2
CloverHenrietta Lacks được sinh ra với cái tên Loretta Pleasant tại Roanoke, Virginia, vào ngày 1 tháng 8 năm 1920. Không ai biết vì sao cô có cái tên Henrietta. Một bà đỡ tên là Fannie đã cắt dây rốn cho Henrietta trong một căn lán nhỏ nằm trong một ngõ cụt nhìn ra nhà ga xe lửa, nơi hàng trăm toa hàng đến và đi mỗi ngày. Henrietta ở trong căn lán ấy cùng bố mẹ và tám anh chị em cho đến năm 1924, khi mẹ của cô, bà Eliza Lacks Pleasant, qua đời trong lúc hạ sinh đứa con thứ mười.
Cha của Henrietta, Johnny Pleasant, là một người đàn ông mập mạp và lùn xủn, dáng đi tập tễnh bên chiếc gậy mà ông thường dùng để đánh người khác. Truyện gia đình kể rằng ông đã giết một người người anh em ruột của mình vì dám ve vãn Eliza. Johnny không đủ kiên nhẫn để nuôi con, nên khi Eliza chết, ông đã đưa chúng về Clover, Virginia, nơi gia đình ông vẫn cày xới trên những cánh đồng thuốc lá mà tổ tiên của họ đã làm việc như những nô lệ. Không ai ở Clover có thể nhận nuôi cả 10 đứa trẻ, nên những người họ hàng đã tách chúng ra, đứa ở với ông anh họ này, đứa ở với bà dì kia. Henrietta về sống với ông ngoại, Tommy Lacks.
Tommy sống ở nơi thường được gọi là Nhà Chung, một túp lều bốn phòng từng được dùng làm chỗ sinh hoạt cho các nô lệ, với sàn nhà được ghép từ những tấm ván, đèn dầu, và nước từ con lạch được Henrietta kéo lên theo một sườn đồi dài. Nhà Chung được xây trên sườn đồi ấy, nơi những cơn gió thường rít qua các kẽ nứt trên tường. Không khí bên trong lạnh đến nỗi khi có người chết, gia đình họ đặt xác ở tiền sảnh suốt nhiều ngày để mọi người có thể đến viếng. Sau đó, thi thể được đem chôn ở nghĩa trang phía sau.
Ông của Henrietta cũng đang nuôi một đứa cháu khác, một trong số các cô con gái của ông, sau khi sinh xong đã bỏ lại nó trên sàn của Nhà Chung. Tên của đứa trẻ ấy là David Lacks, nhưng mọi người gọi nó là Day, vì với cái giọng nhà quê lè nhè của gia đình Lacks, nhà nghe na ná như nhè, còn David nghe như Day.
Cậu Day Trẻ là tên mà gia đình Lacks gọi là đứa con vụng trộm này: một người đàn ông tên Johnny Coleman ghé qua thị trấn; chín tháng sau thì Day chào đời. Một cô chị họ 12 tuổi và một bà đỡ tên là Munchie đã đỡ đẻ Day, trông nó xanh lét như bầu trời trong cơn bão và không hề thở. Một bác sĩ da trắng đến Nhà Chung, đầu đội mũ quả dưa, tay chống gậy, đã viết “chết non” vào giấy chứng sinh của Day, rồi cưỡi cỗ xe độc mã của mình quay về thị trấn, bỏ lại một đám mây bụi màu đỏ phía sau.
Munchie đã cầu nguyện khi ông bác sĩ bỏ đi, Chúa nhân từ, con biết Ngài không có ý mang đứa trẻ này đi. Bà tắm cho Day trong một chậu nước ấm, rồi đặt nó lên tấm ga trải giường màu trắng, vừa xoa vừa vỗ lên ngực thằng bé cho đến khi nó hổn hển thở và nước da xanh lét của nó ấm lên rồi chuyển sang màu nâu nhạt.
Khi Johnny Pleasant gửi Henrietta đến sống với ông Tommy, cô bé lên bốn còn Day gần chín tuổi. Không ai có thể ngờ rằng cô bé sẽ sống cả phần đời còn lại cùng Day – ban đầu với tư cách một người em họ cùng lớn lên trong ngôi nhà của ông ngoại, và sau đó thành vợ của cậu ta.
Khi còn nhỏ, Henrietta và Day thức dậy mỗi sáng vào lúc bốn giờ để vắt sữa bò, rồi cho gà, lợn, và ngựa ăn. Họ chăm sóc cho khu vườn đầy ngô, lạc, và rau xanh, rồi ra cánh đồng thuốc lá cùng các anh chị em họ – Cliff, Fred, Sadie, Margaret, và một đám những đứa trẻ khác. Chúng đã dành phần lớn tuổi thơ của mình cúi rạp trên những cánh đồng ấy, trồng thuốc lá trên những luống đất được cày bởi những con la. Cứ mỗi vụ mùa chúng lại hái những chiếc lá to bản khỏi cuống và buộc lại thành những bó nhỏ. Ngón tay của chúng thô ráp và nhớp nhúa vì nhựa nicotine. Rồi sau đó lũ trẻ sẽ trèo lên trên xà nhà trong kho thuốc lá của ông, treo hết bó này đến bó khác lên đó để sấy khô. Mùa hè đến, chúng lại cầu nguyện cho một cơn bão đến để làm dịu cái nóng như thiêu như đốt. Khi bão về, chúng hò hét và chạy qua những cánh đồng, tranh thủ nhặt đầy những quả chín và quả óc chó bị gió thổi rơi từ trên cây xuống.
Cũng như hầu hết trẻ con nhà Lacks, Day không học hết phổ thông. Cậu đã nghỉ học từ lớp bốn vì gia đình cần cậu làm việc đồng áng. Nhưng Henrietta đã học đến lớp sáu. Trong suốt năm học, vào mỗi buổi sáng sau khi chăm sóc vườn tược và đàn gia súc, cô bé lại đi bộ ba cây số – qua trường học của tụi da trắng, nơi lũ trẻ thường ném đá và trêu chọc cô – để đến trường dành cho học sinh da màu. Đây là một căn nhà bằng gỗ trong nông trại, gồm ba phòng, nằm dưới những tán cây cao rợp bóng, với khoảnh sân phía đằng trước – nơi cô Coleman thường bắt các học sinh nam nữ chơi ở hai phía khác nhau. Mỗi khi tan trường và khi không phải đi học, Henrietta lại ra đồng với Day và các anh chị em họ khác.
Nếu thời tiết đẹp, khi xong việc, lũ trẻ sẽ chạy thẳng ra “hồ bơi” mà chúng xây mỗi năm bằng cách dùng đá, gậy, bao cát, và bất cứ thứ gì nặng có thể chìm để chặn dòng nước của con lạch phía sau nhà. Chúng ném đá xuống nước để xua đuổi những con rắn nước độc, rồi nhảy ùm xuống từ những cành cây hoặc trượt xuống từ hai bờ đầy bùn.
Đêm xuống, chúng đốt lửa bằng những đôi giày cũ để đuổi muỗi, và ngắm sao từ dưới gốc sồi già, nơi chúng treo một sợi thừng để chơi đu quay. Chúng cùng nhau chơi bịt mắt bắt dê, nhảy lò cò, đuổi bắt và nhảy múa hát ca quanh cánh đồng cho đến khi ông Tommy hò hét bắt cả lũ đi ngủ.
Hằng đêm, đám anh chị em họ chen chúc nhau trong căn buồng phía trên gian bếp gỗ nhỏ, cách Nhà Chung vài bước chân. Đứa này nằm cạnh đứa kia, kể chuyện về người nông dân trồng thuốc lá không đầu đi lang thang khắp các con phố khi đêm xuống, hay về người đàn ông không mắt sống ở bờ sông, rồi lăn ra ngủ cho đến khi bà Chloe nhóm bếp bên dưới và đánh thức chúng bằng mùi bánh quy mới nướng thơm lừng.
Cứ mỗi tháng một lần vào mùa thu hoạch, ông Tommy sẽ buộc ngựa vào xe sau bữa tối và chuẩn bị sẵn sàng để đi vào thị trấn Nam Boston – thủ phủ của chợ buôn thuốc lá lớn thứ hai trong cả nước, nơi có những cuộc diễu hành quảng cáo thuốc lá, cuộc thi Hoa hậu Thuốc lá, và một bến cảng để tàu thuyền đến thu gom thứ lá khô ấy cho những người hút thuốc trên khắp thế giới.
Trước khi rời khỏi nhà, Tommy sẽ bảo lũ trẻ chui vào chiếc giường bằng lá thuốc lá trên xe ngựa, chúng chống cự với cơn buồn ngủ cho đến khi díp mắt lại trong tiếng vó ngựa đều đều. Như các nông dân khác từ khắp vùng Virginia, Tommy Lacks và lũ cháu sẽ đi ngựa suốt đêm để mang nông sản của mình đến Nam Boston, xếp hàng cùng các xe khác lúc bình minh – cỗ xe hàng này nối tiếp cỗ xe hàng khác – chờ tới khi những cánh cửa gỗ khổng lồ màu xanh của nhà kho đấu giá mở ra.
Khi đến nơi, Henrietta cùng các anh chị em sẽ giúp ông tháo ngựa ra khỏi xe, đổ ngũ cốc vào máng cho chúng ăn, rồi dỡ thuốc lá xuống sàn gỗ của nhà kho. Người bán đấu giá sẽ đọc liến láu những con số vọng khắp căn phòng rộng lớn có trần nhà cao khoảng 10 mét, đen kịt vì những lớp bụi đã bám nhiều năm. Trong lúc Tommy Lacks đứng bên cạnh số nông sản và cầu mong sẽ bán được giá tốt, thì Henrietta và bọn trẻ chạy quanh những đống thuốc lá, miệng liến thoắng nhại theo người đấu giá. Khi đêm xuống, chúng sẽ giúp Tommy kéo số thuốc lá chưa bán được xuống tầng hầm, rồi ông lại trải những đống lá thành chiếc giường cho lũ trẻ. Các nông dân da trắng ngủ trên tầng, trong những căn phòng riêng; còn nông dân da màu ngủ ở khu vực tối tăm bên dưới nhà kho cùng những con ngựa, con la, và lũ chó, trên nền đất bụi bặm với các dãy chuồng gỗ dành cho gia súc, và hàng núi vỏ chai rượu xếp cao tới tận trần nhà.
Đêm tối ở nhà kho là thời gian của rượu chè, cờ bạc, mại dâm, và thậm chí đôi khi là giết người khi những người nông dân nướng sạch số tiền kiếm được sau vụ mùa. Từ những chiếc giường lá, lũ trẻ nhà Lacks sẽ nhìn chằm chằm lên xà nhà to bằng thân cây trước lúc ngủ thiếp đi giữa tiếng cười nói, tiếng vỏ chai loảng xoảng, và mùi lá thuốc khô.
Trời sáng, chúng lại chất lên xe ngựa số thuốc lá chưa bán được và khởi hành chặng đường dài về nhà. Đám trẻ ở lại Clover đều biết rằng mỗi chuyến đi Nam Boston đồng nghĩa với những món thết đãi cho tất cả mọi người – có thể là một miếng pho-mát, hoặc một mẩu xúc xích bologna – nên chúng đợi hàng giờ đồng hồ trên Phố Chính để bám theo xe ngựa về Nhà Chung.
Phố Chính rộng rãi đầy bụi của Clover chật cứng những chiếc xe Model A[1], và xe hàng do ngựa và la kéo. Ông Snow Già là người đầu tiên trong thị trấn có máy kéo, ông lái nó đến cửa hàng như lái một chiếc ôtô với tờ báo kẹp dưới tay cùng hai con chó săn Cadillac và Dan sủa inh ỏi bên cạnh. Phố Chính có rạp chiếu phim, nhà băng, cửa hàng trang sức, phòng khám, cửa hàng kim khí, và một vài nhà thờ. Mỗi khi đẹp trời, những người đàn ông da trắng mặc quần có dây đeo, đội mũ chóp cao, cầm những điếu xì gà dài – tất cả từ ngài thị trưởng cho đến bác sĩ hay nhân viên nhà xác – sẽ đứng dọc Phố Chính, nhấp từng ngụm whiskey từ những bình đựng nước hoa quả, trò chuyện, hoặc chơi cờ trên mặt thùng gỗ trước cửa hiệu thuốc. Các bà vợ của họ sẽ đứng tán gẫu ở cửa hàng tạp hóa trong lúc con họ ngủ trên mặt quầy thu ngân, gối đầu lên những cuộn vải dài.
Henrietta và các anh chị em thường làm thuê cho những người da trắng ấy, nhặt lá thuốc lá với giá 10 xu để có tiền xem những bộ phim cao bồi Buck Jones yêu thích của chúng. Người chủ rạp chiếu những bộ phim đen trắng không tiếng, còn bà vợ chơi dương cầm theo phim. Bà ta chỉ biết một bản nhạc duy nhất, nên bà ấy chơi bản nhạc theo phong cách lễ hội hóa trang vui nhộn trong mọi cảnh phim, kể cả khi các nhân vật bị bắn chết. Lũ trẻ nhà Lacks ngồi trên khu ghế dành cho người da màu, ngay cạnh máy chiếu kêu tành tạch suốt cả bộ phim.
Khi Henrietta và Day lớn hơn, chúng không còn chơi trò bịt mắt bắt dê, thay vào đó là những cuộc đua ngựa trên con đường đất chạy dọc đồn điền thuốc lá của nhà Lacks, giờ được gọi đơn giản là Thị trấn Lacks. Lũ con trai thường giành nhau cưỡi Charlie, con ngựa hồng cao lớn của ông Tommy, có thể đánh bại bất cứ con ngựa nào khác ở Clover. Henrietta và lũ con gái đứng nhìn bên sườn đồi hoặc đằng sau những cỗ xe ngựa chất đầy rơm, nhảy cẫng lên và vỗ tay hò hét khi lũ con trai phi qua trên lưng ngựa.
Henrietta thường cổ vũ cho Day, nhưng đôi khi cô cũng cổ vũ cho người anh em họ, Joe Grinnan Khùng của mình. Joe Khùng là cái tên mà Cliff dùng để gọi “anh chàng quá khổ” – cao ráo, vạm vỡ, và mạnh mẽ, với nước da tối sậm, cái mũi nhọn, và lông đen phủ khắp đầu, tay, lưng, và cổ, đến nỗi cậu ta phải cạo cả người để khỏi chết nóng mỗi mùa hè. Mọi người gọi cậu ta là Joe Khùng vì cậu ta yêu Henrietta say đắm, cậu ta sẽ làm bất cứ điều gì để thu hút sự chú ý của cô. Henrietta là cô gái xinh xắn nhất ở Thị trấn Lacks, với nụ cười rạng rỡ và đôi mắt hình quả hạnh.
Lần đầu tiên Joe Khùng bán mạng vì Henrietta là lúc cậu ta chạy vòng quanh người cô giữa mùa đông khi Henrietta đang trên đường đi học về. Cậu ta đã năn nỉ cô hẹn hò với mình: “Hennie, thôi mà... cho anh một cơ hội đi”. Khi cô bật cười và từ chối, Joe Khùng đã bỏ chạy rồi nhảy thẳng xuống hồ nước đóng băng lạnh cóng, và nhất quyết không ngoi lên cho đến khi cô đồng ý hẹn hò.
Tất cả các anh chị em khác đã trêu chọc Joe rằng: “Chắc nó nghĩ nước đá sẽ làm nó nguội bớt, nhưng do quá cuồng Hennie, nó nóng đến mức làm nước đá gần sôi!” Sadie, em ruột của Joe Khùng, đã hét lên với cậu ta: “Anh yêu một đứa con gái đến mức sẵn sàng chết vì nó ư? Dớ dẩn”.
Không ai biết chuyện gì đã xảy ra giữa Henrietta và Joe Khùng, ngoài vài lần hẹn hò và có vài nụ hôn. Tuy nhiên Henrietta và Day đã ngủ chung một phòng từ khi cô bốn tuổi, nên những gì xảy ra tiếp theo không làm ai ngạc nhiên: Henrietta và Day bắt đầu có con với nhau. Cậu con trai Lawrence của họ chào đời chỉ vài tháng sau sinh nhật lần thứ 14 của Henrietta; em gái cậu, Lucile Elsie Pleasant chào đời bốn năm sau đó. Cả hai đứa nhỏ đều được sinh ra trên sàn Nhà Chung như cha mẹ và ông bà của chúng.
Lúc bấy giờ, người ta không dùng những từ như động kinh, thiểu năng trí tuệ, hay giang mai thần kinh để miêu tả tình trạng của Elsie. Đối với người dân ở Thị trấn Lacks, cô bé chỉ đơn giản là ngây ngô, điên điên. Cô bé chào đời quá nhanh, Day thậm chí còn chưa kịp trở lại cùng bà đỡ thì Elsie đã ra khỏi bụng mẹ và va đập xuống sàn. Ai cũng cho rằng có lẽ đó là lý do cô bé có trí tuệ của một đứa trẻ sơ sinh.
Cuốn niên giám cũ kỹ đầy bụi ở nhà thờ của Henrietta chứa đầy tên của những người đàn bà có con ngoài giá thú, nhưng vì một lý do nào đó lại không có tên của Henrietta, dù thậm chí có lời đồn khắp Thị trấn Lacks rằng có thể Joe Khùng là cha của một trong số những đứa con của cô.
Khi Joe Khùng hay tin Henrietta sắp cưới Day, cậu ta tự đâm vào ngực bằng một con dao bỏ túi cũ kỹ. Cha của Joe thấy cậu ta say khướt nằm trong sân, áo đẫm máu. Ông cố tìm cách cầm máu cho Joe, nhưng cậu ta kháng cự – quẫy đạp và vung tay đấm đá – khiến cho máu càng chảy nhiều hơn. Cuối cùng sau một hồi vật lộn cha của Joe cũng kéo được cậu ta lên xe, trói cậu ta vào cửa, và chở cậu ta đến gặp bác sĩ. Khi Joe trở về, băng bó đầy người, Sadie không ngừng nói: “Tất cả chỉ để ngăn không cho Hennie cưới Day ư?” Tuy nhiên Joe Khùng không phải là người duy nhất tìm cách ngăn cản cuộc hôn nhân này.
Chị gái của Henrietta, Gladys, cũng không ngừng nói Henrietta có thể tìm được người tốt hơn Day. Hầu hết những người nhà Lacks khi kể về Henrietta và Day cũng như cuộc sống ban đầu của họ ở Clover, họ đều khiến nó thi vị như một câu chuyện cổ tích. Trừ Gladys. Không ai biết vì sao cô ngăn cản cuộc hôn nhân ấy. Một số người cho rằng Gladys chỉ ghen tuông vì Henrietta xinh đẹp hơn. Nhưng Gladys lúc nào cũng khăng khăng rằng Day sẽ không phải là một người chồng tốt.
Henrietta và Day tổ chức lễ cưới một mình ở nhà mục sư của họ vào ngày 11 tháng 4 năm 1941. Khi đó cô 20 tuổi và Day 25 tuổi. Họ không có tuần trăng mật vì có quá nhiều việc phải làm, và cũng không có tiền để đi du lịch. Đến mùa đông, nước Mỹ có chiến tranh và các công ty thuốc lá cung cấp thuốc lá miễn phí cho binh lính, nên thị trường thuốc lá lúc bấy giờ nở rộ. Tuy nhiên trong khi các nông trường lớn làm ăn phát đạt, các trang trại nhỏ lại gặp khó khăn. Henrietta và Day phải may mắn lắm mới có thể bán đủ số thuốc lá mỗi mùa để nuôi sống cả nhà và gieo giống cho vụ tới.
Do vậy sau lễ cưới, Day quay lại với việc cầm cái cán nứt toác của chiếc cày gỗ trong lúc Henrietta theo sau, đẩy chiếc xe cút kít tự chế và gieo hạt thuốc lá vào những cái lỗ vừa được xới trên mặt đất đỏ.
Rồi một buổi chiều cuối năm 1941, người anh em họ tên là Fred Garret xuất hiện trên con đường đất cạnh cánh đồng của họ. Anh ta vừa trở về từ Baltimore với chiếc Chevy ‘36 bóng loáng và bộ cánh đắt tiền. Chỉ một năm trước, Fred và em trai Cliff vẫn còn là những nông dân trồng thuốc lá ở Clover. Để kiếm thêm tiền, họ đã mở một cửa hàng tiện lợi “dành cho da màu”, nơi hầu hết khách hàng chỉ có thể trả bằng phiếu ghi nợ. Họ cũng mở một hộp đêm xây bằng gạch xỉ than, và Henrietta thường nhảy ở đây, trên sàn nhà bằng đất đỏ. Khách đến đều thả xu vào máy hát tự động và uống RC Cola, nhưng lời lãi chẳng đáng bao nhiêu. Vậy nên cuối cùng Fred đã cầm 3 đô và 25 xu cuối cùng của mình rồi mua vé xe buýt đến phía Bắc tìm một cuộc sống mới. Anh ta, cũng như một số anh em họ khác, tới làm tại nhà máy thép Sparrows Point của công ty thép Bethlehem và sống ở Turner Station, một cộng đồng nhỏ gồm những công nhân da màu trên bán đảo sông Patapsco, cách trung tâm Baltimore khoảng 32 km.
Vào những năm cuối thế kỷ 19, khi Sparrows Point mới đi vào hoạt động, Turner Station chủ yếu là các đầm lầy, nông trang và vài căn nhà lụp xụp được lót những tấm ván để làm đường đi bộ. Khi nhu cầu sử dụng thép gia tăng giữa Thế chiến Thứ nhất, từng dòng người da trắng đã chuyển đến sống ở thị trấn Dundalk gần đó, và các khu dân cư “da màu” của công ty thép Bethlehem đã nhanh chóng bị quá tải, đẩy họ sang Turner Station. Đến những năm đầu Thế chiến Thứ hai, Turner Station đã có vài con đường được lát, một bác sĩ, một cửa hàng tạp hóa, và một người bán nước đá. Nhưng người dân vẫn phải đấu tranh để có nước sinh hoạt, hệ thống cống rãnh, và trường học.
Sau đó, vào tháng 12 năm 1941, Nhật Bản đánh bom Trân Châu Cảng, và Turner Station như thể vừa trúng số: nhu cầu sử dụng thép tăng vọt cùng với nhu cầu công nhân. Chính phủ rót tiền vào Turner Station, những dự án xây nhà một hoặc hai tầng bắt đầu mọc lên. Các căn nhà được xây sát vách nhau hoặc đấu lưng với nhau, một số khu có bốn đến năm trăm hộ. Hầu hết những căn nhà được xây bằng gạch, số còn lại được phủ bằng ván amiăng. Một số nhà có sân vườn, còn số khác thì không. Từ trong các căn nhà, bạn có thể nhìn thấy những ánh lửa lập lòe trên các lò luyện kim của Sparrows Point, và khói đỏ từ các ống khói bay lên.
Sparrows Point nhanh chóng trở thành nhà máy thép lớn nhất thế giới. Nó sản xuất những cốt thép, dây thép gai, đinh và thép để sản xuất ôtô, tủ lạnh, tàu quân sự. Nó đốt cháy hơn sáu triệu tấn than mỗi năm để làm ra ra tám triệu tấn thép và tạo công ăn việc làm cho hơn 30.000 công nhân. Công ty thép Bethlehem là một mỏ vàng trong thời kỳ nghèo đói, đặc biệt đối với các hộ gia đình da màu từ phía Nam. Tin tức về công ty thép Bethlehem được truyền từ Maryland đến các nông trại ở Virginia và vùng Carolina[2], như một phần của hiện tượng được biết đến dưới cái tên Cuộc Đại di cư, các gia đình da màu lũ lượt kéo từ phía Nam đến Turner Station – Vùng Đất Hứa.
Công việc rất nặng nhọc, đặc biệt đối với người da màu, vốn phải làm các công việc mà người da trắng không đụng tới. Cũng như Fred, các công nhân da màu thường bắt đầu làm việc ở trong thân những con tàu đang đóng dở, họ nhặt bu-lông, đinh tán, và đai ốc khi chúng rơi xuống khỏi tay của những người đang khoan và hàn từ khoảng chục mét ở phía trên. Dần dần các công nhân da màu chuyển đến lò hơi, xúc những xẻng than vào lò luyện nóng rực. Cả ngày họ hít vào khói than và amiăng độc hại, rồi mang chúng về cho vợ con, những người cũng hít phải nó trong lúc giặt rũ quần áo cho cánh đàn ông. Công nhân da màu ở Sparrows Point kiếm khoảng 80 xu mỗi giờ, và thường thì được ít hơn. Công nhân da trắng thì kiếm được nhiều hơn, nhưng Fred không than phiền: 80 xu mỗi giờ là mức lương cao hơn nhiều so với những gì người nhà Lacks từng thấy.
Fred đã phát đạt. Và giờ anh trở về Clover để thuyết phục Henrietta và Day cũng nên thử. Sau ngày trở về thị trấn, Fred đã mua cho Day một vé xe buýt đến Baltimore. Họ đã thống nhất rằng Henrietta sẽ ở lại để chăm sóc cho lũ trẻ và trông nom ruộng thuốc lá cho đến khi Day kiếm đủ tiền để mua nhà riêng ở Baltimore và ba vé xe buýt khác đến Baltimore cho mẹ con Henrietta. Vài tháng sau, Fred nhận được thông báo cử anh ra nước ngoài. Trước khi rời đi, Fred đã đưa cho Day tất cả số tiền anh ta dành dụm được và nói rằng, đã đến lúc đưa Henrietta và lũ trẻ đến Turner Station.
Không lâu sau, hai tay hai đứa nhỏ, Henrietta bước lên con tàu chạy bằng than từ nhà ga bằng gỗ nhỏ xíu ở cuối Phố Chính của Clover. Cô bỏ lại những cánh đồng thuốc lá đã gắn bó cả tuổi thơ và gốc sồi trăm tuổi đã che bóng cho cô vào những buổi chiều nóng nực. Ở tuổi 21, lần đầu tiên trong đời, Henrietta nhìn chăm chú vào những ngọn đồi uốn lượn và dòng sông mênh mang qua cửa sổ con tàu, hướng đến một cuộc sống mới.
❀ ❀ ❀
[1] Một loại xe phổ biến thời bấy giờ của hãng Ford.
[2] Bao gồm cả bang North Carolina và South Carolina.