29
Ngôi làng của những HenriettaDeborah đã từ chối nói chuyện với tôi trong suốt gần một năm sau cuộc trò chuyện đầu tiên của chúng tôi. Tôi đã đến Clover nhiều lần, ngồi trên bậc thềm, đi bộ trên cánh đồng thuốc lá với Cliff, Cootie, và Gary – con trai của Gladys. Tôi sục sạo các trung tâm lưu trữ dữ liệu, các căn hầm trong nhà thờ, và những tòa nhà bỏ hoang xập xệ nơi Henrietta đã đến học. Trên đường đi, cứ vài ngày tôi lại để lại tin nhắn cho Deborah, hy vọng sẽ thuyết phục được cô nói chuyện với tôi, để chúng tôi có thể cùng nhau tìm hiểu về Henrietta.
“Xin chào, tôi đang ở cánh đồng thuốc lá của mẹ cô gần Nhà Chung”, tôi nói với cô ấy. “Tôi đang ngồi trên bậc thềm với chú Cliff của cô, ông ấy gửi lời chào”. “Hôm nay tôi đã tìm thấy thông tin về lễ rửa tội của mẹ cô”. “Bác Gladys đang hồi phục tốt sau cơn đột quỵ, bà đã kể cho tôi một số câu chuyện thú vị về mẹ cô”. Tôi hình dung cô ấy đang nhoái người trên hộp thư thoại và lắng nghe, tò mò muốn biết tôi đã tìm thấy những gì.
Nhưng cô ấy không bao giờ bắt máy.
Một hôm, chồng của cô, Reverend James Pullum, đã trả lời điện thoại sau hồi chuông thứ hai và bắt đầu hét lên mà không buồn chào hỏi: “Họ muốn chắc chắn rằng họ sẽ nhận được MỘT SỐ TIỀN ĐỀN BÙ. Cho đến khi có người lập THỎA THUẬN hoặc viết CAM KẾT, họ sẽ KHÔNG nói chuyện với BẤT KỲ AI. Ai cũng được nhận một khoản tiền đền bù ngoại trừ họ, trong khi đó là MẸ họ. Họ cảm thấy điều đó thật bất công. Chuyện đã kéo dài đủ lâu và vợ tôi đã cảm thấy quá mệt mỏi. Tất cả những gì cô ấy từng muốn là John Hopkin ghi nhận công lao của mẹ cô ấy và giải thích về các tế bào, để cô ấy có thể hiểu chuyện gì đã xảy ra với mẹ. Nhưng họ tảng lờ chúng tôi, nên giờ chúng tôi chỉ cảm thấy tức giận”. Rồi anh ấy cúp máy.
Vài ngày sau, 10 tháng sau cuộc trò chuyện lần đầu tiên giữa chúng tôi, Deborah gọi cho tôi. Khi tôi trả lời điện thoại, cô ấy đã hét: “Được rồi, tôi sẽ nói chuyện với cô!” Cô ấy không tự xưng danh tính và cũng không cần phải làm vậy. “Nếu tôi làm chuyện này, cô phải hứa với tôi một số điều”, Deborah nói. “Trước hết, nếu mẹ tôi nổi tiếng đến vậy trong lịch sử của nền khoa học, cô phải cho mọi người biết tên chính xác của bà. Bà không phải là Helen Lane. Thứ hai, ai cũng nói Henrietta Lacks có bốn đứa con. Không phải vậy, bà có năm đứa con. Chị gái tôi đã chết và không được bỏ chị ấy ra khỏi cuốn sách của cô. Tôi biết cô sẽ kể tất cả mọi chuyện về nhà Lacks và sẽ có những điều tốt lẫn điều xấu trong đó vì các anh em tôi. Cô sẽ biết tất cả những thứ đó, tôi không bận tâm. Điều tôi bận tâm là cô phải tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với mẹ và chị gái tôi, vì tôi cần phải biết”.
Cô ấy hít một hơi thật sâu, rồi bật cười.
“Chuẩn bị đi, cô gái”, Deborah nói. “Cô không biết mình đang dính vào chuyện gì đâu”.
Deborah và tôi gặp nhau vào ngày 9 tháng 7 năm 2000, tại một khách sạn nhỏ trên góc phố rải đá cuội gần bến cảng ở Baltimore, trong một khu dân cư có tên Fell’s Point. Khi nhìn thấy tôi đang đứng ở tiền sảnh và đợi cô ấy, Deborah đã chỉ lên tóc mình và nói: “Thấy cái này chứ? Tóc tôi đã bạc vì tôi là người lo lắng nhất đến chuyện của mẹ tôi. Đó là lý do vì sao tôi đã không nói chuyện với cô vào năm ngoái. Tôi đã thề sẽ không nói với ai về chuyện của mẹ tôi nữa”. Cô ấy thở dài. “Nhưng giờ tôi lại ở đây... Hy vọng tôi sẽ không phải hối hận vì chuyện này”.
Deborah có vóc người đậm – cao một mét rưỡi và nặng 90 kg. Những lọn tóc quăn của cô ấy dài chưa đến 2,5 centimet và đen nhánh, ngoại trừ một dải tóc bạc mỏng uốn quanh mặt cô như cái dải buộc đầu. Cô 50 tuổi, nhưng trông vừa già hơn lại vừa trẻ hơn cả chục tuổi. Làn da màu nâu xám láng mịn của cô lấm tấm những vết tàn nhang và mụn, cặp mắt sáng tinh quái. Cô mặc quần lửng và đi giày Keds, đi đứng chậm rãi, tựa người lên chiếc gậy bằng nhôm.
Cô ấy đi theo tôi vào phòng, nơi có một gói quà lớn, phẳng, được gói bằng giấy in hoa sáng màu đang nằm trên giường. Tôi bảo với cô ấy đó là món quà của một nhà nghiên cứu ung thư trẻ tuổi ở Hopkins có tên Christoph Lengauer. Anh ta đã gửi thư điện tử cho tôi vài tháng trước để phản hồi về bài báo mà tôi đã đăng trên Johns Hopkins Magazine sau khi gặp những người đàn ông nhà Lacks. “Tôi cảm thấy tội cho gia đình Lacks”, Lengauer viết. “Họ đáng được nhận nhiều hơn thế”.
Anh ta nói mình đã làm việc với các tế bào HeLa hằng ngày kể từ khi bắt đầu sự nghiệp, và giờ anh ta không thể gạt câu chuyện về Henrietta cùng gia đình họ ra khỏi đầu. Khi làm tiến sĩ, anh ta đã sử dụng HeLa để hỗ trợ phát triển thứ gọi làkỹ thuật lai huỳnh quang tại chỗ (fluorescence in situ hybridization), còn được gọi tắt là FISH, một kỹ thuật “sơn” các nhiễm sắc thể với các chất nhuộm huỳnh quang đa sắc – những chất huỳnh quang này sẽ phát sáng dưới đèn tia cực tím. Dưới con mắt của những người được đào tạo, FISH có thể cung cấp các thông tin chi tiết về DNA của một người. Dưới con mắt của những người không có chuyên môn, nó chỉ đơn giản tạo nên các nhiễm sắc thể đầy màu sắc rực rỡ.
Christoph đã đóng khung bức ảnh kích thước 36x50 cm, in hình các nhiễm sắc thể của Henrietta mà anh ta đã “sơn” bằng cách sử dụng FISH. Nó trông như một bức hình của bầu trời đêm với những con đom đóm đa sắc đang phát ánh sáng đỏ, xanh dương, vàng, xanh lá, tím, và màu ngọc lam.
“Tôi muốn nói cho họ biết HeLa có ý nghĩa như thế nào với tôi dưới tư cách là một nhà nghiên cứu trẻ chuyên về bệnh ung thư, và sự cảm kích của tôi đối với việc hiến tặng của họ nhiều năm trước”, anh ta viết. “Tôi không đại diện cho Hopkins, nhưng tôi là một phần của nó. Theo một cách nào đó tôi thậm chí còn muốn được tỏ lòng xin lỗi”.
Deborah ném chiếc túi xách bằng vải bố màu đen xuống sàn, xé giấy bọc quà, rồi giơ khung hình trước mặt. Cô ấy chẳng nói gì, chỉ chạy qua một loạt các cánh cửa kiểu Pháp để ra ngoài ban công nhỏ, và ngắm bức hình dưới ánh sáng mặt trời.
“Chúng đẹp tuyệt!” – cô ấy hét to từ ban công. “Tôi đã không biết chúng đẹp đến vậy!” Cô quay vào phòng, ôm chặt bức hình, hai má đỏ ửng. “Cô có biết chuyện gì kỳ cục không? Trên thế giới có nhiều những bức hình chụp các tế bào của mẹ tôi hơn hình của chính bà. Tôi nghĩ có lẽ đó là lý do vì sao không ai biết đến bà. Thứ duy nhất còn sót lại của bà là các tế bào ấy”.
Cô ngồi xuống giường và nói: “Tôi muốn đến các phòng thí nghiệm và các buổi thảo luận để tìm hiểu rõ hơn về những gì mà các tế bào của mẹ tôi đã làm, nói chuyện với những người đã khỏi bệnh ung thư”. Cô bắt đầu nhảy cẫng lên, phấn khích như một cô bé. “Chỉ nghĩ đến chuyện đó đã khiến tôi muốn phi ra ngoài. Nhưng lần nào cũng có chuyện xảy ra và tôi lại lẩn trốn”.
Tôi nói với cô rằng Lengauer muốn cô đến phòng thí nghiệm của anh ta. “Anh ta muốn cảm ơn cô và trực tiếp cho cô thấy các tế bào của mẹ cô”.
Deborah vuốt tay trên các nhiễm sắc thể của mẹ trong hình. “Tôi muốn thấy các tế bào đó, nhưng tôi chưa sẵn sàng”, cô ấy nói. “Cha và các anh em trai của tôi cũng nên đi, nhưng họ đã nghĩ tôi bị điên khi đến đây. Họ luôn nói: ‘Những người da trắng đó đã giàu lên nhờ mẹ, trong khi chúng ta chẳng được gì’”. Deborah thở dài. “Chúng tôi sẽ không giàu lên nhờ các tế bào của mẹ. Bà đang giúp đỡ người khác, và đó là chuyện tốt, tôi chỉ muốn câu chuyện phải được kể rõ ràng để người ta biết mẹ tôi, HeLa, là Henrietta Lacks. Và tôi cũng muốn tìm hiểu thêm về mẹ tôi. Tôi nghĩ mẹ đã cho tôi bú, nhưng tôi không chắc. Mọi người không chịu nói về mẹ hay chị gái tôi. Như thể hai người họ chưa từng có mặt trên đời”.
Deborah chộp lấy chiếc túi đang nằm dưới sàn và đổ những thứ bên trong túi lên giường. “Đây là những gì tôi có về mẹ”, cô ấy nói, chỉ vào một đống trên giường. Có những đoạn băng chưa chỉnh sửa dài hàng giờ từ bộ phim tài liệu của BBC, một cuốn từ điển tiếng Anh nhàu nát, một cuốn nhật ký, một cuốn sách di truyền, nhiều bài báo khoa học, các bằng sáng chế, và những tấm thiệp chưa được gửi đi, bao gồm những tấm thiệp sinh nhật mà cô ấy đã mua cho Henrietta, và một tấm thiệp mừng Ngày Của Mẹ mà cô ấy cầm lên từ đống đồ.
“Tôi đã mang theo thứ này trong túi xách suốt một thời gian dài”, cô ấy nói và đưa nó cho tôi. Bên ngoài tấm thiệp có màu trắng với những bông hoa màu hồng, và bên trong viết: “Mong tinh thần của Chúa và đấng cứu sinh ở bên mẹ ngày hôm nay, ngày mà mẹ được tưởng nhớ vì tình yêu mẹ đã dành cho gia đình chúng ta và những người thân. Yêu và cầu nguyện cho mẹ. Chúc mừng Ngày Của Mẹ”, bên dưới được ký: “Yêu mẹ, Deborah”.
Nhưng chủ yếu túi của cô đựng các bài báo rách tả tơi. Cô giơ bài báo về mẹ cô từ Weekly World News lên. Tiêu đề của nó là NGƯỜI PHỤ NỮ BẤT TỬ! và nó được đăng giữa một bài báo về con chó có khả năng thần giao cách cảm và một bài báo về đứa trẻ nửa người, nửa cá sấu.
“Khi nhìn thấy thứ này trong cửa tiệm tạp hóa, tôi đã sợ gần chết”, Deborah nói với tôi. “Kiểu như là: lần này họ lại nói chuyện điên khùng gì đã xảy ra với mẹ của tôi nữa đây? Ai cũng bảo Hopkins bắt người da đen và làm thí nghiệm trên cơ thể họ ở tầng hầm của bệnh viện. Không ai có thể chứng minh nên tôi đã không tin. Nhưng khi được biết về các tế bào của mẹ, tôi không biết phải nghĩ gì ngoại trừ việc có thể những tin đồn về các thí nghiệm là sự thật”.
Chỉ vài tuần trước Deborah đã nói với tôi rằng vợ mới của Day, Margaret, về nhà sau buổi khám bệnh và hét lên về một thứ gì đó mà bà đã nhìn thấy ở tầng hầm Hopkins. “Bà ấy đã nhấn nhầm nút và thang máy đã đưa bà ấy xuống tận tầng hầm tối om”, Deborah kể. “Cửa mở ra và bà ấy nhìn thẳng vào trong, thấy những cái lồng. Bà ấy hét lên, ‘Dale, cô sẽ không tin chuyện này đâu, những cái lồng ấy nhốt đầy những con thỏ to bằng người!’”
Deborah cười khi kể cho tôi nghe những điều ấy. “Tôi đã không tin. Ý tôi là: ‘Những con thỏ to bằng người?! Thật điên rồ!’ Có ai từng nhìn thấy một con thỏ to bằng người? Nhưng Margeret lúc nào cũng thành thực với tôi, nên tôi biết bà ấy đã nhìn thấy một thứ gì đó thật đáng sợ. Tôi đoán việc gì cũng có thể xảy ra”.
Rồi, như thể đang nói về một điều gì đó thường nhật như Ngày mai sẽ có mưa, Deborah bảo: “Các nhà khoa học thực hiện đủ loại nghiên cứu và cô không bao giờ biết họ đang làm gì. Tôi vẫn tự hỏi ở London có bao nhiêu người giống hệt mẹ tôi bước đi giữa phố”.
“Sao cơ?” – tôi hỏi. “Tại sao ở London lại có những người giống hệt mẹ cô?”
“Họ đã làm nhân bản vô tính mẹ tôi ở đó”, cô ấy nói, ngạc nhiên khi tôi không biết về việc ấy trong quá trình tìm hiểu. “Một phóng viên người Anh đã đến đây và nói họ đã nhân bản cừu. Bây giờ cô sẽ thấy họ đang nhân bản mẹ tôi ở khắp nơi”. Cô ấy giơ một bài báo từ tờ The Independent ở London lên và chỉ vào đoạn văn được quanh tròn: “Các tế bào của Henrietta Lacks phát triển chóng mặt. Xét về trọng lượng, chúng đã vượt xa cơ thể ban đầu và chắc hẳn đã đủ để lấp đầy một ngôi làng toàn những Henrietta”. Tác giả nói đùa rằng đáng lẽ Henrietta nên gửi 10 đô vào ngân hàng năm 1951, vì nếu làm vậy, giờ đây các bản sao vô tính của bà sẽ trở nên giàu có.
Deborah nhướn mày với tôi như để nói, Thấy chưa? Đã bảo mà!
Tôi nói các nhà nghiên cứu chỉ nhân bản tế bào của Henrietta, không phải bản thân Henrietta. Nhưng Deborah khoát tay, ra hiệu cho tôi im lặng như thể tôi đang nói lung tung, rồi nhặt một cuốn băng từ đống đồ lên và đưa cho tôi. Nó có dòng chữ Công Viên Kỷ Jura.
“Tôi đã xem bộ phim này hàng chục lần”, cô ấy nói. “Nó nói về các gen và việc lấy các gen ấy khỏi tế bào để hồi sinh khủng long, và tôi đã nghĩ: Ôi Chúa ơi, mình có một bài báo nói rằng họ đang làm điều tương tự với mẹ của mình!” Cô giơ một cuốn băng khác lên, đây là bộ phim mang tên Nhân Bản. Trong phim, một bác sĩ chữa vô sinh đã bí mật lấy thêm những phôi thai của bệnh nhân và dùng chúng để tạo nên những bản sao của đứa con trai của bà ấy, người đã chết trẻ trong một tai nạn.
“Gã bác sĩ ấy đã lấy tế bào của người phụ nữ và biến chúng thành những cậu nhóc giống hệt con trai của bà ta”, Deborah bảo tôi. “Người phụ nữ đáng thương ấy thậm chí đã không hề hay biết về các bản sao cho đến khi nhìn thấy một trong số chúng bước ra từ một cửa hàng. Tôi không biết mình sẽ làm gì nếu thấy bản sao của mẹ tôi bước đi trên phố”.
Deborah biết đây chỉ là những bộ phim viễn tưởng, nhưng đối với cô, ranh giới giữa viễn tưởng và thực tế đã mờ đi từ nhiều năm trước, khi cha cô nhận được cú điện thoại nói các tế bào của Henrietta vẫn còn sống. Deborah biết các tế bào của mẹ cô đã phát triển như Blob[1] cho đến khi chúng nhiều đến nỗi có thể quấn quanh Trái đất vài vòng. Nghe thật điên rồ, nhưng đó là sự thật.
“Cô không bao giờ biết chắc”, Deborah nói, lấy thêm hai bài báo từ đống tài liệu và đưa chúng cho tôi. Một bài mang tên CÁC TẾ BÀO NGƯỜI, THỰC VẬT ĐƯỢC DUNG HỢP: TIẾP THEO SẼ LÀ NHỮNG CỦ CÀ RỐT BIẾT ĐI? Bài thứ hai viết CÁC TẾ BÀO NGƯỜI-ĐỘNG VẬT ĐƯỢC LAI TẠO TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM. Cả hai bài báo đều nói về các tế bào của mẹ cô, và không phải chuyện khoa học viễn tưởng.
“Tôi không biết họ đã làm gì”, Deborah nói, “nhưng nghe chẳng khác gì Công Viên Kỷ Jura”.
Trong ba ngày tiếp theo, Deborah đến phòng khách sạn của tôi mỗi buổi sáng, ngồi trên giường, và trải lòng với tôi. Khi cần thay đổi không khí, chúng tôi đi tàu biển và đi dạo quanh Cảng Baltimore. Chúng tôi ăn cua, bánh mì kẹp thịt và khoai tây chiên, rồi lái xe quanh các con đường của thành phố. Chúng tôi đến thăm những ngôi nhà mà cô đã từng sống khi còn là một đứa trẻ, hầu hết đã có biển NHÀ XUỐNG CẤP[2] gắn ngoài cửa. Chúng tôi dành cả ngày lẫn đêm bên nhau trong lúc tôi gắng ghi nhớ những câu chuyện về cô nhiều nhất có thể. Tôi không ngừng lo lắng cô sẽ thay đổi ý kiến và ngừng nói chuyện với tôi. Nhưng trên thực tế, có vẻ như một khi Deborah đã mở miệng, cô sẽ không bao giờ ngừng.
Thế giới của Deborah là một nơi không có chỗ cho sự im lặng. Cô la hét, kết thúc hầu hết các câu nói trong tiếng cười the thé, khàn khàn, và không ngừng bình luận về mọi thứ xung quanh: “Nhìn kích cỡ của những cái cây kia mà xem!” “Chiếc xe kia có màu xanh mới đẹp làm sao!” “Ôi Chúa ơi, tôi chưa từng thấy những bông hoa đẹp đến vậy”. Cô đi giữa phố nói chuyện với khách du lịch, lao công và những người vô gia cư, vẫy tay với tất cả những người đi ngang qua: “Xin chào, mọi người khỏe chứ?” hết lần này đến lần khác.
Deborah có rất nhiều những thói quen kỳ lạ. Cô mang theo một lọ Lysol[3] trong xe mà cô vẫn thường lấy ra xịt bất chợt, nửa đùa nửa thật. Đã vài lần cô xịt thẳng vào mũi tôi khi tôi hắt hơi, nhưng chủ yếu cô xịt ra ngoài cửa xe mỗi khi chúng tôi dừng lại ở những nơi trông có vẻ mất vệ sinh, một việc khá thường xảy ra. Cô cũng thường vung vẩy chiếc gậy trong lúc nói, gõ gậy vào vai tôi để thu hút sự chú ý, hoặc đập gậy vào chân tôi để nhấn mạnh điều muốn nói.
Một trong những lần đầu tiên cô đánh tôi bằng chiếc gậy là lúc chúng tôi đang ngồi trong phòng. Cô vừa đưa cho tôi cuốn Di Truyền Y Học của Victor McKusick, và nói: “Tôi đã gặp người đàn ông này vì ông ta muốn lấy máu của tôi để làm xét nghiệm ung thư”.
Tôi bảo với cô ấy rằng McKusick đã lấy máu cho nghiên cứu về các tế bào Henrietta, không phải để kiểm tra xem Deborah và các anh em trai có mắc bệnh ung thư hay không. Đó là lúc cô ấy dùng gậy quất mạnh vào chân tôi.
“Chết tiệt!” – cô ấy hét lên. “Khi tôi hỏi ông ta về các xét nghiệm và tế bào của mẹ tôi, ông ta chỉ đưa cho tôi cuốn sách này, vỗ vào lưng tôi và bảo tôi về nhà”. Cô ấy nhướn người, mở sách ra và chỉ vào trang bìa bên trong. “Ông ta đã ký tặng tôi”, cô nói, đảo mắt. “Sẽ tốt hơn nếu ông ta nói cho tôi biết nó viết gì”.
Deborah và tôi nằm ườn trên giường suốt nhiều tiếng mỗi ngày, đọc các tài liệu mà cô mang tới và nói về cuộc sống của cô. Rồi, gần cuối ngày thứ ba, tôi để ý thấy một tập tài liệu dày trên gối.
“Đó có phải là bệnh án của mẹ cô không?” – tôi hỏi, đưa tay với lấy nó.
“Không!” cô ấy gào lên, ánh mắt hoang dại, chồm dậy và chộp lấy tập tài liệu như thể nó là một quả bóng đang nằm trên sân, ôm chặt nó vào ngực, cuộn mình quanh nó.
Tôi ngồi đấy choáng váng, tay vẫn chìa ra nơi tập tài liệu từng được đặt, nói lắp bắp: “Tôi... Ý tôi là... Tôi không phải...”
“Thật không?” – Deborah gắt gỏng. “Cô định làm gì với bệnh án của mẹ tôi?”
“Tôi tưởng cô đặt nó ở đó cho tôi... Tôi xin lỗi... Tôi không cần phải đọc nó ngay bây giờ... Đừng lo”.
“Chúng ta chưa sẵn sàng cho chuyện đó!” – Deborah cáu, mắt mở to và hoảng loạn. Cô ấy nhặt lấy túi, nhét đống tài liệu vào trong, rồi chạy ra khỏi cửa.
Tôi choáng váng. Người phụ nữ mà tôi đã nằm cạnh suốt mấy ngày qua – cùng cười, cùng đùa nghịch, và trò chuyện – giờ đang bỏ chạy như thể tôi định làm hại cô ấy.
“Deborah!” – Tôi gọi với theo. “Tôi không định làm gì xấu. Tôi chỉ muốn tìm hiểu câu chuyện của mẹ cô, giống như cô mà thôi”.
Cô ấy quay người, mắt vẫn hoảng hốt, cô ấy rít lên: “Tôi không biết phải tin ai”, rồi chạy ra khỏi phòng, đóng sập cửa lại.
❀ ❀ ❀
[1] Một sinh vật ngoài hành tinh có dạng chất lỏng, nhờn, như thạch, dựa trên bộ phim khoa học viễn tưởng cùng tên The Blob được công chiếu năm 1958. (ND)
[2] Đây là những căn nhà không còn an toàn để ở. Không ai được phép sống trong những ngôi nhà này cho đến khi chủ nhà chứng minh được rằng ngôi nhà đã được sửa chữa và đủ an toàn để ở.
[3] Một loại nước xịt khử trùng.