Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
32. “Tất cả đều là mẹ tôi”

❊ ❊ ❊

32

“Tất cả đều là mẹ tôi”

Khi Deborah chuẩn bị đi xem các tế bào của mẹ lần đầu tiên, Day đã không thể đi cùng. Ông đã nói rất nhiều lần rằng ông muốn đi xem các tế bào của vợ trước khi chết, nhưng ông đã 85 tuổi, suốt ngày ra vào bệnh viện vì bệnh tim và huyết áp, lại vừa mất một chân vì bệnh tiểu đường. Sonny phải đi làm, còn Lawrence thì nói anh muốn đi gặp luật sư để kiện Hopkins thay vì đi xem các tế bào, và anh gọi đó là “phi vụ bạc triệu”.

Do vậy vào ngày 11 tháng 5 năm 2001, Deborah, Zakariyya và tôi hẹn gặp nhau ở tượng Chúa Jesus trong Hopkins để đi xem các tế bào của Henrietta. Sáng sớm hôm đó, Deborah đã cảnh báo tôi rằng Lawrence nghĩ Hopkins đang trả tiền để tôi thu thập thông tin về gia đình họ. Lawrence đã gọi cho Deborah vài lần ngày hôm đó nói rằng anh sẽ đến lấy tất cả các tài liệu mà cô đã thu thập được về mẹ của họ. Nên Deborah đã khóa cửa văn phòng của mình lại, cầm chìa khóa theo người, và gọi cho tôi, dặn là: “Đừng nói với anh ấy cô đang ở đâu, cũng đừng đi gặp anh ấy mà không có tôi”.

Lúc tôi đến gần bức tượng Chúa Jesus, nó vẫn đứng sừng sững như khi Henrietta đến bệnh viện 50 năm trước, đổ bóng cao hơn ba mét dưới mái vòm nhiều tầng, cặp mắt bằng cẩm thạch không tròng nhìn đăm đăm về phía trước, cánh tay dang rộng và khoác áo choàng bằng cẩm thạch. Dưới chân Chúa, người ta đã ném hàng chồng tiền xu, những bông cúc đã héo và hai bông hoa hồng – một bông có gai nhọn còn tươi, bông còn lại làm bằng vải với những giọt sương bằng nhựa. Thân bức tượng có màu nâu xám và tối xỉn, ngoại trừ bàn chân phải màu trắng sáng bóng sau hàng thập niên được người ta xoa để cầu may.

Deborah và Zakariyya không ở đó, nên tôi đứng tựa vào một bức tường, nhìn một bác sĩ trong bộ quần áo phẫu thuật màu xanh đang quỳ dưới bức tượng và cầu nguyện trong lúc những người khác xoa chân của Chúa trên đường vào bệnh viện mà không buồn nhìn hay đi chậm lại. Một vài người dừng lại để viết những lời cầu nguyện vào các cuốn sổ khổ lớn đặt trên bệ bằng gỗ gần bức tượng: “Gửi Đấng Bề Trên Tôn Kính: Nếu đây là ý nguyện của ngài, xin hãy để con được nói chuyện với Eddie một lần cuối”. “Xin hãy giúp các con trai của con cai được nghiện”. “Con xin ngài hãy cho con và chồng của con một công việc”. “Tạ ơn Chúa vì đã cho con thêm một cơ hội”.

Tôi tiến lại gần bức tượng, tiếng giày cao gót của tôi vọng trên nền đá cẩm thạch, rồi đặt tay lên ngón chân cái của Ngài – nơi gần nhất mà tôi từng đến để cầu nguyện. Đột nhiên Deborah đứng cạnh tôi, thì thầm: “Tôi hy vọng lần này Ngài sẽ giúp đỡ chúng ta”. Giọng của cô cực kỳ bình tĩnh, nụ cười bồn chồn thường trực của cô đã biến mất.

Tôi nói rằng tôi cũng hy vọng vậy.

Deborah nhắm mắt và bắt đầu cầu nguyện. Rồi Zakariyya xuất hiện sau lưng chúng tôi, phá lên cười.

“Ông ta không thể giúp gì cho chị nữa đâu!” – Zakariyya hét lên. Anh ta đã tăng cân kể từ lần cuối chúng tôi gặp mặt, và chiếc quần len nặng nề màu xám, áo phao dày màu xanh khiến anh ta trông càng béo hơn. Gọng kính bằng nhựa ép chặt đến nỗi chúng đã hằn vào thái dương, nhưng anh ta không đủ tiền để mua kính mới.

Anh ta nhìn tôi và nói: “Bà chị của tôi thật điên rồ khi không muốn nhận tiền từ các tế bào”.

Deborah đảo mắt và lấy gậy đập vào chân anh ta: “Cư xử cho đàng hoàng, bằng không cậu không được xem các tế bào”.

Zakariyya thôi cười và đi theo trong lúc chúng tôi hướng tới phòng thí nghiệm của Christoph Lengauer. Vài phút sau Christoph bước về phía chúng tôi từ hành lang tòa nhà nơi anh ta làm việc, miệng mỉm cười, cánh tay dang rộng. Anh ta khoảng 35 tuổi, mặc quần jeans bạc màu, áo sọc xanh, và mái tóc màu nâu sáng bờm xờm. Anh ta bắt tay tôi, Deborah, rồi chìa tay ra với Zakariyya. Nhưng Zakariyya không buồn nhúc nhích.

“Được rồi!” Christoph nói, nhìn về phía Deborah. “Hẳn phải khó khăn cho các anh chị lắm khi đặt chân đến phòng thí nghiệm của Hopkins sau tất cả những chuyện đã xảy ra. Tôi rất mừng khi được gặp mọi người ở đây”. Anh ta nói giọng Úc, khiến Deborah phải nhướn chân mày với tôi khi anh ta quay người để bấm nút gọi thang máy. “Tôi nghĩ chúng ta nên bắt đầu từ phòng đông lạnh để tôi có thể cho mọi người thấy cách chúng tôi lưu trữ tế bào của bà, rồi chúng ta có thể đi xem các tế bào sống dưới kính hiển vi”.

“Tuyệt lắm”, Deborah đáp, như thể anh ta vừa nói một điều hoàn toàn bình thường. Cô đứng ép vào Zakariyya, một tay dựa chiếc gậy, tay còn lại nắm chặt cuốn từ điển đã sờn nát. Khi cửa mở, chúng tôi đi theo Christoph qua một hành lang dài hẹp, tường và trần của nó rung lên trong tiếng kêu vù vù ngày càng lớn hơn khi chúng tôi đến gần. “Đó là hệ thống lọc khí”, Christoph hét lên. “Nó hút tất cả hóa chất và tế bào ra ngoài để chúng ta không hít phải chúng”.

Anh ta đẩy cửa phòng thí nghiệm và vẫy chúng tôi vào trong. “Đây là nơi chúng tôi lưu trữ tất cả các tế bào”, anh ta hét lên để át tiếng động cơ inh tai khiến máy trợ thính của Deborah và Zakariyya ré lên.

Zakariyya với tay lên và giật máy trợ thính ra. Deborah chỉ chỉnh âm lượng trong máy của mình, rồi đi qua Christoph, bước vào căn phòng chứa đầy các tủ đông màu trắng xếp chồng lên nhau dọc bốn bức tường kêu ầm ầm như một biển những chiếc máy giặt ở hiệu giặt là công nghiệp. Cô ném cho tôi một cái nhìn kinh hãi, mắt mở lớn.

Christoph kéo cửa chiếc tủ đông màu trắng cao tới trần nhà, và nó mở ra trong tiếng rít lớn, phả một đám khói vào căn phòng. Deborah hét lên và nhảy ra sau lưng Zakariyya, vẫn đang đứng không để lộ cảm xúc, tay đút trong túi.

“Đừng lo”, Christoph hét, “không nguy hiểm đâu, chỉ lạnh thôi. Chúng không ở mức âm 200C như ngăn đông trong tủ lạnh của mọi người ở nhà, mà âm 80 độ. Vì thế khi tôi mở cửa, khói thoát ra”. Anh ta bảo Deborah lại gần hơn.

“Tất cả đều chứa đầy các tế bào của bà ấy”, anh ta nói.

Deborah buông tay khỏi Zakariyya và nhích từng bước lại gần tủ đông cho đến khi hơi lạnh phả vào mặt cô, và cô đứng đó nhìn chăm chú vào hàng ngàn các ống nghiệm bằng nhựa cao vài centimet chứa chất lỏng màu đỏ bên trong.

“Ôi Chúa ơi”, cô ấy thở gấp. “Tôi không thể tin được rằng tất cả đều là mẹ tôi”. Zakariyya chỉ chăm chú nhìn trong im lặng.

Christoph thò tay vào tủ, lấy một ống nghiệm, và chỉ vào dòng chữ H-e-L-a viết bên ngoài. “Có hàng triệu, hàng triệu các tế bào của Henrietta trong này”, anh ta nói. “Có thể là hàng tỉ. Cô có thể giữ chúng trong này mãi mãi. 50 năm, 100 năm, thậm chí là lâu hơn – sau đó cô chỉ việc rã đông và chúng sẽ phát triển”.

Anh ta vừa lắc ống nghiệm đựng tế bào, vừa nói về việc phải cẩn thận thế nào khi xử lý chúng. “Chúng tôi có riêng một phòng chỉ để chứa các tế bào”, anh ta nói. “Điều đó rất quan trọng. Vì nếu cô để chúng bị lây nhiễm, cô sẽ không thể sử dụng chúng nữa. Và cô cũng không muốn các tế bào HeLa nhiễm sang các môi trường nuôi cấy khác trong phòng thí nghiệm”.

“Đó là những gì đã xảy ra ở Nga phải không?” – Deborah hỏi.

Anh ta ngập ngừng trong giây lát rồi mỉm cười. “Phải”, anh ta nói. “Chính xác là vậy. Thật tuyệt khi cô biết về chuyện đó”. Anh ta giải thích sự lây nhiễm HeLa diễn ra như thế nào, rồi nói: “Các tế bào của bà đã gây tổn thất hàng triệu đô la. Có vẻ là một việc công bằng, phải không?” “Mẹ tôi chỉ đang trả đũa những nhà nghiên cứu vì đã giấu không cho gia đình tôi biết chuyện”, Deborah nói. “Các cậu không được giỡn mặt với Henrietta – bà sẽ nhét HeLa vào đít các cậu!” Mọi người phá lên cười.

Christoph thò tay vào tủ đông phía sau, lấy một ống tế bào HeLa khác, rồi đưa nó cho Deborah, mắt anh ta trìu mến. Cô bàng hoàng đứng đó trong giây lát, nhìn chằm chằm vào bàn tay đang chìa ra của anh ta, rồi cầm lấy ống nghiệm và bắt đầu xoa nó giữa hai lòng bàn tay, như thể cô đang giữ ấm cho mình giữa mùa đông.

“Bà lạnh quá”, Deborah nói, chụm tay lại và thổi vào ống nghiệm. Christoph vẫy tay bảo chúng tôi đi theo anh vào phòng nuôi cấy tế bào, nơi anh rã đông các tế bào, nhưng Deborah không chịu di chuyển. Trong lúc Zakariyya và Christoph bước đi, cô nâng ống nghiệm lên và chạm vào môi.

“Mẹ rất nổi tiếng”, cô thì thầm. “Chỉ là không ai biết điều đó”.

Christoph dẫn chúng tôi vào một phòng thí nghiệm nhỏ chứa đầy những chiếc kính hiển vi, pipet và chai lọ ghi những dòng chữ như CHẤT SINH HỌC ĐỘC HẠI hay DNA. Anh ta nói trong lúc chỉ vào các tủ hút thông gió đặt trên bàn: “Chúng tôi không muốn mầm bệnh ung thư ở khắp nơi, nên thứ này sẽ hút không khí vào hệ thống lọc khí để có thể bắt giữ và tiêu diệt tất cả các tế bào bay trong không khí”.

Anh ta giải thích môi trường nuôi cấy là gì, và cách chuyển các tế bào từ tủ đông sang tủ ấm để nuôi. “Cuối cùng chúng được đưa vào những ống nghiệm khổng lồ ở đằng sau”, anh ta vừa nói vừa chỉ vào những chiếc bình nuôi cấy to cỡ 4 lít. “Rồi chúng tôi làm thí nghiệm với chúng, ví dụ như khi tìm ra một loại thuốc mới để trị bệnh ung thư, chúng tôi đổ nó lên các tế bào để xem chuyện gì sẽ xảy ra”. Zakariyya và Deborah gật đầu trong lúc Christoph nói cho họ biết cách các loại thuốc trải qua quá trình thử nghiệm trên tế bào, trên động vật, và cuối cùng là trên người.

Christoph khuỵu gối trước một tủ nuôi cấy tế bào, thò tay vào trong, rồi lấy ra một cái đĩa có HeLa. “Chúng rất, rất nhỏ”, anh ta nói. “Vì thế chúng ta sẽ chuyển sang kính hiển vi để tôi có thể chỉ cho các anh chị”. Anh ta bật công tắc, đặt cái đĩa lên kính hiển vi, rồi chỉ vào một màn hình nhỏ gắn trên kính. Nó phát lên ánh sáng xanh huỳnh quang, và Deborah kinh ngạc.

“Màu đẹp quá!”

Christoph cúi người trên kính hiển vi, chỉnh tiêu cự để lấy nét vào các tế bào, và hình ảnh hiện lên trên màn hình, trông nó giống như một hồ nước màu xanh mờ ảo hơn là các tế bào.

“Ở mức phóng đại này, chúng ta không thể nhìn thấy rõ”, Christoph nói. “Trông hơi nhàm chán vì các tế bào rất nhỏ, ngay cả khi đã dùng kính hiển vi, đôi khi chúng ta cũng không thể nhìn thấy chúng”. Anh ta chỉnh đến độ phóng đại cao hơn cho đến khi biển xanh mờ ảo biến thành hàng trăm các tế bào đơn lẻ, nhân của chúng tối và phình lên.

“Ồ”, Deborah thì thầm. “Chúng kia rồi”. Cô đưa tay ra và chạm vào màn hình, miết ngón tay trên từng tế bào.

Christoph đưa tay theo viền của một tế bào. “Đây là một tế bào”, anh ta nói. “Trông nó như một hình tam giác với vòng tròn ở chính giữa, mọi người có thấy không?” Anh ta lấy một mẩu giấy và dành gần nửa tiếng để vẽ các biểu đồ và giải thích sơ bộ về các tế bào trong lúc Deborah đặt câu hỏi. Zakariyya tăng máy trợ thính và cúi người lại gần Christoph và mảnh giấy.

“Mọi người lúc nào cũng nói về tế bào và DNA”, Deborah nói, “nhưng tôi không hiểu DNA và tế bào là cái gì”.

“À”, Christoph nói, vẻ hứng khởi, “DNA nằm trong tế bào. Trong mỗi nhân tế bào, nếu chúng ta phóng to hơn, cô có thể thấy một mẩu DNA trông như thế này”. Anh ta vẽ một đường dài nguệch ngoạc. “Có 46 mẩu DNA trong nhân tế bào của mỗi người. Chúng tôi gọi chúng là các nhiễm sắc thể – chúng là thứ được tô màu sáng trong bức hình lớn mà tôi đã đưa cho cô”.

“Ồ! Em trai tôi đang treo bức hình ở nhà, cạnh bức hình của mẹ và chị gái tôi”, Deborah nói, rồi nhìn Zakariyya. “Cậu có biết đây là người đã đưa bức hình đó cho chúng ta không?” Zakariyya nhìn xuống sàn và gật đầu, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười.

“DNA ở bức ảnh chứa tất cả các thông tin di truyền tạo nên đặc tính của Henrietta”, Christoph nói với họ. “Bà ấy cao hay thấp?”

“Thấp”.

“Và tóc của bà ấy sẫm màu, phải không?”

Chúng tôi gật đầu.

“Tất cả các thông tin đó được quy định bởi DNA của bà”, anh ta nói. “Bệnh ung thư của bà cũng vậy – nó bắt nguồn từ một sai hỏng trong DNA”.

Mặt Deborah xị xuống. Cô đã nhiều lần được nghe rằng cô thừa hưởng một số DNA bên trong các tế bào của mẹ. Cô không muốn nghe thấy rằng căn bệnh ung thư của bà cũng nằm trong DNA đó.

Christoph tiếp tục: “Các sai hỏng đó có thể xảy ra khi tiếp xúc với hóa chất hoặc phóng xạ, nhưng trong trường hợp của bà Henrietta, nó bắt nguồn từ HPV, một loại virus mụn sinh dục. Tin tốt lành cho các anh chị là con cái không thừa hưởng những thay đổi trong DNA này từ cha mẹ – chúng chỉ xảy ra khi tiếp xúc với virus”.

“Vậy chúng tôi không có thứ khiến các tế bào của bà sống vĩnh viễn?” – Deborah hỏi. Christoph lắc đầu. “Giờ thì cậu mới nói với tôi, sau ngần ấy năm trời! Tạ ơn Chúa, vì tôi đã thắc mắc từ lâu!” – Deborah hét lên.

Cô chỉ vào một tế bào trông có vẻ dài hơn các tế bào khác trong màn hình. “Đây là tế bào ung thư phải không? Và tất cả tế bào còn lại là các tế bào thường?”

“Thực ra, toàn bộ HeLa đều là các tế bào ung thư”, Christoph đáp. “Đợi chút đã”, Deborah nói, “ý cậu là không có tế bào thường nào của mẹ tôi còn sống à? Chỉ còn các tế bào ung thư của bà?”

“Phải”.

“Ồ! Vậy mà suốt từ đó đến giờ tôi vẫn nghĩ các tế bào thường của mẹ tôi vẫn còn sống!”

Christoph lại khom người trên chiếc kính hiển vi và bắt đầu di chuyển nhanh các tế bào quanh màn hình cho đến khi anh ta reo lên: “Nhìn kìa! Thấy tế bào đó chứ?” Anh ta chỉ vào trung tâm màn hình. “Mọi người thấy nhân tế bào của nó lớn và trông như bị bóp làm đôi ngay chính giữa chứ? Tế bào đó đang phân chia thành hai tế bào con ngay trước mắt chúng ta! Và cả hai tế bào đó đều chứa DNA của bà”.

“Chúa rủ lòng thương”, Deborah thì thầm, lấy tay che miệng.

Christoph tiếp tục nói về sự phân bào, nhưng Deborah không còn lắng nghe nữa. Cô đứng như bị thôi miên, nhìn một trong số các tế bào của mẹ cô chia làm hai, hệt như cách chúng đã làm khi Henrietta còn là một bào thai trong bụng mẹ.

Deborah và Zakaziyya nhìn chăm chú vào màn hình như thể họ đã rơi vào trạng thái hôn mê, miệng mở lớn, má xệ xuống. Đó là điều gần nhất với việc được thấy mẹ của họ còn sống khi họ còn là những đứa trẻ.

Sau một hồi im lặng dài lâu, Zakariyya lên tiếng.

“Nếu đó là các tế bào của mẹ tôi”, anh ta nói, “tại sao chúng không có màu đen trong khi bà là một người da màu?” “Dưới kính hiển vi, các tế bào không có màu”, Christoph nói. “Chúng đều giống nhau – chúng trong suốt cho đến khi chúng tôi nhuộm màu. Chúng ta không thể biết màu da của một người bằng cách nhìn các tế bào của người đó”. Anh ta vẫy tay bảo Zakariyya lại gần hơn. “Anh có muốn nhìn chúng qua kính hiển vi không? Trông sẽ rõ hơn”.

Christoph dạy Deborah và Zakariyya cách sử dụng kính hiển vi: “Nhìn qua lỗ này... bỏ kính mắt ra... giờ thì xoay nút này để chỉnh tiêu cự”. Cuối cùng các tế bào cũng hiện lên cho Deborah thấy. Và trong khoảnh khắc ấy, qua kính hiển vi, tất cả những gì cô nhìn thấy là một biển các tế bào của mẹ cô, được nhuộm huỳnh quang màu xanh lá.

“Chúng đẹp tuyệt!” – cô ấy thì thầm, rồi lại nhìn các tế bào trong im lặng. Cuối cùng, cô ấy nói mà vẫn không rời mắt khỏi các tế bào: “Chúa ạ, tôi chưa bao giờ nghĩ lại được thấy mẹ mình dưới kính hiển vi – tôi chưa bao giờ mơ đến ngày này”.

“Phải, tôi nghĩ Hopkins đã làm sai”, Christoph nói.

Deborah bật dậy và nhìn anh ta, bàng hoàng khi nghe thấy một nhà nghiên cứu – một nhà nghiên cứu của Hopkins – lại nói những điều ấy. Rồi cô lại nhìn vào kính hiển vi, nói: “John Hopkin là một trường đại học, và đó là điều quan trọng. Nhưng đây là mẹ tôi. Có vẻ không ai hiểu điều đó”.

“Đúng vậy”, Christoph nói. “Mỗi lần chúng tôi đọc sách khoa học, đều chỉ nói HeLa thế này, HeLa thế kia. Một số người biết đó là chữ viết tắt của tên một người, nhưng họ không biết người ấy là ai. Đó là một câu chuyện lịch sử quan trọng”.

Deborah trông như muốn ôm lấy Christoph. “Điều này thật tuyệt vời”, cô ấy nói, lắc đầu và nhìn anh ta như thể anh ta là một ảo ảnh.

Bỗng nhiên Zakariyya thét lên điều gì đó về George Gey. Deborah đập gậy vào ngón chân của anh ta và Zakariyya ngừng nói giữa chừng.

“Zakariyya rất bực bội với tất cả những chuyện đã xảy ra”, cô nói với Christoph. “Tôi đã tìm cách làm nó bình tĩnh hơn. Đôi lúc nó nổi điên lên, nhưng nó đang cố gắng giữ bình tĩnh”.

“Tôi không trách anh chị vì đã tức giận”, Christoph nói. Rồi anh ta cho họ xem tờ catalog mà anh ta đã sử dụng để đặt mua các tế bào HeLa. Có một danh sách dài các dòng tế bào HeLa khác nhau mà bất kỳ ai cũng có thể mua với giá 167 đô mỗi ống.

“Các anh chị nên giữ một phần”, Christoph nói với Deborah và Zakariyya.

“Phải rồi”, Deborah nói. “Tôi sẽ làm gì với một ống tế bào của mẹ tôi?” cô ấy bật cười.

“Không, ý tôi là các anh chị nên được hưởng một phần tiền. Dù chỉ một phần”.

“Ồ”, cô ấy nói, cảm thấy choáng váng. “Bỏ đi. Mỗi khi có người biết HeLa là ai, điều đầu tiên họ nói là, ‘Các anh chị đáng nhẽ phải là triệu phú!’”

Christoph gật đầu. “Các tế bào của bà là nơi mọi chuyện bắt đầu”, anh ta nói. “Một khi có phương pháp chữa bệnh ung thư, chắc chắn công lớn sẽ thuộc về các tế bào của bà”.

“Amen”, Deborah nói. Rồi, không một chút giận dữ, cô nói với anh ta: “Chúng tôi chẳng thể làm được gì, người ta sẽ luôn kiếm lời từ các tế bào đó. Nhưng chúng tôi cũng sẽ không lấy được một đồng nào”.

Christoph nói anh ta nghĩ điều đó là không đúng. Anh ta nói tại sao không coi các tế bào có giá trị giống như một mỏ dầu. Khi bạn tìm được một mỏ dầu trên đất của người khác, nó sẽ không tự động trở thành tài sản của họ, nhưng họ sẽ nhận được một phần lợi tức. “Không ai biết phải làm gì khi với các vấn đề có liên quan đến các tế bào”, anh ta nói. “Khi mẹ của các anh chị đổ bệnh, các bác sĩ chỉ làm những gì họ muốn và bệnh nhân đã không hỏi. Nhưng ngày nay, các bệnh nhân muốn biết chuyện gì đang diễn ra”.

“Amen”, Deborah lại nói.

Christoph đưa số điện thoại di động của anh ta cho họ và nói họ có thể gọi cho anh ta bất cứ lúc nào nếu có thắc mắc về các tế bào của mẹ họ. Trong lúc chúng tôi bước về phía thang máy, Zakariyya đưa tay ra và chạm vào lưng của Christoph, nói cảm ơn anh ta. Khi ra đến bên ngoài, Zakariyya cũng làm vậy với tôi, rồi quay người và bắt xe buýt về nhà.

Deborah và tôi đứng trong im lặng, nhìn Zakariyya bước đi. Rồi cô vòng một tay ôm tôi: “Cô vừa được chứng kiến một phép màu đấy”.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.