Mốc thời gian
| 1889 | Bệnh viện Johns Hopkins được thành lập. |
| 1912 | Alexis Carrel tuyên bố đã nuôi thành công những tế bào tim gà “bất tử”. |
| 1920 | Henrietta Lacks sinh ra tại Roanoke, Virginia. |
| 1947 | Quy tắc Nuremberg, một loạt những tiêu chuẩn đạo đức cho các thí nghiệm tiến hành trên người, được tạo ra sau phiên tòa chống lại các bác sĩ Đức Quốc xã, những kẻ đã tiến hành thí nghiệm trên tù nhân trong Thế chiến Thứ hai. |
| 1951 | George Gey nuôi cấy thành công dòng tế bào người bất tử đầu tiên từ khối u lấy từ cổ tử cung của Henrietta. Dòng tế bào này được đặt tên là HeLa – viết tắt từ hai chữ cái đầu của tên và họ của Henrietta Lacks. |
| 1951 | Henrietta Lacks qua đời vì mắc một loại bệnh ung thư cổ tử cung ác tính. |
| 1952 | Các tế bào HeLa trở thành những tế bào sống đầu tiên được vận chuyển qua đường bưu điện. |
| 1952 | Viện Tuskegee mở “nhà máy HeLa” đầu tiên, cung cấp tế bào cho các phòng thí nghiệm và các nhà nghiên cứu và vận hành như là một tổ chức phi lợi nhuận. Sau đó vài năm, công ty Liên hiệp Vi Sinh học bắt đầu kinh doanh HeLa vì mục đích thương mại. |
| 1952 | Các nhà khoa học sử dụng tế bào HeLa để giúp phát triển vắc-xin bại liệt. |
| 1953 | Các tế bào HeLa trở thành những tế bào đầu tiên được nhân bản vô tính. |
| 1954 | Cái tên giả “Helen Lane” lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí, như là nguồn gốc của các tế bào HeLa. |
| 1954 | Chester Southam bắt đầu tiến hành thí nghiệm tiêm các tế bào HeLa vào bệnh nhân để xem chúng có thể gây ung thư không, mà không có sự chấp thuận của họ. |
| 1957 | Cụm từ “sự chấp thuận sau khi được thông tin đầy đủ” lần đầu tiên xuất hiện trong các tài liệu của tòa án. |
| 1965 | Các tế bào HeLa được lai với các tế bào chuột, tạo thành các tế bào lai giữa người và động vật đầu tiên. |
| 1965 | Hội đồng Quản trị của Đại học Bang New York đã khép Southam và một đồng nghiệp vào tội không chuyên nghiệp trong quá trình hành nghề. Họ cũng kêu gọi những hướng dẫn nghiêm ngặt hơn cho các đối tượng nghiên cứu con người và sự chấp thuận sau khi được thông tin đầy đủ. |
| 1966 | Để bảm bảo những hướng dẫn mới dành cho các nghiên cứu trên đối tượng con người được thực thi, Viện Y tế Quốc gia bắt đầu yêu cầu phải có sự phê chuẩn của Hội đồng Kiểm duyệt Nghiên cứu (IRB) cho tất cả các nghiên cứu mà họ tài trợ. |
| 1966 | Stanley Gartler thả “quả bom HeLa” và cho rằng các tế bào HeLa đã nhiễm vào rất nhiều dòng tế bào khác. |
| 1970 | George Gey chết vì ung thư tuyến tụy. |
| 1971 | Trong một bài viết để tưởng nhớ Gey, cái tên Henrietta Lacks được xác định chính xác trên mặt báo lần đầu tiên như là nguồn gốc của HeLa. |
| 1973 | Nhà Lacks lần đầu tiên biết rằng các tế bào của Henrietta vẫn còn sống. |
| 1973 | Các nhà nghiên cứu của Johns Hopkins lấy mẫu từ các con của Henrietta để nghiên cứu về HeLa, mà không có sự chấp thuận sau khi được giải thích của họ. |
| 1974 | Chính sách Liên bang để Bảo vệ các Đối tượng Con người (Thông Luật) yêu cầu phải có sự chấp thuận sau khi được thông tin đầy đủ trong các nghiên cứu có các đối tượng con người. |
| 1975 | Michael Rogers đăng tải một bài báo về HeLa và gia đình nhà Lacks trên tờ Rolling Stone. Gia đình nhà Lacks lần đầu tiên biết rằng các tế bào của Henrietta đã được thương mại hóa. |
| 1984 | John Moore kiện bác sĩ của anh ta và Hội đồng Quản trị của trường Đại học California về quyền sở hữu các mô tế bào của anh, nhưng thất bại. Moore nộp đơn kháng cáo. |
| 1985 | Bệnh án của Henrietta được công bố mà không có sự đồng ý của gia đình bà. |
| 1988 | Tòa Phúc thẩm California lại bảo vệ John Moore, nói rằng các bệnh nhân phải có quyền kiểm soát những gì sẽ được tạo thành từ mô của họ. Bác sĩ của Moore và trường Đại học California kháng cáo. |
| 1991 | Tòa án Tối cao của California đưa ra phán quyết chống lại John Moore, nói rằng một khi các mô đã bị cắt bỏ từ cơ thể một người, kể cả khi có hay không có sự đồng ý, thì người đó không còn sở hữu các mô đã bị cắt bỏ đó nữa. |
| 1996 | Luật Trách nhiệm Giải trình và Cung cấp Thông tin Bảo hiểm Y tế (HIPAA) quy định rằng các nhà cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và các công ty bảo hiêm y tế sẽ vi phạm luật nếu họ công khai thông tin y tế cá nhân của bệnh nhân. |
| 1999 | Tập đoàn RAND công bố một bản báo cáo với “ước tính khiêm tốn” rằng có hơn 307 triệu mẫu mô từ hơn 178 triệu người đang được lưu trữ ở Mỹ. Hầu hết các mẫu được lấy mà không có sự cho phép. |
| 2005 | Các thành viên của Bộ tộc Havasupai Thổ dân châu Mỹ đã kiện Đại học Bang Arizona sau khi các nhà nghiên cứu lấy mẫu tế bào mà bộ tộc hiến tặng cho nghiên cứu tiểu đường để sử dụng chúng cho nghiên cứu tâm thần phân liệt và giao phối cận huyết mà không có sự cho phép của họ. |
| 2005 | 6.000 bệnh nhân tham gia một vụ kiện chống lại Đại học Washington, yêu cầu trường này phải loại bỏ các mẫu mô của họ khỏi ngân hàng ung thư tuyến tiền liệt. Hai phiên tòa sau đó ra phán quyết chống lại các bệnh nhân. |
| 2005 | Đến thời điểm này, chính phủ Mỹ đã cấp nhiều bằng sáng chế liên quan đến việc sử dụng khoảng 20% tổng số số các gen đã biết trên người, bao gồm các gen liên quan đến bệnh Alzheimer, hen suyễn, ung thư ruột, và nổi tiếng nhất là ung thư vú. |
| 2006 | Một nhà khoa học ở NIH bị kết tội vi phạm luật liên bang về xung đột lợi ích vì đã cung cấp hàng ngàn mẫu mô cho công ty dược phẩm Pfizer để lấy nửa triệu đô. |
| 2009 | Viện Y tế Quốc gia đầu tư 13,5 triệu đô để phát triển ngân hàng mẫu máu thai nhi. |
| 2009 | Các bậc phụ huynh ở Minnesota và Texas khởi kiện để dừng việc lưu trữ và thực hiện nghiên cứu trên các mẫu máu bào thai trên khắp cả nước mà không có sự chấp thuận – nhiều trong số đó có thể lần đến những đứa trẻ mà họ đã lấy mẫu vật. |
| 2009 | Hơn 150.000 nhà khoa học cùng với Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ và các bệnh nhân ung thư vú kiện Myriad Genetics vì sáng chế gen ung thư vú của công ty này. Nguyên đơn lập luận rằng việc cấp bằng sáng chế cho gen vi phạm luật sáng chế và làm cản trở nghiên cứu khoa học. |