17
“Bất hợp pháp, vô nhân đạo, và đáng lên án”Khi HeLa phát triển như cỏ dại trong các phòng thí nghiệm khắp thế giới, một nhà virus học tên Chester Southam đã nảy ra một ý nghĩ đáng sợ: Liệu các tế bào ung thư của Henrietta có thể làm các nhà khoa học đang tiến hành thí nghiệm với chúng bị nhiễm bệnh không? Gey và một số người khác đã chứng minh rằng chuột có thể phát triển khối u khi bị tiêm HeLa vào cơ thể. Tại sao con người lại không?
Các nhà nghiên cứu đã hít thở không khí quanh tế bào HeLa, chạm vào chúng, chuyển chúng từ lọ này sang lọ khác, thậm chí còn ăn trưa bên những chiếc bàn đặt cạnh chúng. Một người đã dùng chúng để phát triển vắc-xin phòng virus tương tự như virus gây cảm lạnh, và ông đã tiêm vắc-xin này cùng với các mảnh tế bào HeLa vào hơn 400 người. Nhưng vẫn không ai biết liệu một người nào đó có thể nhiễm ung thư từ HeLa hay các tế bào ung thư khác hay không.
Southam viết: “Các nhà nghiên cứu có nguy cơ mắc ung thư nếu họ tình cờ bị nhiễm các tế bào ung thư từ phòng thí nghiệm trong quá trình làm việc. Và sử dụng tế bào ung thư để sản xuất vắc-xin ngừa virus cũng có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân nếu các tế bào ung thư hoặc sản phẩm từ các tế bào ấy được tiêm vào người họ”.
Southam là một nhà nghiên cứu bệnh ung thư có tiếng và là trưởng khoa virus học ở Viện Nghiên cứu Ung thư Sloan-Kettering.
Ông và nhiều nhà khoa học khác tin rằng bệnh ung thư được gây ra bởi một loại virus hoặc do sự suy giảm hệ thống miễn dịch, nên Southam quyết định dùng HeLa để kiểm chứng các giả thuyết này.
Vào tháng 2 năm 1954, Southam đã bơm dung dịch muối pha với HeLa vào một chiếc xi-lanh. Ông chọc kim tiêm vào cánh tay của một người phụ nữ vừa nhập viện vì bệnh bạch cầu, sau đó đẩy pít tông, và bơm khoảng năm triệu tế bào của Henrietta vào tay người phụ nữ này. Sau đó, Southem dùng một kim tiêm khác để xăm một vết nhỏ bằng mực Ấn Độ cạnh vết sưng ở vị trí tiêm HeLa trên cánh tay bà ấy. Bằng cách đó, ông có thể biết phải kiểm tra ở đâu sau vài ngày, vài tuần, vài tháng, để biết liệu căn bệnh ung thư của Henrietta có phát triển trên cánh tay của bệnh nhân này hay không. Ông đã lặp lại quá trình này với hơn chục bệnh nhân ung thư khác. Ông nói với họ rằng ông đang kiểm tra hệ thống miễn dịch của họ; ông đã không nói gì về việc ông đang tiêm cho họ các tế bào ác tính của một bệnh nhân khác.
Chỉ sau vài giờ, cánh tay của các bệnh nhân này đã ửng đỏ và sưng tấy. Năm đến 10 ngày sau, các cục bướu cứng bắt đầu mọc lên tại vị trí tiêm. Southem đã cắt ra vài cục bướu để kiểm chứng xem chúng có phải là các tế bào ung thư ác tính hay không. Nhưng ông đã để lại một vài cục để xem hệ thống miễn dịch của bệnh nhân có kháng cự lại các khối u hay không, hoặc để xem liệu mầm bệnh có lây lan không. Chỉ sau vài tuần, một số khối u đã phát triển với kích cỡ hai centimet – cùng kích cỡ với khối u của Henrietta khi bà nhập viện để xạ trị.
Cuối cùng Southem cắt bỏ hầu hết các khối u, và các khối u mà ông không cắt bỏ đã tự biến mất sau vài tháng. Nhưng ở bốn bệnh nhân, các cục bướu đã mọc trở lại. Ông lại cắt chúng, nhưng chúng không ngừng mọc đi mọc lại. Ở một bệnh nhân, các tế bào ung thư đã di căn đến các hạch bạch huyết.
Vì bản thân các bệnh nhân đó đã mang sẵn trong người mầm bệnh ung thư, nên để so sánh Southam muốn xem những người khỏe mạnh sẽ phản ứng thế nào khi tiêm các tế bào vào cơ thể họ. Vào tháng 5 năm 1956, ông đã đăng một mẩu quảng cáo trên tờ tin tức của Trại Cải tạo Bang Ohio: Tìm 25 người tình nguyện tham gia các nghiên cứu ung thư. Vài ngày sau ông nhận được hồi đáp từ 96 tình nguyện viên, rồi nhanh chóng tăng lên thành 150 người.
Ông chọn nhà tù Ohio vì các tù nhân ở đây đã tham gia vài dự án nghiên cứu khác mà không phản kháng, bao gồm một nghiên cứu mà trong đó các đối tượng được tiêm vào người một loại bệnh có nguy cơ chết người mang tên tularemia[1]. Phải tới 15 năm sau đó, các nghiên cứu sử dụng tù nhân mới được xem xét kỹ lưỡng và kiểm soát chặt chẽ, vì các tù nhân được coi là những đối tượng dễ bị lạm dụng, có khả năng không được thông tin đầy đủ trước khi chấp nhận tham gia vào các thí nghiệm. Nhưng vào thời điểm những năm 1950 đó, các tù nhân trên khắp cả nước đang được sử dụng cho đủ loại nghiên cứu – từ việc thử các loại vũ khí hóa học đến việc xác định những ảnh hưởng của việc chụp X-quang tinh hoàn đến lượng tinh trùng.
Southam đã bắt đầu tiêm các tế bào HeLa vào các tù nhân từ tháng 6 năm 1956. Đồng nghiệp của Southam là Alice Moore, đã mang các tế bào này từ New York đến Ohio trong một chiếc túi xách tay. 65 tù nhân – những kẻ giết người, biển thủ, trộm cướp, và lừa gạt – đã ngồi xếp hàng trên những chiếc ghế băng đợi đến lượt tiêm. Một số người mặc áo bệnh nhân màu trắng, số khác mặc đồ lao động bằng vải thô màu xanh da trời.
Không lâu sau, các khối u đã mọc trên tay các tù nhân cũng giống như đã mọc ở các bệnh nhân ung thư. Báo chí đã đăng hết bài này đến bài khác về những tù nhân can trường ở Trại Cải tạo Bang Ohio, khen ngợi họ là “những người khỏe mạnh đầu tiên đồng ý tham gia vào các thí nghiệm ung thư nguy hiểm”. Họ trích lời một người rằng: “Sẽ là nói dối nếu bảo tôi không sợ. Anh nằm ở đó trong buồng giam, biết rằng mình mang mầm bệnh ung thư trên tay... Chà, anh biết cảm giác thế nào rồi đấy!”
Hết lần này đến lần khác, các phóng viên đã hỏi: “Tại sao anh tình nguyện tham gia thí nghiệm này?”
Câu trả lời của các tù nhân lặp đi lặp lại một điệp khúc: “Tôi đã đối xử vô cùng bất công với một cô gái, và tôi nghĩ việc này sẽ bù đắp phần nào cho việc đó”.
“Tôi tin mình đã làm những việc sai trái, và trong mắt xã hội, hành động này của tôi sẽ chuộc lại lỗi lầm”.
Southam đã tiêm nhiều mũi chứa tế bào ung thư cho mỗi tù nhân, và không như các bệnh nhân ở giai đoạn cuối, những người này đã hoàn toàn kháng cự lại mầm bệnh. Và với mỗi lần tiêm mới, cơ thể họ lại phản ứng nhanh hơn. Điều này cho thấy rằng có vẻ như các tế bào đang làm tăng cường hệ thống miễn dịch của những người này đối với bệnh ung thư. Khi Southam thông báo kết quả, báo chí đã reo hò gọi nó là một phát hiện vượt bậc mà một ngày nào đó có thể dẫn đến sự ra đời của vắc-xin chống ung thư.
Những năm sau đó, Chester Southam đã tiêm HeLa và các tế bào ung thư còn sống khác vào hơn 600 người cho nghiên cứu của mình, một nửa trong số đó là các bệnh nhân ung thư. Ông cũng bắt đầu tiêm chúng vào tất cả các bệnh nhân phải phẫu thuật phụ khoa ở Bệnh viện Sloan-Kettering hoặc Bệnh viện James Ewing. Nếu có giải thích, ông cũng chỉ đơn giản nói là ông đang kiểm tra xem họ có bị ung thư hay không. Và ông đã thực sự tin rằng: vì những người bị ung thư dường như thải loại các tế bào này chậm hơn người khỏe mạnh, nên Southam cho rằng bằng cách đo thời gian thải loại, ông sẽ có thể phát hiện ra những người mắc bệnh ung thư chưa được chẩn đoán.
Trong báo cáo mà về sau ông sẽ lặp đi lặp lại trong những buổi điều trần về nghiên cứu của mình, Southam đã viết: “Việc các tế bào này là ung thư hay không cũng không quan trọng, vì chúng là các vật thể lạ đối với người được tiêm và bởi vậy sẽ bị thải loại. Trở ngại duy nhất trong việc sử dụng các tế bào ung thư là chứng sợ hãi vô căn cứ và sự thiếu hiểu biết quanh từ ung thư”.
Southam viết, vì “chứng sợ hãi vô căn cứ và sự thiếu hiểu biết đó”, nên ông đã không nói với các bệnh nhân rằng những tế bào này là tế bào ung thư, vì ông không muốn tạo ra những lo lắng không cần thiết. Ông viết sau này: “Việc sử dụng từ đáng ngại như ‘ung thư’ với bất kỳ quy trình lâm sàng nào trên cơ thể người bệnh là một nguy cơ tiềm ẩn đối với sức khỏe của bệnh nhân, vì nó có thể ngụ ý rằng họ được chẩn đoán mắc bệnh ung thư (dù đúng hay sai) và rằng khả năng sống sót của họ không cao... Để tránh các chấn thương tâm lý đáng ngại, nhưng không quan trọng về mặt y khoa... giữ kín thông tin đó là truyền thống đáng tôn trọng của nghề y”.
Nhưng Southam không phải là bác sĩ của họ và cũng không phải là ông đang giấu những thông tin không tốt về tình hình sức khỏe của bệnh nhân vì sợ họ suy sụp. Sự lừa gạt ấy là vì lợi ích của chính ông, ông đã giấu những thông tin này vì các bệnh nhân có thể sẽ từ chối không tham gia vào thí nghiệm này nếu họ biết ông đang tiêm cho họ thứ gì. Và chắc hẳn Southam sẽ tiếp tục làm vậy trong nhiều năm nữa nếu ông không đưa ra một thỏa thuận với Emanuel Mandel, viện trưởng Bệnh viện Do Thái về các bệnh Mạn tính ở Brooklyn (JCDH) vào ngày 5 tháng 7 năm 1963, để sử dụng các bệnh nhân của bệnh viện này cho nghiên cứu của mình.
Kế hoạch là Mandel sẽ cử các bác sĩ của JCDH tiêm tế bào ung thư vào 22 bệnh nhân cho thí nghiệm của Southam. Nhưng khi ông bảo nhân viên của mình tiêm các tế bào mà không nói với bệnh nhân rằng đó là các tế bào ung thư, ba bác sĩ người Do Thái trẻ tuổi đã từ chối, họ nói rằng họ sẽ không tiến hành thí nghiệm trên cơ thể bệnh nhân mà không có sự đồng ý của bệnh nhân. Cả ba người đều biết về các nghiên cứu mà Đức Quốc xã đã thực hiện trên người những tù binh Do Thái. Họ cũng biết về các Phiên tòa Nuremberg nổi tiếng.
Mười sáu năm trước, vào ngày 20 tháng 8 năm 1947, một phiên tòa chiến tranh quốc tế tại Nuremberg, Đức, do Mỹ chủ trì, đã tuyên án bảy bác sĩ của Đức Quốc xã phải nhận hình phạt treo cổ. Tội của họ là đã thực hiện các thí nghiệm không thể tưởng tượng nổi trên cơ thể những người Do Thái mà không có sự đồng ý của những người này, chẳng hạn như khâu những người anh em ruột vào nhau để tạo ra những cặp song sinh dính liền, hay mổ xẻ những người còn sống để nghiên cứu chức năng của các cơ quan trong cơ thể.
Phiên tòa đã đặt ra 10 quy tắc đạo đức mà giờ đây được biết đến dưới cái tên Quy Tắc Nuremberg để quản lý tất cả các thí nghiệm trên cơ thể con người khắp thế giới. Dòng đầu tiên trong đạo luật đó viết rằng: “Sự chấp thuận một cách tình nguyện của các đối tượng thí nghiệm[2] là tối quan trọng”. Ý tưởng ấy mang tính cách mạng. Lời tuyên thệ Hippocrates được viết vào thế kỷ thứ tư TCN đã không yêu cầu sự chấp thuận của bệnh nhân. Và mặc dù Hiệp hội Y học Mỹ đã đặt ra các điều luật bảo vệ động vật thí nghiệm vào năm 1910, vẫn không có quy tắc nào dành cho con người cho đến khi Nuremberg ra đời.
Nhưng Quy tắc Nuremberg, cũng như các quy tắc khác ra đời trước đó, không phải là luật pháp. Về cơ bản, nó là một danh sách các khuyến cáo. Quy tắc này không phải lúc nào cũng được dạy ở các trường y, và nhiều nhà nghiên cứu người Mỹ – bao gồm Southam – đã tự nhận rằng họ không biết về sự tồn tại của nó. Những người biết về nó thì thường nghĩ về nó như “quy tắc Đức Quốc xã”, một thứ được sinh ra để áp dụng cho những kẻ man rợ và các nhà độc tài, chứ không phải cho các bác sĩ Mỹ.
Năm 1954, khi Southam bắt đầu tiêm tế bào HeLa vào cơ thể con người, chưa có một cơ quan chính thức nào ở Mỹ giám sát việc nghiên cứu. Từ đầu thế kỷ, các chính trị gia đã đề xuất những điều luật tiểu bang và liên bang với hy vọng kiểm soát được các thí nghiệm trên cơ thể con người, nhưng bác sĩ và các nhà nghiên cứu luôn phản đối. Các dự luật không ngừng bị bác bỏ vì sợ can thiệp vào sự phát triển của khoa học, mặc dù ở các nước khác, mà khôi hài thay bao gồm cả nước Phổ[3], đã ban hành các điều luật quản lý thí nghiệm trên cơ thể con người từ những năm 1891.
Ở Mỹ, cách duy nhất để buộc thực thi các quy tắc đạo đức trong nghiên cứu là dựa vào tòa án dân sự. Tại đó, các luật sư có thể dùng Quy tắc Nuremberg để quyết định liệu một nhà khoa học có hay không hoạt động trên khuôn khổ đạo đức nghề nghiệp. Nhưng để đưa một nhà nghiên cứu ra hầu tòa cần có tiền, có cách, và có ý thức rằng bạn đang bị lợi dụng cho nghiên cứu của họ.
Thuật ngữ sự chấp thuận sau khi được giải thích (hay chấp thuận sau khi được thông tin đầy đủ, hay chấp thuận có giải thích) xuất hiện lần đầu tiên trong các văn bản luật pháp vào năm 1957, tại một phiên tòa dân sự về trường hợp của bệnh nhân tên Martin Salgo. Ông đã được gây mê để chuẩn bị cho ca mổ mà ông tưởng là đơn giản, để rồi thức dậy và bị liệt hoàn toàn từ eo trở xuống. Bác sĩ đã không nói với ông về rủi ro của ca phẫu thuật. Thẩm phán đã xét vị bác sĩ có tội, cho rằng: “Một bác sĩ sẽ bị coi là làm trái nghĩa vụ của mình với bệnh nhân và phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu giấu diếm các thông tin cần thiết để bệnh nhân đưa ra quyết định đồng ý với các phương án điều trị”. Thẩm phán đã viết rằng cần “cung cấp tất cả các thông tin cần thiết để có được sự chấp thuận”.
Sự chấp thuận sau khi được giải thích tập trung vào những gì mà các bác sĩ phải nói với bệnh nhân; có rất ít những đề cập về cách áp dụng nó cho nghiên cứu như của Southam mà ở đó đối tượng nghiên cứu không phải là bệnh nhân của nhà khoa học. Và nhiều thập niên sau đó mới có người đặt ra câu hỏi liệu sự chấp thuận sau khi được giải thích có thể áp dụng cho trường hợp của Henrietta hay không, khi các nhà nghiên cứu thực hiện thí nghiệm mà không có sự đồng ý của bệnh nhân trên những tế bào không còn trong cơ thể bệnh nhân nữa.
Nhưng với ba bác sĩ từ chối tham gia vào nghiên cứu của Southam, việc tiêm các tế bào ung thư vào cơ thể bệnh nhân mà không có sự đồng ý của họ rõ ràng là sự vi phạm những quyền cơ bản của con người và trái với Quy tắc Nuremberg. Nhưng Mandel lại không thấy vậy. Ông ta đã phân công một bác sĩ nội trú tiêm cho bệnh nhân, và vào ngày 27 tháng 8 năm 1963, ba bác sĩ người Do Thái đã viết đơn xin nghỉ việc, nêu rõ lý do là vì các nghiên cứu không phù hợp đạo đức, rồi gửi chúng cho Mandel và ít nhất một phóng viên. Khi Mandel nhận được đơn xin nghỉ việc của họ, ông triệu tập một cuộc họp với một trong ba bác sĩ ấy, rồi buộc cho họ tội quá nhạy cảm vì nguồn gốc Do Thái của mình.
Một thành viên của hội đồng quản trị bệnh viện, luật sư William Hyman, đã không nghĩ rằng ba bác sĩ này đang phản ứng thái quá. Khi nghe tin về việc các bác sĩ từ chức, ông đã yêu cầu được xem bệnh án của các bệnh nhân trong nghiên cứu ấy. Nhưng yêu cầu của ông đã bị từ chối. Chỉ vài ngày sau vụ các bác sĩ từ chức, tờ New York Times đã đăng một mẩu tin với tiêu đề THỤY ĐIỂN PHẠT CHUYÊN GIA NGHIÊN CỨU UNG THƯ, nói về một nhà nghiên cứu bệnh ung thư tên Bertil Bjorklund. Ông này đã tiêm thẳng vào ven của chính mình và các bệnh nhân một lượng lớn vắc-xin được làm từ các tế bào HeLa mà ông lấy từ phòng thí nghiệm của George Gey, họ đã đùa rằng thay vì mang đi tiêm, Bjorklund có thể đổ đầy các tế bào HeLa vào một cái bể – hoặc thậm chí là một cái hồ – rồi nhảy xuống mà bơi để được miễn nhiễm. Việc tiêm các tế bào HeLa đã khiến Bjorklund bị đuổi khỏi phòng thí nghiệm, và Hyman hy vọng hình phạt tương tự sẽ xảy ra với Southam. Vì vậy vào tháng 12 năm 1963, ông đã kiện bệnh viện để lấy các bệnh án liên quan đến nghiên cứu này.
Hyman đã so sánh nghiên cứu của Southam với các nghiên cứu của Đức Quốc xã và có lời khai của ba bác sĩ đã từ chức – họ miêu tả thí nghiệm của Southam bằng những từ như trái pháp luật, vô nhân đạo và đáng lên án. Hyman cũng nhận được bản khai từ một vị bác sĩ thứ tư, giải thích rằng các bệnh nhân trong nghiên cứu đó không thể ký đơn tự nguyện tham gia ngay cả khi nếu Southam có xin phép họ: Một người mắc bệnh Parkinson và không thể nói, những người khác chỉ biết tiếng I-đít[4], một người mắc bệnh đa xơ cứng và bị rối loạn tâm thần trầm cảm. Dù sao thì, Hyman đã viết: “Tôi đã được cho biết là không cần thiết phải có sự chấp thuận của bệnh nhân... và rằng nhiều khả năng các bệnh nhân Do Thái sẽ không đồng ý để bị tiêm các tế bào ung thư sống vào người”.
Điều đó đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông. Bệnh viện đã gọi vụ kiện này là “gây hiểu lầm và dối trá”. Nhưng các báo và tạp chí đã cho đăng những bản tin, trên đó viết:
❀ ❀ ❀
[1] Còn gọi là bệnh sốt thỏ.
[2] Các đối tượng thí nghiệm được nói đến ở đây là con người, chứ không phải động vật.
[3] Nước Phổ là một quốc gia trong lịch sử cận đại, bị giải thể chính thức năm 1947. Hiện nay lãnh thổ của nước Phổ thuộc về Đức, Ba Lan, Nga, Lithuania, Đan Mạch, Bỉ, Cộng hòa Séc và Thụy Sĩ. Thủ đô cuối cùng của Phổ là Berlin.
[4] Tiếng Đức cổ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu. (ND)