30
ZakariyyaNgày hôm sau, Deborah gọi đến phòng của tôi từ quầy lễ tân như thể chưa có chuyện gì xảy ra. “Xuống đây đi”, cô ấy nói. “Đã đến lúc để cô nói chuyện với Zakariyya. Nó đã hỏi về cô”.
Tôi không trông đợi đến ngày được gặp Zakariyya. Tôi đã nghe rất nhiều lần rằng trong số những người trong gia đình Lacks, anh ta là người tức giận nhất về những gì đã xảy ra với mẹ của họ, anh ta sẽ trả thù bằng bất cứ giá nào có thể. Tôi mong sẽ được thấy tuổi 30 của mình, và có lẽ là người da trắng đầu tiên xuất hiện trong căn hộ của Zakariyya để hỏi về mẹ của anh ta không phải là ý kiến hay.
Khi tôi đang đi theo Deborah ra xe ở bên ngoài, cô ấy nói: “Mọi chuyện không được tốt đẹp với Zakariyya cho lắm kể từ khi nó ra tù. Nhưng đừng lo. Tôi khá chắc là nó đã sẵn sàng để nói về mẹ của chúng tôi”.
“Cô khá chắc?” tôi nói.
“Thật ra thì tôi đã từng sao chép thông tin về mẹ và đưa cho nó, nhưng nó ngày càng bực tức, cho đến một ngày nó chửi tôi. Nó xông vào tôi và hét: ‘Tôi không muốn nghe thêm bất cứ điều gì về mẹ và tên bác sĩ khốn khiếp đã ăn trộm các tế bào của bà ấy nữa!’ Kể từ đó chúng tôi không nói chuyện với nhau”. Cô ấy nhún vai. “Nhưng nó bảo hôm nay nó sẽ để cô hỏi chuyện. Chúng ta chỉ cần gặp nó trước khi nó bắt đầu uống rượu”.
Khi chúng tôi ra đến xe của Deborah, hai cháu của cô ấy – Davon và Alfred, những cậu nhóc ở tuổi sắp lên tám và bốn – ngồi ở ghế sau và đang hét vào mặt nhau. Deborah nói: “Chúng là hai cục cưng của tôi”. Chúng là những đứa trẻ đẹp đến nao lòng, với nụ cười rạng rỡ, và cặp mắt to đen láy. Alfred ngồi ở ghế sau, đeo hai cặp kính râm bằng nhựa màu đen bóng, cặp này chồng lên cặp kia, cả hai cặp kính đều to quá khổ so với khuôn mặt của nó.
“Cô Rebecca!” – nó hét lên khi chúng tôi trèo vào xe. “Cô Rebecca!”
Tôi quay lại. “Sao vậy?”
“Cháu yêu cô”.
“Cảm ơn cháu”.
Tôi quay lại với Deborah, cô ấy đang nói với tôi về những điều tôi không nên nói trước mặt Zakariyya.
“Cô Rebecca! Cô Rebecca!” – Alfred lại hét lên, từ từ đẩy cả hai cặp kính râm xuống đầu mũi và nhướn chân mày với tôi.
“Cô là của cháu”, cậu bé nói.
“Ôi thôi đi!” – Deborah hét, với người đánh cậu bé. “Ôi Chúa ạ, nó giống hệt cha nó, Quý Ông Sát Gái”. Cô lắc đầu. “Con trai tôi suốt ngày tụ tập, uống rượu và dùng thuốc kích thích, hệt như cha nó. Tôi sợ nó sẽ tự chuốc vạ vào thân – tôi không biết khi ấy chuyện gì sẽ xảy ra với Alfred Bé. Tôi sợ nó đang học toàn thứ xấu”. Alfred Bé không ngừng đánh Davon, mặc dù Davon lớn hơn và to hơn, nhưng Davon không bao giờ đánh trả mà không có sự cho phép của Deborah.
Khi tôi bảo bọn trẻ kể cho tôi nghe về ông Zakariyya, Davon ưỡn ngực, nhăn mũi để hai lỗ mũi biến mất, rồi thét: “CÚT KHỎI ĐÂY!” giọng của cậu bé trầm hơn những gì tôi nghĩ có thể có ở một cậu nhóc tám tuổi. Cậu bé và Alfred phá lên cười rồi nằm đè lên nhau trên ghế sau. “Như một tuyển thủ đô vật trong tivi!” – Davon nói, thở hổn hển.
Alfred gào lên và nhảy chồm chồm trên ghế. “WWF! WWF[1]!”
Deborah nhìn tôi và mỉm cười. “Đừng lo”, cô ấy nói. “Tôi biết cách đối phó với nó. Tôi chỉ cần nhắc nó phải phân biệt được rằng: Rebecca không phải là một trong số những nhà nghiên cứu, cô không làm việc cho John Hopkin. Cô làm cho chính cô. Nó đã không ngừng nói: ‘Tôi ổn, tôi sẽ không làm gì ngu ngốc’. Nhưng nếu tôi cảm thấy có điều bất ổn, chúng ta sẽ bỏ đi ngay”.
Chúng tôi lái xe qua vài con phố trong yên lặng, băng qua những cửa hàng ở mặt tiền, những quán ăn nhanh và các cửa hàng bán rượu. Có lúc Davon chỉ vào trường học của cậu và kể cho chúng tôi nghe về các thiết bị phát hiện kim loại, và về cách họ khóa tất cả các học sinh bên trong lớp suốt giờ học như thế nào. Cuối cùng Deborah nhoái người lại gần tôi và thì thầm: “Em trai tôi thường cảm thấy như thể nó bị cuộc sống đối xử bất công, vì bốn tháng sau khi mẹ tôi sinh nó, bà đã trở bệnh nặng. Nó có nhiều bực tức. Cô chỉ cần đảm bảo rằng cô sẽ gọi tên của nó một cách chính xác”.
Tôi đã đọc cái tên đó chưa chuẩn, Deborah bảo tôi, và tôi không được làm thế trước mặt anh ta. Anh ta tự đọc tên mình là Zuh-CAR- ee-uh không phải Zack-a-RYE-uh. Bobbette và Sonny đã gặp khó khăn trong việc nhớ cái tên này, nên họ đã gọi anh ta là Abdul, một trong số những tên đệm mới của anh ta. Nhưng chỉ khi anh ta không có mặt.
“Bất kể cô làm gì cũng đừng gọi nó là Joe”, Deborah bảo tôi. “Một người bạn của Lawrence đã gọi nó là Joe vào Lễ Tạ Ơn, và Zakariyya đấm cậu ta ngã nhào vào món khoai tây nghiền”.
Zakariyya chuẩn bị bước sang tuổi 50 và sống trong một khu nhà an dưỡng do Deborah giúp anh ta được nhận vào khi anh ta còn lang thang trên đường phố. Anh ta đủ tiêu chuẩn vì bị điếc và gần như đã mù nếu không đeo kính. Anh ta sống ở đó chưa lâu nhưng đã trong thời gian bị thử thách vì gây ồn ào và hay gây gổ với những người khác.
Khi Deborah, bọn trẻ và tôi bước xuống xe, đi về phía cửa chính, Deborah lớn tiếng đằng hắng và hất đầu về phía người đàn ông lực lưỡng mặc quần kaki đang tập tễnh bước ra từ khu nhà chính. Anh ta cao 1 mét 73 và nặng gần 180 kg. Anh ta đi dép quai hậu màu xanh sáng, áo phông hình Bob Marley bạc màu, và chiếc mũ bóng chày màu trắng có dòng chữ GIĂM BÔNG, THỊT NGUỘI, XÚC XÍCH.
“Chào Zakariyya!” – Deborah hét lên, vẫy tay quá đầu.
Zakariyya dừng bước và nhìn chúng tôi. Mái tóc đen của anh ta chải bẹp xuống đầu, mặt láng mịn và trẻ trung như Deborah, ngoại trừ cặp lông mày nhăn nhúm vì cau có mấy chục năm trời. Bên dưới cặp kính dày bằng nhựa, mắt anh ta sưng mọng, đỏ ngàu, và đầy quầng thâm quanh mắt. Một tay anh ta tựa vào chiếc gậy kim loại giống hệt của Deborah, tay còn lại cầm đĩa giấy to bự chảng với ít nhất nửa ký kem hoặc có lẽ là nhiều hơn trên đó. Dưới nách, anh ta kẹp vài tờ báo quảng cáo.
“Chị đã nói một tiếng nữa mới đến”, anh ta gắt gỏng.
“Ừ... thì... xin lỗi”, Deborah lẩm bẩm. “Đường xá vắng vẻ quá”.
“Tôi chưa chuẩn bị”, anh ta nói, rồi cầm lấy xấp báo dưới nách và đập mạnh vào mặt Davon. “Tại sao chị dẫn chúng đến?” – anh ta hét. “Chị biết tôi không thích trẻ con mà”.
Deborah kéo Davon kéo vào lòng mình, xoa má cho nó, lắp bắp nói bố mẹ chúng phải làm việc và không có ai trông chúng, nhưng cô hứa chúng sẽ yên lặng. Zakariyya quay người bước lại gần chiếc ghế băng trước tòa nhà nơi anh ta ở mà không nói thêm một lời.
Deborah vỗ vào vai tôi và chỉ vào chiếc ghế băng ở đối diện cửa tòa nhà, cách Zakariyya gần năm mét. Cô thì thầm: “Ra đó ngồi với tôi”, rồi hét lên: “Đi nào các cháu, sao các cháu không cho cô Rebecca thấy các cháu có thể chạy nhanh đến mức nào!”
Alfred và Davon thi nhau chạy quanh ngõ cụt trước tòa nhà của Zakariyya, hét lên: “Nhìn cháu này! Nhìn cháu này! Chụp ảnh cho cháu đi!”
Zakariyya ngồi ăn kem và đọc các tờ quảng cáo như thể chúng tôi không tồn tại. Cứ mỗi vài giây Deborah lại liếc nhìn anh ta, rồi nhìn tôi, rồi lũ trẻ, rồi lại nhìn Zakariyya. Có lúc cô thè lưỡi ra với Zakariyya, nhưng anh ta không nhìn thấy.
Cuối cùng, Zakariyya lên tiếng.
“Chị có cuốn tạp chí đó chứ?” – anh ta hỏi, nhìn chằm chằm ra ngoài đường.
Zakariyya đã nói với Deborah rằng anh ta muốn đọc bài báo trên Johns Hopkins Magazine mà tôi đã viết về mẹ của họ trước khi nói chuyện với tôi, và anh ta muốn tôi ngồi cạnh anh ta trong lúc anh ta đọc. Deborah đẩy tôi về phía ghế băng của anh ta, rồi nhảy dựng dậy, nói cô ấy và lũ trẻ sẽ đợi chúng tôi ở tầng trên, vì sẽ tốt hơn nếu chúng tôi nói chuyện ngoài trời giữa thời tiết đẹp thay vì ngồi ru rú trong nhà. Trời nóng 33 độ và ẩm ướt, nhưng cả Deborah và tôi đều không muốn tôi vào phòng một mình với anh ta.
“Tôi sẽ quan sát từ cửa sổ trên kia”, Deborah thì thầm. Cô ấy chỉ lên cửa sổ cách đó vài tầng. “Nếu có chuyện gì kỳ quái xảy ra, cứ vẫy tay và tôi sẽ chạy xuống”.
Trong lúc Deborah và lũ trẻ vào bên trong tòa nhà, tôi ngồi cạnh Zakariyya và bắt đầu nói với anh ta lý do tôi đến đây. Không buồn nhìn tôi hay nói một lời, anh ta lấy tờ tạp chí từ tay tôi và bắt đầu đọc. Tim tôi đập thình thịch mỗi khi anh ta thở dài, mà anh ta thì cứ thở dài suốt.
“Chết tiệt!” – đột nhiên anh ta hét lên, chỉ vào dòng chú thích bức ảnh ghi rằng Sonny là con trai út của Henrietta. “Anh ta không phải con út! Là tôi!” Zakariyya nhìn trừng trừng vào tôi trong lúc tôi nói dĩ nhiên tôi biết anh ta là con út, và tờ tạp chí đã viết dòng chú thích chứ không phải tôi.
“Tôi nghĩ sự ra đời của tôi là một điều kỳ diệu”, anh ta nói. “Tôi tin mẹ đã chờ sau khi tôi ra đời mới đi gặp bác sĩ vì bà muốn có tôi. Một đứa trẻ ra đời như vậy, với một người mẹ đầy khối u và bệnh tật, trong khi tôi không bị ảnh hưởng gì. Có khả năng tất cả những chuyện này là ý đồ của Chúa”.
Anh ta nhìn tôi lần đầu tiên kể từ khi tôi đến đây, rồi với tay vặn nút trên máy trợ thính.
“Tôi tắt nó đi để khỏi phải nghe tiếng lũ trẻ con ngu ngốc kia”, anh ta nói trong lúc điều chỉnh âm lượng của máy trợ thính cho đến khi nó không kêu re ré nữa. “Tôi tin rằng những việc mà lũ bác sĩ ấy đã làm là sai trái. Họ đã lừa chúng tôi trong suốt 25 năm, giấu các tế bào ấy không cho chúng tôi biết, rồi lại nói là mẹ tôi đã hiến tặng? Các tế bào ấy đã bị ăn trộm! Lũ khốn ấy đã đến lấy máu của chúng tôi, nói họ cần thực hiện một số xét nghiệm mà không cho chúng tôi biết họ đã hưởng lợi từ chúng trong suốt những năm qua. Làm vậy chẳng khác gì gắn một tờ giấy viết ‘Tôi là một thằng ngốc, đá đít tôi đi’ lên lưng chúng tôi. Người ta không biết chúng tôi nghèo kiết xác. Có lẽ họ nghĩ các tế bào của mẹ đã giúp chúng tôi trở nên giàu có. Tôi hy vọng George Grey đang khốn khổ dưới địa ngục. Nếu không phải lão ta đã xuống địa ngục rồi thì tôi sẽ lấy một cây đinh ba và cắm vào đít lão”.
Gần như phản xạ, tôi nói mà không buồn suy nghĩ: “Là George Gey, không phải Grey”.
Anh ta gắt lại: “Ai thèm bận tâm tên của lão là gì? Lão không ngừng nói với mọi người rằng tên của mẹ tôi là Helen Lane!” Zakariyya đứng lên và hét: “Những gì hắn đã làm là sai trái! Cực kỳ sai trái. Đó lẽ ra là việc của Chúa. Người ta nói có lẽ việc họ lấy tế bào của mẹ tôi và làm cho chúng bất tử để sản xuất thuốc là những gì Chúa muốn. Nhưng tôi không nghĩ vậy. Nếu Ngài muốn tạo ra một loại thuốc chữa bệnh, Ngài sẽ tự mình làm, đó không phải phận sự của con người. Và cô không được nói dối, không được nhân bản con người sau lưng họ. Làm vậy là sai trái – đó là một trong những sai phạm lớn nhất trong toàn bộ chuyện này. Nó như thể tôi bước vào nhà vệ sinh trong khi cô vẫn còn ở đó, quần thì tụt xuống tận mắt cá chân. Đó là việc làm thiếu đứng đắn nhất. Đó là lý do vì sao tôi nói tôi hy vọng lão ta đang chết thiêu dưới địa ngục. Nếu lão không đến đó từ đời nào rồi thì tôi sẽ tự tay giết lão”.
Đột nhiên, Deborah xuất hiện bên cạnh tôi với một cốc nước. “Tôi nghĩ có thể cô đang khát”, Deborah nói với giọng nghiêm nghị như thể muốn nói Chuyện gì đang xảy ra ở đây?, bởi vì cô nhìn thấy Zakariyya đứng trước mặt tôi la hét.
Cô hỏi: “Mọi chuyện ở đây vẫn ổn chứ?”
“Ừ”, Zakariyya nói. Nhưng Deborah đặt tay lên vai anh ta và nói có lẽ đã đến lúc chúng tôi nên vào trong nhà.
Khi chúng tôi đi về phía cửa trước của tòa nhà, Zakariyya quay sang tôi và nói: “Lũ bác sĩ ấy nói các tế bào của mẹ tôi rất quan trọng và đã làm việc này việc kia để giúp đỡ người khác. Nhưng nó chẳng giúp được gì cho bà, và nó không giúp được gì cho chúng tôi. Nếu tôi hay chị gái của tôi cần gì, chúng tôi thậm chí còn không thể đi gặp bác sĩ vì không đủ tiền. Những người duy nhất được lợi từ các tế bào của mẹ tôi là những người có tiền, và những người bán chúng – họ đã giàu lên nhờ mẹ tôi trong khi chúng tôi chẳng nhận được gì”. Anh ta lắc đầu. “Trong mắt tôi, lũ người chết tiệt ấy không đáng được nhận sự giúp đỡ của bà”.
Căn hộ của Zakariyya là căn phòng nhỏ với khu bếp tí hon – nơi Deborah và lũ trẻ đang ngồi nhìn chúng tôi từ cửa sổ. Đồ đạc của Zakariyya có thể nhét vừa khoang sau của một chiếc bán tải: chiếc bàn formica nhỏ, hai chiếc ghế gỗ, một chiếc đệm không có khung đặt bên dưới, bọc đệm bằng nhựa trong, và bộ ga trải giường màu xanh tím than. Không có chăn, không gối. Đối diện giường là chiếc tivi nhỏ với đầu video đặt phía trên.
Bốn bức tường của Zakariyya trống trơn ngoại trừ một hàng những bức tranh photo. Một bức chụp Henrietta đứng chống nạnh treo cạnh một bức duy nhất khác được biết đến của bà. Trong bức hình ấy, bà đứng cạnh Day trong cửa hiệu vào những năm 1940, lưng của họ ưỡn thẳng, mắt mở lớn và nhìn thẳng về phía trước, miệng cứng đơ trong nụ cười gượng gạo. Có người đã chỉnh sửa bức ảnh đó và làm cho khuôn mặt của Henrietta có màu vàng không tự nhiên. Cạnh nó là bức hình rạng rỡ của chị gái anh ta, Elsie, đang đứng trước mái hiên màu trắng cạnh giỏ hoa khô. Lúc đó cô khoảng sáu tuổi, trong chiếc váy sọc và áo phông màu trắng, đi giày với tất dài đến mắt cá chân, mái tóc tuột ra khỏi bím, bàn tay phải ôm chặt một thứ gì đó lên ngực. Miệng khẽ mở, lông mày nheo lại lo lắng, cả hai mắt nhìn sang góc phải màn hình, nơi Deborah nghĩ mẹ cô đang đứng.
Zakariyya chỉ vào một số các chứng chỉ treo gần những bức ảnh, nghề hàn, nghề sửa chữa điện lạnh, xăng dầu. “Tôi có vô số chứng chỉ”, anh ta nói, “nhưng chẳng việc nào nên hồn vì lý lịch phạm tội và đủ thứ khác nhau, nên tôi vẫn vướng vào đủ loại rắc rối”. Zakariyya đã không ngừng gặp phải các vấn đề pháp lý kể từ khi ra tù, với đủ loại tội, từ đánh nhau cho đến say xỉn và gây mất trật tự.
“Tôi nghĩ các tế bào ấy là lý do khiến tôi khó tính đến vậy”, anh ta nói. “Tôi đã phải chiến đấu trước cả khi được làm người. Đó là lời lý giải duy nhất cho việc tại sao tôi có thể ngăn chặn được các tế bào ung thư không phát triển khắp người, khi tôi vẫn còn trong bụng mẹ. Tôi đã phải chiến đấu khi mới chỉ là một đứa trẻ trong bụng mẹ, và tôi chẳng biết làm gì khác ngoài chiến đấu”.
Deborah nghĩ nguyên nhân sâu xa hơn thế. “Ả đàn bà quỷ quyệt Ethel đã dạy cho nó sự thù hận”, cô ấy nói. “Bà ta đã đánh đập cơ thể nhỏ bé của nó cho đến khi từng chút xấu xa thấm dần vào người nó – nhét nỗi thù hằn của một kẻ sát nhân vào nó”.
Zakariyya cười khẩy khi nghe thấy tên Ethel. “Sống cùng ả đàn bà điên khùng ưa bạo lực đó còn tồi tệ hơn cả sống trong tù!” – anh ta hét lên, mắt nheo lại thành hai đường kẻ. “Thật khó để nói về những gì bà ta đã làm với tôi. Khi nghĩ đến những chuyện ấy, tôi chỉ muốn giết chết bà ta, và cha tôi. Vì ông ta mà tôi không biết mẹ tôi đã được chôn ở đâu. Khi lão đần ấy chết, tôi cũng không muốn biết lão được chôn ở đâu. Ông ta cần phải đến bệnh viện? Thì cứ để ông ta đi taxi! Lũ họ hàng giả tạo đã chôn mẹ tôi cũng vậy. Tôi không muốn gặp lũ người da màu đó nữa”.
Deborah nhăn mặt. “Cô thấy chưa”, Deborah nói, nhìn vào tôi. “Mọi người không bao giờ để nó nói vì nó chỉ nói những điều nó thích. Tôi thì bảo cứ để cho nó nói, ngay cả khi chúng ta cảm thấy bực tức vì những điều ấy. Nó điên, nên phải để cho nó trút giận, bằng không nó sẽ để cho những điều ấy đè nén, và chúng sẽ làm nó nổ tung”.
“Xin lỗi”, Zakariyya nói. “Có thể các tế bào của bà đã làm được một số việc tốt cho một số người, nhưng tôi thà có mẹ còn hơn. Nếu không phải bà đã mất, có lẽ tôi đã trở thành một người tốt hơn”.
Deborah đứng dậy khỏi giường, nơi cô đang ngồi cùng các cháu trai, đầu chúng gối trên đùi cô. Cô lại gần Zakariyya và quàng tay ôm eo anh ta. “Đi nào, tiễn chúng tôi ra xe”, cô ấy nói. “Tôi có thứ muốn đưa cho cậu”.
Ra đến bên ngoài, Deborah mở cửa sau của chiếc xe jeep và lục đống chăn, quần áo, giấy báo, cho đến khi quay lại, tay cô cầm bức hình các nhiễm sắc thể của Henrietta mà Christoph Lengauer đã gửi tặng. Cô miết tay trên mặt kính, rồi đưa nó cho Zakariyya.
“Đây là các tế bào của mẹ ư?” – anh ta hỏi.
Deborah gật đầu. “Nhìn thấy những chỗ nhuộm màu sáng này không? Đó là DNA của bà”.
Zakariyya nâng bức hình lên ngang tầm mắt rồi chăm chú nhìn trong im lặng. Cuối cùng, Deborah xoa tay lên lưng anh ta và thì thầm: “Tôi nghĩ nếu có người xứng đáng nhận nó, thì đó là cậu, Zakariyya”.
Zakariyya xoay bức hình để nhìn nó từ các góc khác nhau. “Chị muốn tôi giữ nó ư?” – cuối cùng anh ta nói.
“Phải, muốn cậu giữ nó, treo nó lên tường”, Deborah nói.
Mắt Zakariyya đẫm lệ. Trong một khoảnh khắc, những quầng thâm quanh mắt anh ta dường như biến mất, và cơ thể anh ta thả lỏng.
“Phải”, anh ta nói, bằng giọng nhẹ nhàng, không như bất cứ thứ gì chúng tôi đã được nghe hôm đó. Anh ta đặt tay lên vai Deborah. “Cảm ơn”.
Deborah quàng tay quanh bụng Zakariyya, rồi ôm chặt. “Vị tiến sĩ tặng tôi bức hình này đã nói anh ta làm việc với các tế bào của mẹ chúng ta suốt cả đời mà không biết chúng đến từ đâu. Anh ta nói anh ta xin lỗi”.
Zakariyya nhìn tôi. “Tên anh ta là gì?”
Tôi nói cho Zakariyya biết tên của vị tiến sĩ, rồi bảo: “Anh ấy muốn gặp mọi người và cho mọi người xem các tế bào”.
Zakariyya gật đầu, tay anh ta vẫn quàng qua vai Deborah. “Được rồi”, anh ta nói. “Nghe được đấy. Hãy làm vậy đi”. Rồi anh ta chậm rãi bước về phía căn hộ của mình, giữ bức hình ngang tầm mắt, chẳng nhìn thấy gì phía trước ngoài DNA trong các tế bào của mẹ.
❀ ❀ ❀
[1] World Wrestling Federation: Liên đoàn Đô vật Thế giới.