31
Hela, nữ tử thầnSau buổi gặp gỡ chóng vánh của chúng tôi, một người đàn ông mà Deborah không hề quen biết đã gọi cho cô và hỏi liệu cô có thể cưỡi xe diễu hành HeLa trong ngày hội Rodeo[1] người da màu hay không. Ông ta đã bảo cô phải cẩn thận với những người muốn tìm hiểu mộ của Henrietta nằm ở đâu, vì có thể họ muốn ăn trộm xương của bà, vì cơ thể của bà rất có giá trị đối với khoa học. Deborah đã kể cho ông ta rằng cô đang nói chuyện với tôi để viết một cuốn sách, và ông ta cảnh báo cô không được nói với người da trắng về những chuyện của cô. Cô đã hoảng hốt và gọi cho anh trai Lawrence của mình. Lawrence bảo cô người đàn ông ấy nói đúng, nên cô ấy đã để lại cho tôi một tin nhắn, nói rằng cô không thể nói chuyện với tôi nữa. Nhưng khi tôi nhận được tin nhắn và gọi lại cho cô, cô đã thay đổi ý kiến.
“Mọi người luôn hô hào ‘Kỳ thị chủng tộc! Kỳ thị chủng tộc! Gã đàn ông da trắng ấy đã ăn trộm tế bào của người phụ nữ da đen ấy! Gã đàn ông da trắng ấy đã giết người phụ nữ da đen ấy!’ Đó là những điều điên khùng”, cô ấy nói với tôi. “Tất cả chúng ta đều là người da trắng và da đen và đủ loại màu da khác – đây không phải là chuyện về sắc tộc. Mỗi câu chuyện đều có hai mặt của nó, và đó là thứ chúng tôi muốn mọi người phải biết. Câu chuyện về mẹ tôi sẽ không đúng sự thật nếu nó là chỉ nói về việc muốn trả thù các nhà nghiên cứu. Đây không phải là chuyện trừng phạt những tên bác sĩ hay hủy hoại danh tiếng của bệnh viện. Tôi không muốn điều đó”.
Deborah và tôi sẽ tiếp tục như vậy suốt một năm ròng. Mỗi lần tôi đến thăm, chúng tôi lại đi dạo trên bến cảng Baltimore, đi chèo thuyền, cùng đọc sách khoa học, và nói về các tế bào của mẹ cô. Chúng tôi đưa Davon và Alfred đến Trung tâm Khoa học Maryland, nơi cậu bé đã được xem một bức ảnh chụp các tế bào nhuộm màu xanh neon và được phóng to dưới kính hiển vi, phủ kín một bức tường từ sàn đến tận trần nhà cao 6 mét. Cậu bé nắm lấy tay tôi và kéo tôi lại gần bức tường chụp các tế bào, hét lên: “Cô Rebecca! Cô Rebecca! Đó có phải cụ Henrietta không?” Những người xung quanh nhìn tôi chằm chằm trong lúc tôi nói: “Có thể”, và Davon nhảy cẫng lên, ngân nga hát: “Cụ Henrietta thật nổi tiếng! Cụ Henrietta thật nổi tiếng!”
Có lần, khi Deborah và tôi đang bước đi trên con đường trải sỏi ở Fell’s Point một buổi tối muộn, cô ấy quay sang nhìn tôi và bất chợt nói: “Tôi sẽ đưa bệnh án của bà ra khi tôi muốn, và khi tôi nghĩ đã đến lúc”. Cô ấy nói với tôi rằng vào cái đêm cô ấy chộp lấy bệnh án của mẹ mình và chạy về nhà, cô ấy đã nghĩ tôi muốn ăn trộm chúng. Cô ấy nói: “Tôi chỉ muốn có một người để tin tưởng, một người sẵn sàng nói chuyện với tôi mà không giấu diếm tôi bất cứ điều gì”. Cô ấy bắt tôi thề sẽ không bao giờ giấu cô chuyện gì. Và tôi đã thề sẽ làm như vậy.
Giữa những lần gặp mặt, Deborah và tôi thường dành hàng giờ mỗi tuần để nói chuyện qua điện thoại. Thỉnh thoảng có người lại thuyết phục cô rằng cô không thể tin một người da trắng, không thể kể cho họ nghe về chuyện của mẹ cô, và cô lại gọi cho tôi trong hoảng loạn, đòi được biết liệu Hopkins có đang thuê tôi để moi thông tin từ cô như người ta vẫn nói hay không. Những lần khác cô lại tỏ ra nghi ngờ về tiền bạc, như khi một nhà xuất bản sách giáo khoa về di truyền gọi cho cô, đề nghị trả 300 đô để được phép in ảnh của Henrietta.
Khi Deborah nói họ phải trả cô 25.000 đô và họ từ chối, cô đã gọi cho tôi đòi được biết ai đang trả tiền để tôi viết sách và tôi sẽ trích cho cô bao nhiêu.
Mỗi lần như vậy tôi lại nói với cô cùng một điều: tôi vẫn chưa bán sách, nên tại thời điểm đó tôi đang tự trả tiền cho nghiên cứu của mình bằng các khoản vay dành cho sinh viên và thẻ tín dụng. Dù sao thì tôi cũng không thể trả tiền cho cô để đổi lấy tin tức. Thay vào đó, tôi nói, nếu cuốn sách được xuất bản, tôi có thể lập quỹ học bổng cho con cháu của Henrietta Lacks. Vào những ngày đẹp trời, Deborah sẽ tỏ ra hứng khởi trước ý tưởng ấy. “Giáo dục là tất cả”, cô nói. “Nếu tôi được học nhiều hơn, có lẽ chuyện về mẹ sẽ không ảnh hưởng đến tôi nặng nề như vậy. Chính vì thế tôi luôn nói với Davon: ‘Tiếp tục học, học tất cả những gì có thể’”. Nhưng vào những ngày trái tính, cô ấy lại nghĩ tôi đang nói dối và lại không nói chuyện với tôi nữa.
Những khoảnh khắc đó không kéo dài lâu, và chúng luôn kết thúc bằng việc Deborah bắt tôi phải hứa sẽ không bao giờ giấu cô ấy bất cứ điều gì. Cuối cùng tôi bảo với cô ấy rằng, nếu muốn cô ấy có thể đi cùng tôi mỗi khi tôi đi thu thập tài liệu, và cô ấy nói: “Tôi muốn đến các trung tâm và các trường đại học, tất cả những nơi đó. Những nơi học tập. Và tôi muốn có bệnh án và báo cáo giải phẫu tử thi của chị tôi”.
Tôi bắt đầu gửi cho cô ấy hàng tệp các thông tin mà tôi đã thu thập được về mẹ cô ấy – các bài báo khoa học, những bức ảnh các tế bào, đôi khi là một cuốn tiểu thuyết, thơ, hay truyện ngắn dựa trên HeLa. Một trong số đó, có một nhà nghiên cứu điên khùng đã sử dụng HeLa như món vũ khí sinh học để truyền bệnh dại; cuốn khác nói về loại sơn nhà màu vàng được làm từ các tế bào HeLa biết nói chuyện. Tôi gửi cho Deborah tin tức về các buổi triển lãm nơi một số nghệ sĩ đã chiếu các tế bào của Henrietta lên tường, và một nghệ sĩ cho trưng bày một hình trái tim được xếp bằng những tế bào mà cô ấy đã nuôi bằng cách hợp nhất tế bào của chính mình với HeLa. Với mỗi tệp, tôi lại gửi kèm các chú thích giải nghĩa từng điều, ghi rõ đâu là viễn tưởng, đâu là thực, và cảnh báo Deborah về những thông tin có thể khiến cô ấy bực bội.
Mỗi lần nhận được tệp thông tin, Deborah lại gọi cho tôi để nói về những gì cô đọc, và dần dần, những cuộc gọi hoảng loạn của cô thưa dần. Không lâu sau, khi cô nhận ra tôi bằng tuổi con gái của cô, cô bắt đầu gọi tôi là “Boo”, và giục tôi mua điện thoại di động vì cô lo lắng khi tôi lái xe một mình trên đường cao tốc liên bang. Mỗi lần tôi nói chuyện với các anh em trai của cô, Deborah lại hét lên với họ, nửa đùa nửa thật: “Đừng tìm cách cuỗm nhà báo của tôi! Đi mà kiếm nhà báo của riêng các người ấy!” Khi chúng tôi gặp mặt cho chuyến đi đầu tiên, Deborah bước xuống xe trong bộ váy màu đen dài đến mắt cá chân, đôi sandal cao gót màu đen, và chiếc áo sơ mi cũng màu đen bên dưới chiếc áo khoác len màu đen không cài khuy. Sau khi chúng tôi ôm nhau, cô ấy nói: “Tôi đang mặc đồ giống như nhà báo của tôi!” Cô ấy chỉ vào chiếc áo sơ mi màu đen, quần đen, và đôi ủng đen của tôi, rồi nói: “Cô luôn mặc màu đen, nên tôi nghĩ tôi cũng nên mặc như cô để cải trang”.
Với mỗi chuyến đi, Deborah lại chất đầy chiếc xe jeep của mình với những bộ cánh và những đôi giày mà cô có thể cần đến (“Cô không bao giờ biết khi nào thì thời tiết sẽ thay đổi”). Cô ấy mang theo gối và chăn, phòng khi chúng tôi bị mắc kẹt ở đâu đó, một chiếc quạt phòng khi cô bị nóng, kèm theo tất cả dụng cụ cắt tóc và đồ làm móng từ trường dạy làm đẹp, các hộp băng video, đĩa CD, dụng cụ văn phòng, và tất cả tài liệu liên quan đến Henrietta mà cô ấy có. Chúng tôi luôn đi hai xe vì Deborah vẫn chưa tin tưởng để đi cùng tôi. Tôi theo sau, nhìn chiếc mũ màu đen mà cô ấy đội khi lái xe lắc lư theo tiếng nhạc. Thỉnh thoảng, khi chúng tôi cua hoặc dừng đèn đỏ, tôi có thể nghe thấy cô ấy hát theo giai điệu của “Born to Be Wild”, hoặc ca khúc của William Bell mà cô ấy yêu thích: “I Forgot to Be Your Lover”.
Cuối cùng, Deborah để tôi đến nhà cô ấy. Nhà tối om, rèm cửa dày che kín, những chiếc ghế sofa màu đen, đèn mờ, và bốn bức tường bằng ván gỗ màu nâu sẫm treo các bức tranh tôn giáo. Chúng tôi dành toàn bộ thời gian trong văn phòng của cô ấy, nơi hầu như đêm nào cô ấy cũng ngủ lại thay vì về phòng ngủ của cô và Pullum – cô ấy nói với tôi rằng họ hay cãi nhau, và cần không gian riêng.
Phòng của Deborah rộng gần hai mét, với chiếc giường đơn đặt cạnh tường và một chiếc bàn nhỏ ngay bên cạnh, gần chạm vào giường. Trên bàn, dưới hàng chồng giấy tờ, các hộp đựng phong bì, thư và hóa đơn là cuốn Kinh Thánh của mẹ cô ấy, các trang quăn queo, nứt nẻ vì thời gian, và lốm đốm những vết mốc, tóc của mẹ và chị cô ấy vẫn kẹp bên trong.
Bốn bức tường phủ kín toàn những bức hình đầy màu sắc của gấu, ngựa, chó, và mèo mà cô ấy đã cắt ra từ các tờ lịch. Giữa những bức tranh động vật là gần một chục tấm vải nỉ hình vuông sáng màu mà cô ấy và Davon đã tự tay cắt. Một tấm màu vàng với dòng chữ CẢM ƠN CHÚA VÌ RỦ LÒNG THƯƠNG; một tấm khác ghi dòng chữ NHỮNG LỜI TIÊN TRI ĐÃ THÀNH HIỆN THỰC và được gắn những đồng xu bằng thiếc. Giá sách nhỏ phía đầu giường chất đầy những cuộn băng quảng cáo – về bồn tắm Jacuzzi, xe RV, chuyến du lịch đến Disneyland. Hầu như mỗi tối, Deborah lại hỏi: “Này Davon, cháu có muốn đi nghỉ không?” Khi thằng bé gật đầu, cô ấy lại hỏi: “Cháu muốn đi đâu, Disneyland, spa, hay một chuyến RV?” Họ đã xem những cuộn băng ấy không biết bao nhiêu lần.
Một hôm, tôi chỉ cho Deborah cách truy cập mạng trên chiếc máy tính cũ mà có người đã cho cô ấy nhiều năm trước, rồi dạy cho cô ấy cách tra Google. Không lâu sau cô đã uống Ambien – một dạng thuốc ngủ – và ngồi hàng đêm trong trạng thái mơ màng, đeo tai nghe để nghe William Bell hát, và google “Henrietta” và “HeLa”.
Davon gọi thuốc Ambien của Deborah là “thuốc đần”, vì nó khiến cô thơ thẩn quanh nhà lúc nửa đêm như một thây ma, nói những điều vô nghĩa và tìm cách nấu bữa sáng bằng cách chặt ngũ cốc với một con dao mổ lợn. Davon thường tỉnh dậy lúc nửa đêm và thấy Deborah ngủ gục bên máy tính, tay đặt trên bàn phím. Thằng bé đẩy cô khỏi ghế, đặt cô lên giường và đắp chăn cho cô. Nhưng khi Davon không ở đó, cô lại thức dậy bên bàn, xung quanh là một núi giấy phun ra từ máy in xuống sàn nhà: các bài báo khoa học, các đơn đăng ký sáng chế, các bài báo và các bài viết trên trang cá nhân, nhiều trong số chúng không liên quan đến mẹ cô, nhưng có chữ Henrietta hoặc Lacks hoặc Hela xuất hiện trong đó.
Và ngạc nhiên thay, có rất nhiều thứ liên quan đến từ Hela. Hela là tên bản địa của Sri Lanka, nơi các nhà hoạt động xã hội cầm những tấm biển đòi “Công lý cho nước Hela”. Nó cũng là tên của một công ty máy kéo Đức đã phá sản, của một chú chó shih-tzu giành được giải thưởng; một khu nghỉ dưỡng gần biển ở Ba Lan, một hãng quảng cáo ở Thụy Sĩ, một chiếc thuyền Đan Mạch nơi người ta tụ tập để uống vodka và xem phim, một nhân vật hoạt hình của Marvel đã xuất hiện trong một số trò chơi điện tử trực tuyến: một nữ thần cao 2,1 mét, nửa da đen, nửa da trắng, nửa sống nửa chết, với trí thông minh “không thể đo được”, sức mạnh của “một siêu nhân”, sự bền bỉ và sức chịu đựng “như một vị thần”, nặng 230 kg với cơ bắp cuồn cuộn. Bà là nữ thần của bệnh dịch, ốm đau, và những tai ương; bà miễn nhiễm với lửa, phóng xạ, chất độc, chất ăn mòn, bệnh tật, và sự lão hóa. Bà cũng biết bay và có thể điều khiển tâm trí người khác.
Khi tìm thấy những tài liệu mô tả Hela và nhân vật Marvel, Deborah đã nghĩ họ đang miêu tả mẹ cô, vì mỗi đặc điểm của Hela đều có nét tương đồng với những gì mà cô nghe được về các tế bào của mẹ. Nhưng hóa ra nhân vật viễn tưởng Hela được lấy cảm hứng từ nữ thần của cái chết, Norse, người sống ở ranh giới của địa ngục và trần gian. Deborah nghĩ nữ thần ấy cũng được tạo nên dựa trên hình ảnh của mẹ cô.
Một hôm khoảng ba giờ sáng, điện thoại của tôi đổ chuông trong lúc tôi đang ngủ, hơi sốt vì cảm cúm. Deborah hét lên ở đầu dây bên kia: “Tôi đã nói với cô là London đang nhân bản mẹ tôi mà!” Giọng cô ấy từ tốn và líu lại vì Ambien.
Cô ấy đã google HeLa, nhân bản, London, và DNA, và nhận được hàng ngàn kết quả với những lời tóm tắt như sau, từ một nhóm thảo luận trên mạng về HeLa: “Mỗi tế bào đều mang đặc trưng di truyền của Henrietta Lacks... Chúng ta có thể nhân bản bà ấy hay không?” Tên của mẹ cô ấy đã xuất hiện dưới những dòng tiêu đề như NHÂN BẢN VÔ TÍNH và SẢN XUẤT CON NGƯỜI, và cô ấy nghĩ hàng ngàn kết quả tìm thấy trên mạng là bằng chứng cho thấy các nhà khoa học đã nhân bản hàng ngàn Henrietta.
“Họ không nhân bản bà ấy”, tôi nói. “Họ chỉ tạo ra các bản sao tế bào của bà. Tôi thề đấy”.
“Cảm ơn Boo, xin lỗi vì đã đánh thức cô”, cô ấy thủ thỉ nói. “Nhưng nếu họ đang nhân bản các tế bào của bà, liệu một ngày nào đó họ cũng có thể nhân bản mẹ tôi?”
“Không”, tôi đáp. “Chúc ngủ ngon”.
Sau vài tuần thấy Deborah trong trạng thái vô thức, tay vẫn cầm điện thoại, mặt úp xuống bàn phím, Davon nói với mẹ rằng nó cần ở nhà bà cả ngày, để chăm sóc cho bà sau khi bà uống thuốc.
Trung bình Deborah uống 14 viên thuốc mỗi ngày, tốn khoảng 150 đô mỗi tháng sau khi đã được trừ bảo hiểm theo chồng, cộng Medicaid[2] và Medicare. “Tôi nghĩ có tất cả 11 đơn thuốc”, có lần cô ấy nói với tôi, “hoặc 12. Tôi không thể nhớ được, họ thường xuyên đổi đơn”. Một đơn cho bệnh trào ngược dạ dày, tốn 8 đô cho tháng đầu và 135 đô từ tháng thứ hai, nên cô đã ngừng uống, và có thời điểm bảo hiểm theo chồng của cô đã hủy chi trả các đơn thuốc, nên cô phải cắt đôi các viên thuốc để kéo dài thời gian uống. Khi hết Ambien, cô không thể ngủ cho đến khi được mua thêm.
Cô ấy nói với tôi rằng các bác sĩ của cô ấy đã bắt đầu kê đơn cho cô từ năm 1997 sau sự kiện mà cô gọi là “Phi Vụ Đào Mỏ”, mà cô không chịu kể chi tiết cho tôi. Đó là lúc cô đăng ký nhận trợ cấp xã hội dành cho người khuyết tật mà phải sau vài lần đối chứng trước tòa cô mới được duyệt.
“Người của cục bảo trợ xã hội nói tất cả đều do tôi cả nghĩ”, cô ấy nói. “Họ gửi tôi đến gặp năm bác sĩ tâm thần và hàng đống bác sĩ khác. Họ nói tôi bị hoang tưởng, tâm thần phân liệt, và hay sợ hãi. Tôi hay lo âu, bị trầm cảm, thoái hóa đầu gối, viêm bao hoạt dịch, phình đĩa đệm cột sống, tiểu đường, loãng xương, huyết áp cao, cholesterol cao. Tôi không biết hết tên của tất cả các bệnh đó”, cô ấy nói. “Tôi không biết liệu có ai có thể biết hết. Tất cả những gì tôi biết là, khi rơi vào trạng thái đó, hoặc mỗi khi sợ hãi, tôi thường lẩn trốn”.
Cô ấy nói việc này đã xảy ra lần đầu tiên tôi gọi cho cô ấy. “Tôi đã rất hào hứng, nói rằng tôi muốn có một cuốn sách viết về mẹ tôi. Nhưng mọi chuyện bắt đầu rối cả lên trong đầu, và tôi sợ hãi”.
“Tôi biết cuộc sống của tôi có thể trở nên tốt đẹp hơn, và tôi ước gì nó đã như vậy”, cô ấy nói với tôi. “Khi người ta nghe về các tế bào của mẹ tôi, họ vẫn thường nói: ‘Ồ, các ông bà có thể trở nên giàu có! Các ông bà phải kiện John Hopkin, các ông bà phải làm điều này, phải làm điều kia’. Nhưng tôi không muốn làm vậy”. Cô ấy cười và nói. “Thú thực, tôi không thể nổi giận với khoa học, vì nó giúp con người được sống, và tôi sẽ gặp nhiều vấn đề về sức khỏe nếu không có nó. Tôi là một hiệu thuốc di động! Tôi không thể phỉ báng khoa học, nhưng tôi cũng phải thú thực rằng, tôi muốn có bảo hiểm y tế để không phải trả tiền thuốc mỗi tháng, số thuốc mà có lẽ các tế bào của mẹ tôi đã giúp tạo ra”.
Cuối cùng Deborah cũng cảm thấy thoải mái hơn với mạng internet, cô bắt đầu dùng nó cho nhiều việc khác hơn là chỉ để dọa mình lúc nửa đêm. Cô lập một danh sách các câu hỏi dành cho tôi và in các bài báo về những nghiên cứu được thực hiện mà không có sự đồng ý của các đối tượng – từ thử nghiệm vắc-xin ở Uganda đến thử thuốc trong quân đội Hoa Kỳ. Cô bắt đầu sắp xếp thông tin thành những tệp được dán nhãn cẩn thận: một tệp về tế bào, một tệp về ung thư, một tệp gồm những định nghĩa về các thuật ngữ pháp lý như thời hạn hiệu lực và bảo mật thông tin của bệnh nhân. Có lần cô tình cờ tìm thấy một bài báo về “Những Gì Còn Sót Lại Của Henrietta Lacks” khiến cô nổi đóa vì nói rằng Henrietta chắc hẳn đã bị HPV vì bà “hay lang chạ”.
“Họ chẳng biết gì về khoa học hết”, cô ấy nói với tôi. “Chỉ vì mắc HPV không có nghĩa mẹ tôi là người dễ dãi. Hầu hết ai cũng có HPV ấy – tôi đã đọc được điều đó trên mạng”.
Rồi, vào tháng 4 năm 2001, gần một năm sau lần đầu tiên chúng tôi gặp mặt, Deborah đã gọi cho tôi để nói rằng “chủ tịch câu lạc bộ ung thư” muốn cô xuất hiện trên sân khấu của một sự kiện nhằm tôn vinh mẹ cô. Cô ấy nói cô rất lo lắng và muốn tôi tìm hiểu xem ông ta có đáng tin hay không.
Hóa ra ông ta là Franklin Salisbury Jr., chủ tịch Quỹ Quốc gia về Nghiên cứu Bệnh Ung thư. Cứ mỗi hai năm ông lại tổ chức một cuộc hội thảo, và ông đã quyết định hội thảo năm 2001 sẽ dành để tôn vinh Henrietta. Ông ấy nói: vào ngày 13 tháng 9, 70 nhà nghiên cứu hàng đầu về bệnh ung thư trên khắp thế giới sẽ tập trung lại để trình bày nghiên cứu của họ, và hàng trăm người sẽ tham dự, bao gồm thị trưởng Washington, DC., và Tổng Y sĩ Hoa Kỳ. Ông hy vọng Deborah sẽ tham gia phát biểu tại hội thảo và nhận huân chương vinh danh mẹ cô.
“Tôi hiểu gia đình họ cảm thấy bị trục lợi”, ông ấy nói với tôi. “Chúng tôi không thể trao tiền mặt cho họ, nhưng tôi hy vọng cuộc hội thảo này sẽ đính chính lịch sử và khiến họ thấy được an ủi phần nào, dù chúng tôi đã muộn 50 năm”.
Khi tôi giải thích điều này với Deborah, cô ấy đã rất hứng khởi. Cô ấy nói nó sẽ giống như cuộc hội thảo của Pattillo ở Atlanta, chỉ có điều lớn hơn. Ngay lập tức cô ấy lên kế hoạch sẽ phải mặc gì và hỏi về những điều mà các nhà nghiên cứu sẽ trao đổi. Cô ấy lại bắt đầu lo lắng về việc liệu mình có an toàn khi đứng trên sân khấu hay không, hay liệu có một tay bắn tỉa đang chờ cô ấy.
“Nếu họ nghĩ tôi sẽ gây rắc rối cho họ vì họ đã lấy các tế bào thì sao?”
“Tôi nghĩ cô không cần phải lo về việc ấy”, tôi nói. “Các nhà khoa học rất hào hứng được gặp cô”. Ngoài ra tôi cũng nói với cô ấy rằng cuộc hội thảo sẽ diễn ra trong một tòa nhà liên bang được bảo vệ nghiêm ngặt.
“Được rồi”, cô ấy nói. “Nhưng trước hết tôi muốn xem các tế bào của mẹ, để tôi có thể biết họ nói gì ở hội thảo”.
Sau khi cúp máy, tôi định gọi cho Christoph Lengauer, nhà nghiên cứu ung thư, người đã đưa cho Deborah bức hình các nhiễm sắc thể được sơn màu, nhưng trước khi tôi có thể tìm được số điện thoại của anh ta, điện thoại của tôi lại đổ chuông. Là Deborah, cô ấy đang khóc. Tôi nghĩ cô ấy đang hoảng loạn, đang thay đổi ý định về việc đi xem các tế bào. Nhưng thay vào đó, cô ấy than khóc: “Ôi con trai tôi! Chúa rủ lòng thương với nó, họ đã tóm được nó với dấu vân tay vẫn còn trên hộp pizza”.
Con trai của cô Alfred Jr. và một người bạn đã thực hiện một loạt vụ cướp có vũ khí ở ít nhất năm cửa hàng bán rượu. Máy quay an ninh đã thu hình Alfred đang hét lên với một nhân viên của cửa hàng, vung vẩy chai Wild Irish Rose trên đầu. Cậu ấy đã cướp một chai bia 350 ml, một chai Wild Irish Rose, hai hộp thuốc lá Newport, và gần 100 đô tiền mặt. Cảnh sát đã bắt cậu ấy trước cửa nhà, còng tay cậu ấy và ném lên xe trong lúc con trai của cậu ấy, Alfred Bé, đứng nhìn từ bãi cỏ.
“Tôi vẫn muốn đi xem các tế bào đó”, Deborah nói, vẫn sụt sịt. “Tôi sẽ không để chuyện này ngăn không cho tôi tìm hiểu về mẹ và chị gái của tôi”.
❀ ❀ ❀
[1] Rodeo là cuộc đua của những người chăn bò (quăng dây, cưỡi ngựa...).
[2] Một loại bảo hiểm chăm sóc sức khỏe dành cho người có thu nhập thấp.