35
Gột rửa linh hồnĐến cuối ngày hôm đó, mề đay đã lan khắp lưng Deborah, hai má của cô nổi mẩn và đỏ lựng, những vết hằn dài chạy dọc dưới hai bên mắt. Mí mắt sưng mọng và bóng như thể được phủ bằng phấn mắt màu đỏ như máu. Tôi hỏi đi hỏi lại rằng liệu cô ấy có ổn hay không và bảo có lẽ chúng tôi nên dừng ở đâu đó để cô ấy có thể gặp bác sĩ. Nhưng cô ấy chỉ cười.
“Chuyện này vẫn xảy ra suốt”, cô ấy nói. “Tôi ổn. Tôi chỉ cần một chút Benadryl[1]”. Cô ấy đã mua một chai và để trong túi, đã uống từ sáng đến giờ. Đến trưa, cô đã dùng hết một phần ba lọ thuốc.
Khi đến Clover, chúng tôi đi dọc con sông, qua Phố Chính, và qua ruộng thuốc lá của Henrietta. Khi ghé Nhà Chung, Deborah nói với tôi: “Tôi muốn chụp ảnh ở đây với chị gái”.
Cô đứng trước ngôi nhà, xoay cả hai bức ảnh của Elsie về phía tôi, và ôm chặt chúng trước ngực. Cô bảo tôi chụp ảnh cho cô và Elsie ở gốc cây từng là cây sồi ưa thích của Henrietta và trước bia mộ của bà Eliza – mẹ của Henrietta. Rồi cô quỳ xuống mặt đất, bên cạnh những cái hố mà cô hình dung mẹ và chị cô được chôn bên dưới: “Chụp cho tôi một bức ảnh cùng Elsie ở mộ của chị ấy và mẹ nhé”, cô ấy nói. “Đây sẽ là bức ảnh chụp chung duy nhất của cả ba chúng tôi trên đời”.
Cuối cùng chúng tôi đến nhà chị gái của Henrietta, Gladys, một căn lán nhỏ màu vàng với những cái ghế bập bênh ngoài hiên. Bên trong, chúng tôi thấy Gladys đang ngồi trong phong khách lát ván gỗ tối tăm. Ngoài trời khá ấm, thời tiết này bạn có thể mặc áo len mỏng, nhưng Gladys đang để lò sưởi bằng gỗ và rộng gấp đôi tiêu chuẩn thông thường, bà ngồi bên cạnh và dùng khăn giấy để lau mồ hôi trên trán. Tay và chân của bà xương xẩu vì bị viêm khớp, lưng còng đến nỗi ngực gần chạm đầu gối trừ phi bà dùng khuỷu tay đỡ người dậy. Bà không mặc quần lót mà chỉ mặc một lớp áo ngủ mỏng tang co lên quá eo vì hàng giờ ngồi trên ghế.
Bà tìm cách kéo thẳng áo ngủ để che người khi chúng tôi bước vào, nhưng tay bà không thể nắm lấy chúng. Deborah kéo nó xuống cho bà và hỏi: “Mọi người đâu?” Gladys chẳng nói gì. Ở phòng bên cạnh, chồng của bà rên rỉ trên giường bệnh, chỉ còn sống được vài ngày nữa.
“Ồ, đúng rồi”, Deborah nói. “Họ đang đi làm phải không?”
Gladys chẳng nói gì, nên Deborah nói lớn hơn để chắc rằng Gladys có thể nghe thấy: “Cháu đã lắp mạng Internet!” – cô ấy thét. “Cháu sẽ lập một trang web về mẹ và hy vọng sẽ nhận được một số tiền quyên góp để có thể về đây và lập đài tưởng niệm trên mộ của mẹ cháu, và biến căn Nhà Chung cũ kỹ thành viện bảo tàng để gợi nhớ cho mọi người về mẹ cháu ở thị trấn này!”
“Cháu sẽ đặt gì ở đó?” Gladys hỏi, như thể Deborah đã phát điên.
“Tế bào”, Deborah nói. “Tế bào để mọi người có thể thấy mẹ cháu nhân đôi”.
Cô ấy suy nghĩ trong giây lát. “Và một bức ảnh tuyệt đẹp của bà, có thể một bức tượng sáp nữa. Thêm một số quần áo, giày dép cũ. Tất cả đều có ý nghĩa to lớn”.
Bỗng nhiên cửa chính mở ra và con trai của Gladys, Gary, bước vào, hét lớn: “Chào em họ!” Gary khoảng 50 tuổi, với nước da láng mịn đặc trưng của dòng họ Lacks, bộ ria mép mỏng và khe hở giữa răng mà các chị em rất thích. Anh ấy mặc chiếc áo bóng bầu dục ngắn tay màu đỏ và xanh đồng bộ với quần jean và giày thể thao.
Deborah rít lên, quàng tay qua cổ Gary, và lôi tấm ảnh của Elsie ra khỏi túi. “Nhìn xem em đã tìm được gì ở Crownsville này! Là chị gái em!” Gary thôi cười và cầm bức ảnh.
“Đó là một bức ảnh tồi”, Deborah nói.
“Chị ấy đang khóc vì lạnh”.
“Sao cô không cho anh ấy xem bức ảnh của Elsie đang ngồi dưới mái hiên khi còn là một đứa trẻ?” – tôi nói. “Đó là một bức ảnh đẹp”. Gary nhìn tôi như thể, Chuyện quái quỷ gì đang diễn ra vậy?
“Bức ảnh ấy khiến Deborah hơi bực bội”, tôi nói.
“Tôi có thể hiểu vì sao”, anh ấy thì thầm.
“Chưa kể cô ấy vừa nhìn thấy các tế bào của mẹ cô ấy lần đầu tiên”, tôi nói thêm.
Gary gật đầu. Những năm qua, tôi và anh ấy đã dành nhiều giờ đồng hồ để nói chuyện; anh ấy hiểu Deborah và những gì mà cô ấy phải trải qua hơn bất kỳ ai trong gia đình.
Deborah chỉ vào các nốt mề đay trên mặt. “Em bị dị ứng, sưng vù và nổi mẩn. Em vừa khóc, vừa cảm thấy vui”. Cô ấy bắt đầu đi đi lại lại, gương mặt bóng lên vì mồ hôi trong lúc lò sưởi kêu tanh tách và có vẻ đang hút hết ôxy trong phòng. “Tất cả những điều bọn em đang khám phá”, cô ấy nói, “khiến em nhận ra mình thực sự có mẹ, và biết được tất cả những bi kịch mà bà phải trải qua. Không dễ chịu, nhưng em muốn biết nhiều hơn, cũng như em muốn biết nhiều hơn về chị Elsie. Nó khiến em cảm thấy gần gũi với họ hơn, nhưng em nhớ họ. Ước gì họ ở đây”.
Mắt vẫn nhìn vào Deborah, Gary băng qua căn phòng, ngồi xuống chiếc ghế tựa quá khổ, và vẫy tay bảo chúng tôi lại gần. Nhưng Deborah không ngồi. Cô ấy đi lại trên sàn nhà lót vải sơn, cạy lớp sơn móng tay màu đỏ và nói liến thoắng một cách rời rạc về vụ giết người mà cô được nghe trên đài và tình trạng giao thông ở Atlanta. Gary nhìn theo Deborah từ phía này sang phía khác của căn phòng, chăm chú và không chớp mắt.
“Em họ”, cuối cùng anh ấy nói. “Ngồi đi”.
Deborah chạy lại chiếc ghế bập bênh gần Gary, thả mình xuống đó, rồi lắc lư, đẩy mạnh thân trên, đá chân như thể cô đang tìm cách lật ngược chiếc ghế.
“Anh sẽ không thể tin bọn em đã tìm hiểu được những gì đâu!” cô ấy nói. “Họ đã tiêm vào các tế bào của mẹ em đủ loại, ừm, chất độc, và đủ thứ khác để xem chúng có gây chết người hay không”.
“Dale”, Gary nói, “hãy làm gì đó cho bản thân”.
“Ừ, em đang cố”, cô ấy nói. “Anh có biết họ đã tiêm các tế bào của bà vào những tên sát nhân trong tù không?”
“Ý anh là hãy thư giãn đi”, Gary nói. “Hãy làm gì đó để thư giãn”.
“Em không thể ngừng được”, Deborah nói, xua tay với Gary. “Lúc nào em cũng lo lắng”.
“Giống như Kinh Thánh nói”, Gary thì thầm, “con người không mang gì đến thế giới này và sẽ không mang theo thứ gì. Đôi khi chúng ta quan tâm đến quá nhiều thứ. Chúng ta lo lắng khi không có gì phải lo lắng”.
Trong khoảnh khắc minh mẫn, Deborah gật đầu: “Và chúng ta làm tổn hại cơ thể mình khi làm thế”.
“Trông em không được khỏe, em họ ạ. Hãy dành chút thời gian cho bản thân”, Gary nói. “Khi anh ngồi lên xe và đi dạo, không cần phải có đích đến, chỉ cần đi lòng vòng. Chỉ cần có thời gian để thư giãn với con đường ở dưới chân. Ai cũng cần một thứ như vậy”.
“Nếu có tiền”, Deborah nói, “em sẽ mua một chiếc RV để có thể đi lại và không bao giờ phải ở một chỗ nữa. Không bị ai làm phiền nữa”.
Cô đứng dậy và lại bắt đầu đi vòng quanh.
“Chỉ khi lái xe xuống đây em mới cảm thấy thư giãn”, cô ấy nói. “Nhưng lần này em cứ không ngừng nghĩ về những chuyện đã xảy ra với mẹ và chị gái của em”.
Ngay khi Deborah nói “chị gái” và “mẹ”, mặt cô lại đỏ hơn và cô bắt đầu hoảng loạn. “Anh có biết họ đã bắn tế bào của mẹ em vào vũ trụ, khiến bà nổ tung cùng những quả bom nguyên tử? Họ thậm chí còn làm cái thứ... thứ mà họ gọi là gì ấy nhỉ... ừm... nhân bản vô tính!... đúng vậy, họ đã nhân bản mẹ em”.
Gary và tôi ném cho nhau một cái nhìn lo lắng rồi cùng lên tiếng, tìm cách giữ cô lại.
“Không có nhân bản nào cả”, tôi nói. “Nhớ chứ?”
“Em không cần phải sợ”, Gary nói. “Chúa đã nói nếu chúng ta nhớ đến tổ tiên mình, chúng ta có thể sống lâu dài trên mặt đất, và em đang làm vậy, em đang tưởng nhớ mẹ”. Anh ấy mỉm cười và nhắm mắt. “Anh rất thích lời trích dẫn này trong Thánh Vịnh”, anh ấy nói. “Nó viết rằng ngay cả khi cha mẹ chúng ta đổ bệnh, Chúa vẫn che chở cho chúng ta. Ngay cả khi em mất tất cả mọi người như mẹ và chị gái em, thì tình yêu của Chúa cũng sẽ không bao giờ quay lưng lại với em”.
Nhưng Deborah không nghe bất cứ lời nào.
“Anh sẽ không thể tin nổi đâu”, cô ấy nói. “Anh có biết họ đã trộn lẫn tế bào của bà với chuột để tạo ra chuột-người? Họ nói thậm chí bà không còn là người nữa!” Cô ấy cười lớn, một nụ cười điên dại, rồi chạy đến bên cửa sổ. “Quỷ tha ma bắt!” cô ấy hét lên, “trời đang mưa ư?”
“Một cơn mưa cần thiết”, Gary thì thầm, lắc lư trên ghế.
Deborah chộp lấy cái móc chìa khóa màu xanh luôn đeo trên cổ. Nó viết WWJD[2]. “Cái gì đây”, cô ấy nói “tên của đài phát thanh ư? Em chưa từng nghe nói đến WWJD”. Cô ấy giật nó khỏi cổ.
“Thôi nào, em họ, đó là ‘Chúa Sẽ Làm Gì,’ ” Gary nói. “Em biết điều đó mà”.
Deborah thôi gây chuyện với cái móc chìa khóa và ngồi phịch xuống ghế. “Anh có thể tin được rằng họ đã tiêm virus AID[3] vào bà, tiêm bà vào những con khỉ hay không?” Cô ấy nhìn chằm chằm xuống sàn, lắc lư dữ dội, ngực phập phồng theo từng hơi thở.
Gary bình tĩnh ngồi lắc lư trên ghế, theo dõi từng cử động của Deborah, như một bác sĩ đang quan sát bệnh nhân. “Đừng khiến mình đổ bệnh vì những việc không thể thay đổi”, Gary thì thầm với Deborah trong lúc cô dụi những vết mẩn đỏ quanh mắt. “Không đáng đâu... cứ để mặc cho Chúa giải quyết”. Anh nhắm mắt lại trong lúc nói: “Deborah đang làm gì cho Deborah?”
Khi cô ấy không trả lời, anh nhìn tôi và nói: “Tôi mới vừa nói chuyện với Chúa – Ngài đang cố bảo tôi nói điều này điều kia, đang cố bảo tôi di chuyển”. Deborah gọi Gary là Tông Đồ của Jesus vì anh ấy có thói quen triệu hồi Chúa giữa cuộc trò chuyện. Nó bắt đầu 20 năm trước, khi anh ấy đang ở tuổi 30 – một phút trước anh ấy còn bận bầu bạn với rượu và phụ nữ, phút sau anh ấy đã bị nhồi máu cơ tim vài lần và phải phẫu thuật bắc cầu mạch vành. Anh ấy tỉnh lại và trở thành một người thuyết giáo.
“Tôi đã tìm cách đẩy Ngài ra khỏi cơ thể này vì chúng ta có khách”, anh ấy nói, nhoẻn miệng cười rạng rỡ với tôi. “Nhưng đôi lúc Ngài không chịu để tôi đẩy Ngài ra”.
Cặp mắt nâu của Gary bỗng trở nên mơ hồ, không tập trung, trong lúc anh chậm rãi đứng dậy, tay dang rộng, và với về phía Deborah, người đang lảo đảo đứng dậy, tập tễnh bước lại gần và quàng tay qua eo Gary. Khoảnh khắc cô chạm vào anh ấy, thân trên của anh run rẩy như thể anh vừa bị điện giật. Hai tay anh siết chặt, bàn tay ôm lấy hai bên đầu của Deborah, lòng bàn tay đặt dưới cằm, ngón tay xòe ra chạm sau đầu và sống mũi của cô. Rồi anh ấy bắt đầu lắc lư. Anh ấy ép mặt của Deborah vào ngực trong lúc hai vai cô rung lên giữa tiếng thổn thức, nước mắt lăn xuống từ khuôn mặt Gary.
Trong lúc họ run rẩy, Gary ngửa cổ lên trời và bắt đầu hát bằng giọng nam trung ám ảnh tuyệt vời.
“Chào mừng, đến với nơi này... Chào mừng, đến với thể xác vụn vỡ này”, anh ấy hát, ban đầu khe khẽ, rồi lớn dần sau từng tiếng cho đến khi nó vang vọng khắp căn nhà và bay ra cả những cánh đồng thuốc lá. “Ngài muốn được sống mãi trong những lời tán tụng của người của mình, nên con nhấc đôi tay này, con nhấc trái tim này, và con nguyện dâng lời tán tụng này tới người, hỡi Chúa nhân từ”.
“Chào mừng ngài đến với thể xác vụn vỡ này, Chúa nhân từ”, anh ấy thì thầm, ôm chặt đầu Deborah trong lòng bàn tay mình. Mắt anh ấy chớp liên tục, và anh bắt đầu thuyết giảng trong khi mồ hôi túa ra từ mặt.
“Thưa Chúa, Ngài đã từng nói rằng Tín Đồ sẽ giúp những người bệnh, và họ sẽ PHỤC HỒI!” Giọng anh ấy lúc trầm lúc bổng, lúc nhỏ nhẹ như một lời thì thầm, lúc rền vang. “Con BIẾT, hỡi Chúa trời, rằng ĐÊM NAY, có một số điều cả bác sĩ CŨNG CHẲNG THỂ LÀM ĐƯỢC GÌ!”
“Amen”, Deborah thì thầm, mặt úp vào ngực Gary, giọng nghẹt lại.
“Đêm nay chúng con tạ ơn Ngài”, Gary thì thầm. “Vì chúng con cần Ngài giúp đỡ với những TẾ BÀO đó... chúng con cần Ngài gỡ bỏ gánh nặng về các tế bào khỏi người phụ nữ này! Gỡ bỏ gánh nặng, hỡi Chúa, hãy mang nó đi, chúng con không CẦN nó!”
Deborah bắt đầu co giật trong tay Gary, thút thít và thì thầm: “Tạ ơn Chúa... Tạ ơn Chúa”. Gary nhắm chặt mắt, và hét cùng với cô: “TẠ ƠN CHÚA! TẠ ƠN CHÚA VÌ ĐÊM NAY!” Giọng họ ngày càng lớn hơn, cho đến khi Gary dừng lại, mồ hôi và nước mắt rớt từ mặt Gary xuống Deborah, trong lúc cô gào lên: “Tạ ơn Chúa!” và thư giãn trong tiếng hallelujah cùng những lời tán tụng Chúa. Gary đung đưa qua lại, rồi tiếp tục cất tiếng hát, giọng của anh trầm và già nua, như thể nó đến từ thế hệ những người làm việc trên những cánh đồng thuốc lá trước khi anh ra đời: “Con biết Chúa đã rất nhân từ... Con biết Chúa đã rất nhân từ”.
“Rất nhân từ”, Deborah thì thầm.
“Ngài đã đặt thức ăn lên bàn của chúng con...” Gary hạ giọng, ngân nga trong lúc Deborah nói: “Chúa hãy chỉ cho con lối đi. Hãy chỉ cho con Ngài muốn con phải làm gì với những tế bào đó, hỡi Chúa, hãy giúp con. Con sẽ làm tất cả những gì Ngài muốn, Chúa, hãy giúp con với gánh nặng này. Con không thể làm một mình – con đã nghĩ mình có thể. Nhưng con không thể, hỡi Chúa”.
Hừm, hừm, hừm, Gary ngân nga.
“Cảm ơn Chúa vì đã cho con thông tin này về mẹ và chị gái của con, nhưng hãy giúp con, vì con biết mình không thể tự gánh vác gánh nặng này. Hãy mang các tế bào đó khỏi con, Chúa, hãy mang đi gánh nặng này. Hãy lấy nó và để mặc nó! Con không thể chịu thêm được nữa, Chúa. Ngài đã muốn con đưa nó cho Ngài, nhưng con không chịu. Giờ thì Ngài có thể lấy nó! Hallelujah, amen”.
Lần đầu tiên kể từ khi đứng dậy, Gary mở mắt và nhìn thẳng vào tôi. Tôi đã chứng kiến tất cả những chuyện này từ chiếc ghế tựa chỉ cách đó vài thước, và chết lặng, sợ không dám di chuyển hay gây tiếng động, điên cuồng ghi chép. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào khác, tôi sẽ nghĩ chuyện này thật điên rồ. Nhưng những việc đang diễn ra với Gary và Deborah tại khoảnh khắc đó là những gì ít điên rồ nhất mà tôi được chứng kiến suốt cả ngày. Trong lúc quan sát, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là: Ôi Chúa ơi... Tại mình mà cô ấy ra thế này.
Gary nhìn chằm chằm vào mắt tôi trong lúc ôm cơ thể đang run rẩy của Deborah và thì thầm với cô ấy: “Em không đơn độc”.
Vẫn nhìn vào tôi, Gary nói: “Cô ấy không thể đương đầu với gánh nặng về những tế bào ấy nữa, Chúa ơi! Cô ấy không thể!” Rồi anh giơ tay lên quá đầu Deborah và hét: “CHÚA, CON BIẾT ngài đã cử cô Rebecca đến để GIÚP MANG GÁNH NẶNG về NHỮNG TẾ BÀO đi!” Anh ấy xòe tay về phía tôi, chỉ thẳng vào hai bên đầu. “ĐƯA CHÚNG CHO CÔ ẤY!” Gary hét. “ĐỂ CÔ ẤY MANG CHÚNG THEO”.
Tôi ngồi chết lặng, nhìn chằm chằm vào Gary, nghĩ, Đợi chút đã, chuyện này không nằm trong kế hoạch!
Deborah lùi khỏi Gary, lắc đầu, lau mắt, và hét lên: “Phù!” Họ cùng phá lên cười. “Cảm ơn anh họ”, cô ấy nói, “em cảm thấy thật nhẹ nhõm!”
“Có một số việc cần được giải phóng”, Gary nói. “Em càng đè nén, nó càng trở nên tồi tệ. Khi em giải phóng chúng, chúng sẽ đi nơi khác. Kinh Thánh đã nói Ngài có thể hứng đỡ mọi gánh nặng”.
Cô với tay lên và chạm vào mặt Gary. “Anh luôn biết em cần gì. Anh biết cách chăm sóc cho em”.
“Không phải anh biết, mà là Ngài biết”, Gary nói, mỉm cười. “Anh không hề biết tất cả những điều thốt ra từ miệng anh. Là Chúa đã nói chuyện với em”.
“Hallelujah”, Deborah nói, cười khúc khích. “Mai em sẽ lại ghé qua để làm việc này! Amen!”
Trời đã mưa phùn suốt nhiều giờ đồng hồ, rồi bỗng nhiên mưa như trút nước xuống mái tôn và chuyển thành mưa đá, gây ra tiếng động như những tiếng vỗ tay. Ba người chúng tôi bước ra cửa chính để đứng nhìn.
“Là Chúa đang nói Ngài đã nghe thấy chúng ta”, Gary nói, miệng mỉm cười. “Ngài đã trút mưa xuống để tẩy trần cho em, em họ ạ”.
“Tạ ơn Chúa!” Deborah hét lên.
Gary ôm tạm biệt Deborah, rồi ôm tôi. Deborah lấy chiếc áo mưa dài màu đen, mở rộng, rồi nâng lên quá đầu như một chiếc ô, gật đầu bảo tôi hãy bước vào. Cô để áo mưa rớt xuống đầu chúng tôi, rồi quàng tay qua vai tôi siết chặt.
“Cô đã sẵn sàng để được tẩy trần chưa?” – cô ấy hét, rồi mở cửa.
❀ ❀ ❀
[1] Benadryl: một loại thuốc có tác dụng làm giảm các triệu chứng của dị ứng.
[2] WWJD: What Would Jesus Do?
[3] Có lẽ ý Deborah muốn nói là virus HIV gây bệnh AIDS.