Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
9. Turner Station

❊ ❊ ❊

9

Turner Station

Vài ngày sau cuộc trò chuyện đầu tiên của tôi với Day, tôi lái xe từ Pittsburgh đến Baltimore để gặp con trai ông, David “Sonny” Lacks Jr. Cuối cùng anh ta cũng gọi lại cho tôi và đồng ý gặp, nói rằng anh ta đã phát mệt vì số điện thoại của tôi không ngừng xuất hiện trong máy nhắn tin của anh ta. Lúc ấy tôi không biết rằng anh ta đã gọi năm cuộc điện thoại cho Pattillo trong cơn hoảng loạn, hỏi đủ thứ về tôi trước khi quyết định trả lời.

Kế hoạch là tôi sẽ nhắn cho Sonny khi đến Baltimore. Rồi anh ta sẽ đến đón và đưa tôi tới nhà anh trai, Lawrence, để gặp cha của họ, và – nếu tôi may mắn – sẽ gặp cả Deborah. Bởi vậy tôi đã thuê phòng ở Holiday Inn trong thị trấn, ngồi xuống giường, đặt điện thoại trên đùi, và bấm số của Sonny. Không có ai trả lời.

Tôi nhìn chằm chằm qua cửa sổ phòng khách sạn vào một tòa tháp cao bằng gạch kiểu Gothic bên kia đường với một chiếc đồng hồ lớn ở trên đỉnh. Nó được làm bằng bạc đã xỉn vì thời tiết, với những chữ cái lớn, B-R-O-M-O-S-E-L-T-Z-E-R tạo thành một vòng tròn quanh mặt. Tôi nhìn kim đồng hồ dịch chuyển chậm rãi qua các chữ cái, cứ vài phút lại nhắn cho Sonny, và đợi điện thoại đổ chuông.

Cuối cùng tôi chộp lấy cuốn danh bạ điện thoại Baltimore dày cộp, mở vần L, và lướt ngón tay dọc hàng dài những cái tên: Annette Lacks... Charles Lacks... Tôi đã nghĩ tôi sẽ gọi cho tất cả những người tên Lacks trong cuốn danh bạ và hỏi họ có biết Henrietta hay không. Nhưng tôi không có điện thoại di động và không muốn điện thoại bàn bị bận[1] nên tôi lại nhắn tin cho Sonny, rồi nằm xuống giường, điện thoại và cuốn danh bạ vẫn đặt trên đùi. Tôi đọc lại bản sao đã ố vàng của bài báo về gia đình Lacks trên tờ Rolling Stone năm 1976, được viết bởi Michael Rogers – phóng viên đầu tiên liên lạc với gia đình Lacks. Tôi đã đọc nó nhiều lần, nhưng tôi muốn từng từ từng chữ phải mới mẻ và hằn sâu trong tâm trí tôi.

Ở quá nửa bài báo, Rogers viết: “Tôi đang ngồi trên tầng bảy của Holiday Inn ở trung tâm Baltimore. Bên ngoài ô cửa sổ cách nhiệt là chiếc đồng hồ khổng lồ với các chữ số bị thay thế bởi những chữ cái B-R-O-M-O-S-E-L-T-Z-E-R; trên đùi là chiếc điện thoại và cuốn danh bạ của Baltimore”.

Tôi bật dậy, đột nhiên cảm thấy như thể tôi đã bị hút vào một tập phim của Vùng Chạng vạng. Hơn hai thập niên trước – khi tôi chỉ mới ba tuổi – Rogers cũng đã đọc chính những trang danh bạ này. Ông viết: “Khi gọi được một nửa số người trong danh bạ có họ Lacks, tôi thấy hầu như ai cũng biết Henrietta”. Vì vậy tôi lại mở cuốn danh bạ ra và quay số, hy vọng sẽ tìm được một người quen biết bà. Nhưng họ không nghe máy, họ cúp máy giữa chừng, hoặc nói rằng chưa từng nghe nói đến Henrietta. Tôi lôi bài báo cũ ra, trong đó tôi tìm thấy địa chỉ của Henrietta ở Turner Station – 713 Đại lộ New Pittsburgh. Trong bốn tấm bản đồ, tôi tìm được một tấm của Turner Station mà không bị các mục quảng cáo hay các phần bản đồ chằng chịt của các khu vực lân cận che khuất.

Hóa ra là Turner Station không chỉ bị che khuất trên bản đồ. Để đến đó, tôi phải lái xe qua bức tường xi măng và hàng rào ngăn cách Turner Station với đường cao tốc liên bang, rồi băng qua nhiều đường ray, đi qua các nhà thờ ngoài mặt phố cũ, và những dãy nhà được đóng ván[2], và một trạm phát điện to bằng cả sân bóng bầu dục đang kêu ù ù. Cuối cùng tôi mới nhìn thấy một tấm biển sẫm màu bằng gỗ, đề dòng chữ: CHÀO MỪNG ĐẾN TURNERS STATION ở bãi đỗ xe của một quán bar bị cháy xém với những tấm rèm có tua màu hồng.

Đến tận bây giờ, không ai biết chắc chắn thị trấn có tên là gì, cũng như cách đánh vần nó. Đôi khi được viết ở dạng số nhiều (Turners Station), khi thì có sở hữu cách (Turner’s Station), và thường là được viết ở dạng số ít (Turner Station). Nghĩa ban đầu của cái tên ấy là “May Mắn”, nhưng thị trấn này chưa bao giờ được như vậy.

Khi Henrietta đặt chân đến nơi này những năm 1940, thị trấn đang trên đà phát triển. Nhưng Thế chiến Thứ hai kết thúc đã làm cho Sparrows Point đi vào giai đoạn thoái trào. Công ty Điện lực và Khí đốt Baltimore đã ủi 300 căn nhà để dọn chỗ cho nhà máy năng lượng mới, khiến hơn 1.300 người vô gia cư, hầu hết trong số đó là người da màu. Ngày càng nhiều đất được sử dụng cho công nghiệp, đồng nghĩa với việc càng nhiều ngôi nhà bị dỡ bỏ. Người dân chuyển đến phía Đông Baltimore hoặc quay trở về nông thôn, và đến cuối những năm 1950, dân số của Turner Station giảm chỉ còn một nửa. Khi tôi đến đó, thị trấn chỉ còn khoảng 1.000 người và vẫn đang giảm dần, vì có rất ít công ăn việc làm.

Vào thời của Henrietta, Turner Station là một thị trấn mà bạn không bao giờ phải khóa cửa nhà. Giờ thì trên cánh đồng, nơi các con của Henrietta từng nô đùa, đã mọc lên một dự án nhà ở được bao quanh bởi bức tường an ninh bằng gạch và xi măng dài bốn kilomet. Các cửa hàng, hộp đêm, quán cà phê, và trường học đã đóng cửa, còn những kẻ buôn ma tuý, các băng đảng, và bạo lực thì ngày càng gia tăng. Nhưng Turner Station vẫn có hơn chục nhà thờ.

Trong bài báo mà tôi lấy địa chỉ của Henrietta có trích lời một người phụ nữ địa phương, Courtney Speed, chủ hữu một tiệm tạp hóa và là người đã lập quỹ xây dựng bảo tàng Henrietta Lacks. Nhưng khi tôi tìm đến địa chỉ lẽ ra phải là Cửa hàng Tạp hóa Speed, tôi chỉ thấy một căn nhà di động màu xám đầy gỉ sắt, với những ô cửa sổ đã vỡ được bịt lại bằng dây. Tấm biển ở trước nhà chỉ sơn hình một bông hồng đỏ, và dòng chữ LÀM MỚI TÂM LINH, TÁI SINH KHẢI TƯỢNG (Châm ngôn 29:18). Quanh bậc thềm trước cửa có sáu người đàn ông đang ngồi tụ tập nói cười. Người lớn tuổi nhất, khoảng 30, mặc quần vải màu đỏ, dây đeo quần màu đỏ, áo sơ mi màu đen, và đội mũ. Một người khác mặc một chiếc áo khoác trượt tuyết rộng quá khổ màu đỏ và trắng. Vây quanh họ là những thanh niên trẻ với các tông da nâu khác nhau, mặc quần thụng. Hai người đàn ông mặc đồ đỏ ngừng nói, nhìn tôi từ từ lái xe đến gần, rồi lại tiếp tục cười.

Turner Station rộng chưa đến 2,5 km2, đường chân trời song song với những cần cẩu vận chuyển hàng to bằng cả tòa nhà chọc trời và các ống khói nhả ra những đám mây dày đặc từ Sparrows Point. Trong lúc tôi lái xe vòng quanh để tìm Cửa hàng Tạp hóa Speed, bọn trẻ ngừng nô đùa trên đường phố để nhìn chằm chằm và vẫy tay. Chúng chạy giữa các ngôi nhà xây bằng gạch đỏ giống nhau, qua các bà mẹ đang phơi đồ, để đi theo tôi trong lúc mẹ chúng cũng mỉm cười và vẫy tay.

Tôi lái xe qua căn nhà di động có những người đàn ông ngồi bên ngoài rất nhiều lần, tới nỗi họ bắt đầu vẫy tay với tôi mỗi lần tôi đi qua. Tôi cũng lòng vòng nhiều lần quanh nhà cũ của Henrietta. Đó là một trong bốn căn của một tòa nhà bằng gạch màu nâu, với hàng rào bằng xích, cỏ mọc cao vài thước trước nhà, và ba bậc thang dẫn lên hiên nhà xây bằng xi măng. Một đứa trẻ nhìn tôi từ sau cánh cửa nhà Henrietta, vẫy tay chào tôi khi đang chơi với một cây gậy.

Tôi vẫy tay lại với tất cả mọi người và giả vờ ngạc nhiên mỗi khi thấy bọn trẻ chạy theo tôi xuất hiện ở những con phố khác nhau, nhưng tôi không dừng lại để hỏi đường. Tôi quá bồn chồn. Người dân ở Turner Station chỉ nhìn tôi, mỉm cười, và lắc đầu như thể muốn nói: Cái cô gái da trắng đó cứ lái xe vòng quanh để làm gì vậy?

Cuối cùng tôi nhìn thấy Nhà thờ New Shiloh Baptist, theo một bài báo đã nhắc thì đây là địa điểm diễn ra các cuộc họp của cộng đồng về việc xây dựng bảo tàng Henrietta Lacks. Nhưng nó đã đóng cửa. Khi tôi đang áp mặt vào cửa kính ở bên ngoài, một chiếc xe dài màu đen tấp vào. Một người đàn ông bảnh bao, nhẵn nhụi, khoảng 40 tuổi nhảy xuống, với cặp kính mạ vàng, áo vest đen, mũ beret đen, và chìa khóa nhà thờ. Ông ấy đẩy cặp kính xuống chóp mũi rồi nhìn tôi, hỏi tôi có cần giúp gì không.

Tôi nói với ông ấy lý do tôi đến đây.

“Chưa bao giờ nghe nói đến bà ấy”, ông ấy đáp.

“Không nhiều người biết bà ấy”, tôi nói, và bảo với ông rằng tôi đã đọc được thông tin rằng ai đó đã treo tấm biển tưởng nhớ Henrietta ở Cửa hàng Tạp hóa Speed.

“Ồ, Speed hả?” – ông ấy nói, bỗng nhiên tươi cười và đặt một tay lên vai tôi. “Ta có thể đưa cô đến đó!” Ông ấy bảo tôi hãy lên xe và theo sau ông ấy.

Mọi người trên phố vẫy tay và hét to khi chúng tôi đi qua: “Chào Cha Jackson!” “Cha khỏe chứ?” Ông ấy gật đầu và chào lại: “Mọi người khỏe chứ?” “Chúa ban phước lành cho các con!” Chỉ cách đó hai dãy phố, chúng tôi dừng lại trước căn nhà di động màu xám với những người đàn ông ngồi bên ngoài, và vị cha xứ dừng hẳn xe, vẫy tay bảo tôi bước ra. Đám đàn ông đang ngồi ở bậc thang mỉm cười, và đưa cả hai tay ra bắt tay vị cha xứ: “Chào cha, cha dẫn theo bạn hả?”

“Phải”, ông ấy bảo với họ. “Cô ấy đến đây để nói chuyện với bà Speed”.

Người đàn ông mặc quần đỏ và dây đeo quần màu đỏ hóa ra lại là con trai cả của bà Speed, tên anh ta là Keith – nói bà ấy đã ra ngoài, và không biết khi nào sẽ quay lại, nên bảo tôi hãy ngồi xuống cùng bọn họ và đợi. Khi tôi ngồi xuống, người đàn ông mặc áo khoác trượt tuyết màu đỏ và trắng mỉm cười rạng rỡ, và nói với tôi rằng anh ta cũng là con trai của bà Speed, tên là Mike. Cùng những người con khác của bà: Cyrus, Joe, và Tyrone. Tất cả những người đàn ông trên bậc thềm đó đều là con trai của bà, thậm chí là gần như tất cả những người bước vào cửa tiệm đó cũng vậy. Chẳng mấy chốc, tôi đã đếm được 15 người, và nói: “Đợi một chút. Bà ấy có 15 người con sao?”

“Ồ!” Mike hét lên. “Cô không biết Mẹ Speed, phải không? Ồ, tôi ngưỡng mộ bà lắm – bà rất kiên cường! Bà ấy đã giữ cho Turner Station đi vào nề nếp! Bà ấy không sợ ai hết!”

Tất cả những người đàn ông trên bậc thềm đều gật đầu và nói: “Đúng vậy”.

“Cô không cần phải sợ nếu có đứa nào dám đến đây và tìm cách tấn công Mẹ mỗi khi chúng tôi không có nhà”, Mike nói. “Vì bà ấy sẽ khiến chúng phải sợ chết khiếp!” Các con trai của bà Speed đồng thanh nói amen trong lúc Mike kể chuyện: “Có lần một gã đã xông vào cửa hàng và hét: ‘Tao sẽ đến quầy thu ngân và bắt mày’. Tôi đang trốn sau lưng Mẹ vì sợ! Cô có biết mẹ tôi đã làm gì không? Bà ấy lắc đầu và giơ tay lên, rồi nói: ‘Lại đây! Lại đây Nếu mày nghĩ mày đủ điên, thì cứ thử coi!’”

Mike vỗ vào lưng tôi, và các anh em của anh ấy cười to.

Đúng lúc đó, Courtney Speed xuất hiện ở cuối cầu thang, mái tóc dài màu đen của bà cuộn hờ trên đầu, những lọn tóc rủ xuống quanh khuôn mặt đẹp, thon gọn, xinh xắn, và không tuổi của bà. Bà có đôi mắt tuyệt đẹp màu nâu nhạt pha với một chút màu xanh dương ở quanh viền con ngươi. Dáng vẻ của bà thanh tú, không hề có một nét thô kệch. Bà ôm túi đồ trước ngực và thì thầm: “Nhưng gã đàn ông đó có nhảy qua quầy để tóm ta không?”

Mike hét lên và cười ngặt nghẽo đến nỗi anh ấy không thể trả lời.

Bà nhìn Mike, bình tĩnh, và mỉm cười. “Ta hỏi, hắn có nhảy không?”

“Không, hắn đã không nhảy!” Mike nói, cười toe toét. “Hắn đã vắt chân lên cổ mà chạy! Đó là lý do vì sao Mẹ không cần có súng trong cửa hàng. Bà ấy không cần đến súng!”

“Ta không thích súng”, bà ấy nói, rồi quay sang tôi mỉm cười. “Cô khỏe chứ?” Bà bước lên cầu thang và tiến vào cửa hàng, tất cả chúng tôi đi theo.

“Mẹ”, Keith nói: “Cha xứ đã dẫn cô này đến đây. Tên cô ấy là Rebecca. Cô ấy đến đây để nói chuyện với mẹ”.

Courtney Speed nở nụ cười tuyệt đẹp, hơi bẽn lẽn, đôi mắt bà sáng ngời và ấm tình mẫu tử. “Chúa phù hộ cho cô, cô gái”, bà ấy nói.

Bên trong cửa hàng, sàn nhà được phủ gần kín bằng những chiếc hộp các-tông đã được gỡ ra và xếp phẳng – chúng đã bị sờn cũ vì dấu chân đi qua đi lại nhiều năm. Các kệ được xếp dọc mỗi bức tường, một số trống trơn, số khác chất đầy Bánh mì Wonder, gạo, giấy vệ sinh, và móng lợn. Trên một chiếc kệ, bà Speed đã chất hàng trăm ấn bản của tờ Baltimore Sun từ những năm 1970, khi chồng của bà qua đời. Bà nói bà đã từ bỏ việc thay cửa sổ mỗi khi có người phá cửa để đột nhập vào cửa hàng vì chuyện đó xảy ra suốt. Bà treo những tấm biển viết tay lên mọi bức tường của cửa hàng: một tấm viết “Sam Người Tuyết”, các tấm khác là của các câu lạc bộ thể thao, các nhóm nhà thờ, các lớp miễn phí luyện GED[3] và dạy đọc viết cho người lớn. Khi trẻ con đến mua khoai tây chiên, kẹo, hay soda, bà Speed bắt chúng tự tính số tiền thừa mà bà nợ chúng và đứa nào tính đúng sẽ được bà cho một viên kẹo socola Hershey miễn phí.

Bà Speed bắt tay vào xếp lại đồ trên giá để nhãn của chúng quay ra ngoài, rồi hỏi: “Làm thế nào mà cô tìm được đường đến đây?”

Tôi nói với bà về bốn tấm bản đồ, rồi bà ném một hộp mỡ lợn lên kệ. “Bây giờ thì chúng tôi phải đối mặt với hội chứng bốn bản đồ”, bà ấy nói. “Bọn họ cứ không ngừng tìm cách đẩy chúng tôi ra khỏi Trái đất, nhưng Chúa không để họ làm vậy. Tạ ơn Chúa, Ngài ấy mang đến cho chúng tôi những người chúng tôi thực sự cần trò chuyện”.

Bà lau tay vào áo sơ mi trắng của mình. “Giờ thì Ngài đã mang cô đến đây, tôi có thể giúp gì được cô?”

“Tôi hy vọng được biết thêm về Henrietta Lacks”, tôi đáp. Courtney thở gấp, mặt bà bỗng trở nên tái mét. Bà ấy lùi lại vài bước và rít lên: “Cô biết ông Cofield ư? Có phải ông ta đã cử cô đến đây?”

Tôi bối rối. Tôi nói với bà ấy rằng tôi chưa từng nghe nói đến Cofield, và không ai cử tôi đến cả.

“Làm thế nào mà cô biết tôi?” – bà ấy gắt, lùi lại xa hơn.

Tôi lôi tờ báo nhàu nát từ trong túi ra và đưa cho bà.

“Cô đã nói chuyện với gia đình họ chưa?” – bà ấy hỏi.

“Tôi đang tìm cách để nói chuyện với họ”, tôi đáp. “Tôi đã nói chuyện với Deborah một lần, và đáng lẽ tôi phải gặp Sonny ngày hôm nay, nhưng anh ta đã không tới”.

Bà gật đầu, như thể muốn nói Ta biết mà. “Tôi không thể nói gì với cô cho đến khi cô có được sự đồng ý của gia đình họ. Tôi không thể mạo hiểm được”.

“Còn tấm biển cô làm cho bảo tàng thì sao?” – tôi hỏi. “Tôi có thể xem nó được không?”

“Nó không ở đây”, bà ấy gắt lên. “Không có gì ở đây cả, vì những điều tồi tệ cứ không ngừng xảy ra xung quanh chuyện này”.

Bà nhìn tôi một hồi lâu, rồi mặt bà dịu lại. Một tay bà cầm lấy tay tôi, tay còn lại chạm vào mặt tôi.

“Tôi thích cặp mắt của cô”, bà ấy nói. “Đi theo tôi”.

Bà vội vã bước ra cửa và đi xuống những bậc thang để đến chỗ chiếc xe station wagon cũ màu nâu của mình. Một người đàn ông đang ngồi ở ghế cạnh ghế lái, nhìn thẳng xuống con đường như thể chiếc xe đang di chuyển. Ông ta thậm chí không ngẩng lên nhìn trong lúc bà bước vào xe và nói: “Đi theo tôi”.

Chúng tôi lái xe xuyên Turner Station để đến bãi đỗ xe của thư viện công cộng. Khi tôi mở cửa xe của mình, Courtney xuất hiện, vỗ tay, mỉm cười rạng rỡ, và nhún nhảy. Bà nói luôn miệng: “Ngày 1 tháng 2 là ngày Henrietta Lacks ở đây, tại Hạt Baltimore”. “Ngày 1 tháng 2 tới đây sẽ có một sự kiện mở màn lớn ở thư viện này! Chúng tôi vẫn đang cố gắng thành lập bảo tàng, mặc dù vụ Cofield đã mang đến cho chúng tôi rất nhiều rắc rối – đã khiến Deborah khiếp sợ. Đáng lẽ bây bảo tàng đã xong – chúng tôi đã gần hoàn thiện trước khi tất cả những việc kinh khủng đó diễn ra. Nhưng tôi mừng vì Ngài đã cử cô đến”, bà ấy nói, chỉ tay lên trời. “Câu chuyện này phải được kể ra! Cầu nguyện Chúa, người ta phải biết đến Henrietta!”

“Cofield là ai cơ ạ?” – tôi hỏi.

Bà nhăn mặt và lấy tay che miệng. “Tôi không thể nói cho đến khi gia đình họ đồng ý”, bà đáp, rồi nắm lấy tay tôi và chạy vào thư viện.

“Đây là Rebecca”, bà ấy nói với thủ thư, lại nhún nhảy. “Cô ấy đang viết về Henrietta Lacks!”

“Ồ, thật tuyệt vời!” – người thủ thư nói. Rồi bà nhìn Courtney hỏi: “Chị đã nói với cô ấy chưa?”

“Tôi cần cuộn băng”, Courtney đáp.

Bà thủ thư đi dọc theo giá băng đĩa, kéo một chiếc hộp màu trắng ra, rồi đưa nó cho Courtney.

Courtney kẹp cuộn băng dưới tay, cầm lấy tay tôi, rồi kéo tôi quay lại bãi đỗ xe. Bà nhảy lên xe của mình và phóng đi, vẫy tay bảo tôi theo sau. Chúng tôi dừng lại bên ngoài một cửa hàng tiện lợi trong lúc người đàn ông ngồi ở ghế trước xe của bà bước xuống và mua một ổ bánh mì, rồi bà thả ông ta xuống trước nhà ông ta trong lúc hét với lại cho tôi biết: “Đó là ông anh họ bị điếc của tôi! Không thể tự lái xe!”

Cuối cùng bà dẫn tôi đến cửa hiệu làm đẹp nhỏ của mình, cách Cửa hàng Tạp hóa Speed không xa. Bà mở hai chốt cửa chính và phẩy tay trong không khí: “Có mùi như thể có chuột bị dính bẫy”. Cửa hiệu hẹp, với những chiếc ghế cắt tóc xếp dọc một bên tường và những chiếc máy sấy xếp dọc phía bên tường còn lại. Bồn gội đầu được kê trên miếng gỗ ép, nước từ bồn được xả xuống một cái xô lớn màu trắng, những bức tường quanh bồn bị bắn đầy thuốc nhuộm tóc qua bao năm tháng. Bên cạnh bồn gội là tấm biển ghi giá: Cắt và tạo kiểu: 10 đô. Là và uốn: 7 đô. Tựa vào bức tường phía sau, trên tủ đồ nghề, là bức ảnh chụp Henrietta Lacks tay đặt trên hông, trong khung gỗ nhạt màu hơi to so với khổ ảnh.

Tôi chỉ vào bức ảnh và nhướn mày. Courtney lắc đầu.

“Tôi sẽ nói với cô tất cả những gì tôi biết”, bà thì thầm, “ngay sau khi cô nói chuyện với gia đình họ và được họ cho phép. Tôi không muốn có thêm rắc rối nữa. Và tôi không muốn Deborah lại đổ bệnh vì chuyện này”.

Bà chỉ vào một chiếc ghế cắt tóc bọc nhựa vinyl màu đỏ bị nứt mà bà xoay lại để đối diện với một chiếc tivi nhỏ cạnh các máy sấy tóc. “Cô phải xem cuộn băng này”, bà nói, rồi đưa cho tôi chiếc điều khiển và một bộ chìa khóa dự phòng. Bà bắt đầu bước ra khỏi cửa, rồi quay lại nói: “Đừng mở cánh cửa này cho bất kỳ ai ngoại trừ tôi, rõ chưa? Và đừng bỏ sót chi tiết nào trong cuộn băng – hãy tua lại, xem nó hai lần nếu cần, nhưng đừng bỏ sót thứ gì”.

Rồi bà bỏ đi và khóa cửa lại.

Trên màn hình tivi trước mặt tôi là bộ phim tài liệu dài một tiếng của đài BBC về Henrietta và các tế bào HeLa, mang tên Xác thịt về đâu[4], mà tôi đã tìm cách để có được một bản suốt nhiều tháng trời. Mở đầu bộ phim là bản nhạc ngọt ngào và một thiếu nữ da màu không phải Henrietta đang nhảy múa trước máy quay. Một người đàn ông người Anh bắt đầu dẫn chuyện, giọng của ông ta có vẻ cường điệu, như thể ông ta đang kể một câu chuyện ma có thật.

Ông ta nói: “Vào năm 1951, một người phụ nữ đã qua đời ở Baltimore, Mỹ”, rồi dừng lại để tạo hiệu ứng. “Tên của bà là Henrietta Lacks”. Tiếng nhạc lớn dần và rùng rợn hơn trong lúc ông ta kể lại câu chuyện về các tế bào của bà: “Các tế bào này đã thay đổi nền y học hiện đại... Chúng đã định hình chính sách của nhiều quốc gia và nhiều tổng thống. Chúng thậm chí còn liên quan đến Chiến tranh Lạnh. Vì các nhà khoa học tin rằng các tế bào của bà mang bí mật về cách chế ngự cái chết…”

Điều khiến tôi chú ý là những hình ảnh về Clover, một thị trấn đồn điền cũ phía Nam Virginia, nơi họ hàng của Henrietta dường như vẫn sinh sống. Hình ảnh cuối cùng được chiếu là anh họ của Henrietta, Fred Garret, đứng bên cạnh ngôi nhà nô lệ cũ ở Clover, lưng quay lại với nghĩa trang gia đình nơi người dẫn chuyện nói Henrietta được chôn ở đó trong một ngôi mộ không bia.

Fred chỉ vào nghĩa trang và nhìn thẳng vào máy quay.

“Quý vị nghĩ những tế bào đó có còn sống không?” – ông ấy hỏi. “Tôi muốn nói đến những tế bào nằm trong mộ”. Ông ấy dừng lại, rồi bật cười một tràng dài, rung cả người. “Ồ không có chuyện đó đâu”, ông ấy nói, “Tôi không nghĩ là chúng còn sống dưới mộ. Nhưng chúng vẫn còn sống trong các ống nghiệm. Đó là một phép màu”.

Màn hình tối om và tôi nhận ra, nếu chồng con của Henrietta không chịu nói chuyện với tôi, tôi cần phải đến Clover và tìm các anh em họ của bà.

Đêm đó, ở khách sạn, cuối cùng tôi cũng nói chuyện được với Sonny qua điện thoại. Anh ta nói với tôi rằng anh ta đã thay đổi ý định về việc gặp tôi. Tôi nhờ anh ta giúp tôi liên lạc với gia đình của anh ta ở Clover. Anh ta bảo tôi hãy tự đến đó mà tìm họ. Rồi anh ta cười và chúc tôi may mắn.

❀ ❀ ❀

[1] Phòng khi Sonny gọi đến lại không nghe được.

[2] Cửa sổ và cửa chính của những ngôi nhà này được đóng ván lại để bảo vệ cho ngôi nhà khỏi bị phá hủy bởi bão, lốc xoáy hoặc để không ai vào nhà khi chủ nhà không ở đó trong thời gian dài.

[3] GED: General Educational Development, một loại lớp học tương tự các lớp bổ túc văn hóa cấp 3, chứng chỉ GED tương đương với bằng cấp 3.

[4] Lấy tên trùng với tên cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Samuel Butler, được xuất bản lần đầu tiên năm 1903 tại Anh.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.