tăng ở đầu những năm 1900 khi người da đen di cư về phía Bắc tới Washington, DC. và Baltimore, và tin tức được lan truyền rằng các trường y đang ngã giá mua thi thể. Những cái xác của người da đen liên tục bị đào lên để bán cho các nghiên cứu, và một chợ đen bán thi thể người da đen cho các lớp giải phẫu học ở các trường đại học phía Bắc được hình thành với nguồn cung từ phía Nam. Các thi thể thường được chuyển đến – mỗi lần hơn chục cái – trong những cái thùng ghi nhựa thông.
Vì lịch sử đó nên những người da đen gần Hopkins từ lâu đã tin rằng các bệnh viện được xây giữa khu dân cư của người da đen nghèo vì lợi ích của các nhà khoa học – để cho họ dễ tiếp cận với các đối tượng nghiên cứu tiềm năng. Thực chất, nó được xây vì lợi ích của những người dân nghèo ở Baltimore.
Johns Hopkins được sinh ra ở đồn điền thuốc lá tại Maryland, nơi về sau cha ông đã giải phóng các nô lệ của mình 60 năm trước ngày Giải phóng Nô lệ. Ông đã kiếm được hàng triệu đô nhờ công việc ở ngân hàng và kinh doanh tạp hóa, bán rượu whiskey của riêng mình. Ông chưa từng kết hôn và không có con. Do đó vào năm 1873, không lâu trước khi qua đời, ông đã hiến tặng 7 triệu đô để thành lập một trường y và bệnh viện thiện nguyện. Ông đã viết một lá thư gửi 12 người mà ông chọn làm ban quản trị, nêu rõ nguyện vọng của mình. Trong thư, ông giải thích rằng mục đích của Bệnh viện Hopkins là giúp đỡ những người không đủ tiền để chữa trị ở bất kỳ nơi nào khác:
Các bệnh nhân nghèo trong thành phố và những vùng lân cận, bất kể giới tính, tuổi tác, màu da, những người cần được điều trị và phẫu thuật, những người có thể đến bệnh viện mà không gây nguy hiểm cho các bệnh nhân khác, những người nghèo ở thành phố cũng như trên cả nước, những người gặp tai ương, đều được nhận vào bệnh viện này mà không cần trả viện phí.
Ông đặc biệt nói rõ rằng những bệnh nhân duy nhất phải trả tiền là những người có thể dễ dàng chi trả, và mọi nguồn thu họ mang đến đều được dùng để chữa trị cho những người không đủ sức chi trả. Ông cũng để dành thêm tài sản 2 triệu đô, và 20 nghìn đô tiền mặt mỗi năm để giúp đỡ các trẻ em da đen.
Từ nay về sau, đây sẽ là nhiệm vụ của các ngài để cung cấp... những khu nhà thích hợp nhằm thu nhận, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em da màu mồ côi. Tôi yêu cầu các ngài cung cấp nơi ăn ở cho ba đến bốn trăm trẻ em thuộc tầng lớp này; các ngài cũng được quyền để nhận những trẻ em da màu bị mồ côi cha hoặc mẹ, do các ngài tùy ý lựa chọn, và trong một số trường hợp đặc biệt, hãy nhận cả những trẻ em da màu không mồ côi nhưng có hoàn cảnh đặc biệt cần đến sự trợ giúp từ thiện.
Hopkins đã qua đời không lâu sau khi viết lá thư đó. Ban quản trị mà ông đã chọn – nhiều trong số họ là bạn bè và gia đình – đã tạo ra một trong những trường y khoa hàng đầu của cả nước, với các khu bệnh công dành hàng triệu đô để chữa trị miễn phí cho người nghèo, phần lớn trong số đó là người da đen.
Nhưng lịch sử của Hopkins không hoàn toàn trong sạch khi có liên quan đến các bệnh nhân da đen. Năm 1969, một nhà nghiên cứu ở Hopkins đã sử dụng các mẫu máu của hơn 7.000 trẻ em gần đó – đa phần thuộc những gia đình da đen nghèo – để tìm hiểu về xu hướng di truyền các hành vi tội phạm. Nhà nghiên cứu ấy đã không xin phép bệnh nhân. Liên đoàn Tự do Dân quyền Hoa Kỳ đã đệ đơn kiện, nói nghiên cứu này vi phạm quyền công dân của lũ trẻ và làm trái quy định bảo mật thông tin giữa bác sĩ-bệnh nhân bằng việc công khai kết quả với nhà nước và tòa án thanh thiếu niên. Nghiên cứu này đã bị tạm hoãn, nhưng tiếp tục trở lại vài tháng sau đó khi đã có sự chấp thuận của bệnh nhân.
Cuối những năm 1990, hai người phụ nữ đã kiện Hopkins, nói các nhà nghiên cứu của bệnh viện đã để con cái của họ tiếp xúc với chì một cách có chủ đích, và không thông báo ngay với họ khi kết quả xét nghiệm máu của bọn trẻ cho thấy hàm lượng chì trong máu đã tăng lên, ngay cả khi một trong số chúng đã bị ngộ độc chì. Đây là một phần của thí nghiệm kiểm tra các phương pháp khử chì, và tất cả các gia đình có liên quan đều là người da đen. Các nhà nghiên cứu đã xử lý nhiều căn nhà theo các cấp độ khác nhau, rồi khuyến khích chủ nhà cho những gia đình có trẻ em thuê để họ có thể theo dõi nồng độ chì trong người chúng. Ban đầu, vụ kiện bị bãi bỏ. Trong tòa phúc thẩm, một vị quan tòa đã so sánh nghiên cứu này với vụ tiêm HeLa của Southam, nghiên cứu Tuskegee, và các nghiên cứu của Đức Quốc xã, rồi cuối cùng vụ kiện được hai bên tự dàn xếp[3]. Bộ Y tế và Dịch vụ Nhân sinh đã tiến hành điều tra và kết luận rằng bản chấp thuận mà nghiên cứu này đã sử dụng “không cung cấp đầy đủ chi tiết” về nghiên cứu.
Nhưng khi người ta nói về lịch sử mối quan hệ giữa Hopkins và cộng đồng người da đen, câu chuyện tồi tệ nhất mà họ thường nhắc đến là về Henrietta Lacks – mà theo lời họ là người phụ nữ đa đen đã bị lợi dụng bởi các nhà nghiên cứu da trắng.
Ngồi trong phòng khách của Lawrence, Sonny và Bobbette hét qua hét lại suốt một tiếng trời về chuyện Hopkins đã bắt cóc người da đen. Cuối cùng, Sonny ngả lưng xuống ghế và nói: “John Hopkin chẳng cho chúng tôi biết thông tin gì cả. Đó là phần tội tệ nhất. Không phải phần đáng buồn nhất, mà là tồi tệ nhất, vì tôi không biết liệu họ không cho chúng tôi biết vì họ đang thu được lợi nhuận từ nó, hay chỉ là họ muốn che giấu không cho chúng tôi biết. Tôi nghĩ họ đang thu lợi từ nó, vì họ đang bán các tế bào của bà trên khắp thế giới”.
“Hopkins nói họ đã cho không số tế bào đó”, Lawrence hét lên, “nhưng họ đã kiếm được hàng triệu đô! Thật không công bằng. Bà là người quan trọng nhất trên thế giới vậy mà gia đình của bà đang phải sống trong cảnh nghèo túng. Nếu mẹ tôi thực sự quan trọng với nền khoa học đến như vậy, tại sao chúng tôi thậm chí không có bảo hiểm y tế?”
Day bị ung thư tuyến tiền liệt và nhiễm độc amiăng phổi. Sonny có bệnh tim, và Deborah bị viêm khớp, loãng xương, bị điếc, trầm cảm và mắc chứng lo âu. Với tất cả những bệnh đó, cộng thêm toàn bộ gia đình bị huyết áp cao và tiểu đường, nên cả nhà Lacks nghĩ họ đang ủng hộ ngành dược, và một số bác sĩ. Nhưng bảo hiểm của họ lúc có lúc không. Một số người được bảo hiểm Medicare[4], số khác hưởng bảo hiểm theo vợ chồng nhưng thất thường. Chủ yếu họ không được bảo hiểm hoặc không có tiền để điều trị.
Trong lúc những người đàn ông nhà Lacks nói về Hopkins và bảo hiểm, Bobbette cười khẩy trong khinh bỉ và bước lại gần ghế nằm của mình ở phòng khách. “Huyết áp của tôi lên cao nhưng tôi sẽ không chết vì chuyện này”. Chị ấy nói chuyện này chẳng đáng để đau đầu. Nhưng vẫn không thể ngăn mình khỏi tức giận. “Ai cũng biết người da đen biến mất vì Hopkins đang làm những thí nghiệm trên cơ thể họ!” – chị ấy hét lớn. “Tôi tin phần lớn điều đó là sự thật”.
“Có lẽ vậy”, Sonny nói. “Cũng có thể phần lớn chỉ là chuyện hoang tưởng. Chẳng có cách nào để biết chính xác. Nhưng có một điều chúng tôi biết chắc, các tế bào của mẹ tôi không phải là chuyện thần thoại”.
Day lại gõ gậy xuống sàn.
“Cô có biết chuyện gì là hoang đường không?” – Bobbette gắt gỏng nói từ ghế nằm. “Mọi người bảo Henrietta Lacks đã hiến tặng các tế bào đó. Bà ấy chẳng hiến tặng thứ gì cả. Họ đã lấy chúng mà không thèm hỏi”. Chị ấy thở sâu để giữ bình tĩnh. “Henrietta sẽ thực sự nổi nóng nếu được biết tiến sĩ Gey đã không nói một lời với gia đình bà – chúng tôi chẳng biết gì về các tế bào đó và ông ta cũng chẳng thèm bận tâm. Họ chọc cho chúng tôi điên tiết. Tôi không ngừng hỏi mọi người: ‘Tại sao họ không nói gì với gia đình tôi?’ Họ biết phải liên hệ với chúng tôi bằng cách nào! Nếu tiến sĩ Gey chưa chết, tôi nghĩ tôi sẽ giết ông ta”.
❀ ❀ ❀
[1] Một từ phổ biến ở Hawai, dùng để chỉ người quan trọng.
[2] Stevie Wonder là một ca nhạc sĩ và nhà sản xuất âm nhạc da màu nổi tiếng, ông bị mù do mắc bệnh lý võng mạc ở trẻ sinh non.
[3] Thường là bên bị kiện sẽ trả khoản tiền bồi thường để bên nguyên đơn rút đơn kiện.
[4] Medicare là chương trình bảo hiểm liên bang dành cho người trên 65 tuổi hoặc bị tàn tật.