Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
34. Bệnh án

❊ ❊ ❊

34

Bệnh án

Vài phút sau, Deborah gõ cửa phòng tôi. Cô ấy đã thay một chiếc áo phông màu trắng rộng thùng thình dài quá gối – trên đó là ảnh của một người phụ nữ hình que đang lấy bánh quy ra khỏi lò, với dòng chữ BÀ được viết rất lớn như bằng nét chữ của trẻ con.

“Tôi đã quyết định sẽ không đi ngủ”, cô ấy tuyên bố. “Tôi muốn cùng cô xem những thứ đó”. Cô ấy bồn chồn và giậm giật, như thể vừa uống vài cốc cà phê espresso. Một tay cô ấy nắm chặt bức ảnh Elsie ở Crownsville, tay còn lại chộp lấy chiếc túi chứa đầy bệnh án của mẹ cô mà tôi đã đặt trên kệ. Cô ấy trút những thứ ở trong túi xuống giường tôi như cách cô đã làm vào cái đêm đầu tiên chúng tôi gặp mặt.

“Bắt tay vào việc đi”, Deborah nói.

Có hơn 100 trang, nhiều trang trong số đó bị nhàu nát, bị gấp nếp, hoặc bị rách, tất cả đều không theo thứ tự. Tôi đứng đó nhìn chăm chú một hồi lâu, choáng váng và cảm thấy bị ngợp, rồi đề nghị có lẽ chúng tôi có thể cùng nhau phân loại chúng, sau đó tôi sẽ tìm một nơi nào đấy để sao chép những gì tôi cần.

“Không!” Deborah hét lớn, mỉm cười lo lắng. “Chúng ta có thể đọc hết luôn ở đây rồi cô có thể ghi chú”.

“Làm vậy sẽ mất nhiều ngày”, tôi nói.

“Sẽ không”, Deborah nói, trườn cả người lên đống giấy tờ, rồi ngồi khoanh chân giữa giường.

Tôi kéo một chiếc ghế bành bằng gỗ, mở máy tính xách tay, và bắt đầu phân loại. Có một bản trích lục của khu đất nhỏ ở Clover mà Deborah đã mua bằng 2.000 đô từ khoản tiền bồi thường nhiễm độc chất amiăng của bố cô ấy. Một bức ảnh chụp tội nhân đăng báo năm 1997 của con trai Lawrence với dòng chú thích, TRUY NÃ. LAWRENCE LACKS[1], CƯỚP CÓ VŨ KHÍ. Có cả các mẫu đơn đặt hàng mua tế bào HeLa trực tuyến, các tờ hóa đơn, các bản tin từ nhà thờ của Deborah, và dường như có vô số các bản sao của bức ảnh chụp Henrietta, hai tay chống hông. Và có hàng tá trang sổ tay mà Deborah đã viết các định nghĩa khoa học và các thuật ngữ pháp luật, các bài thơ về cuộc sống của cô:

ung thư

kiểm tra sức khỏe

không có tiền chi trả

người da trắng và người giàu mới có

mẹ tôi là người da màu

những người da màu nghèo không có tiền

để trả

tức giận, phải, tôi tức giận

chúng tôi đã bị lợi dụng để bị lấy máu và bị lừa gạt

chúng tôi đã phải trả tiền cho việc điều trị của mình, các người có thể

giảm bớt gánh nặng đó

được không

Bệnh viện John Hopkin và tất cả những nơi khác,

đã lấy tế bào của mẹ tôi, mà không cho bà

một đồng.

Trong lúc tôi đang đọc, Deborah chộp một vài trang được sao chép từ cuốn sách hướng dẫn về phả hệ và giơ lên cho tôi xem: “Nhờ nó mà tôi biết cách lấy giấy ủy quyền và mang theo tất cả những thứ đó đến đòi thông tin về chị gái tôi ở Crownsville. Họ đã không biết mình đang giỡn mặt với ai!” Trong lúc nói, cô ấy vẫn quan sát tay tôi soạn đống giấy tờ.

Tôi cầm một trang bệnh án lên sát mặt để có thể đọc được dòng chữ nhỏ xíu trên đó, rồi bắt đầu đọc lớn: “‘Người phụ nữ 28 tuổi này’... cái gì đó... tôi không thể đọc được nét chữ viết tay này... ‘nhóm máu Rh dương.’” Ghi chú đề ngày 2 tháng 11 năm 1949.

“Ồ!” – Bỗng nhiên tôi nói. “Nó được viết ba ngày trước khi cô chào đời – lúc này mẹ cô đang mang thai cô”.

“Sao cơ? Ôi Chúa ơi!” Deborah hét lên, giật lấy tờ giấy và nhìn chằm chằm vào nó, miệng há hốc. “Nó còn nói gì nữa?”

Đó là một cuộc kiểm tra sức khỏe thông thường, tôi nói với cô ấy. “Nhìn ở đây này”, tôi chỉ vào trang giấy. “Cổ tử cung của bà đã mở hai centimet... Bà ấy sắp sinh cô”.

Deborah nhảy trên giường, vỗ tay, và chộp lấy một trang khác từ bản bệnh án.

“Đọc cái này đi!”

Đó là ngày 6 tháng 2 năm 1951. “Đây là khoảng một tuần sau ngày đầu tiên bà ấy đến bệnh viện để khám bệnh ung thư cổ tử cung”, tôi nói. “Bà ấy đang tỉnh dậy sau khi bị gây mê để lấy sinh thiết. Nó ghi rằng bà cảm thấy bình thường”.

Trong vài giờ sau đó, Deborah kéo giấy tờ ra khỏi đống tài liệu để cho tôi đọc và phân loại. Một giây trước cô ấy thét lên trong sung sướng vì thông tin mà tôi tìm được, giây sau lại hoảng loạn vì thông tin có vẻ không tốt lành, hay khi nhìn thấy tôi cầm một tờ bệnh án của mẹ cô. Mỗi lần hoảng loạn, cô ấy lại vỗ xuống giường và nói: “Bản khám nghiệm tử thi của chị gái tôi đâu?” hay “Ôi không, tôi đã để chìa khóa phòng mình ở đâu rồi?”

Thỉnh thoảng, cô ấy giấu giấy tờ dưới gối, rồi lại lôi chúng ra sau khi đã quyết định sẽ không sao cả nếu để tôi xem chúng. Có thời điểm cô ấy nói: “Đây là bản khám nghiệm tử thi của mẹ tôi”. Vài phút sau cô ấy đưa cho tôi một trang mà cô bảo là trang yêu thích của cô vì nó có chữ ký của mẹ cô trên đó – phần chữ viết tay duy nhất của Henrietta trong bệnh án. Nó là bản cam kết mà bà đã ký trước khi xạ trị, thời điểm mẫu HeLa nguyên bản được lấy.

Cuối cùng, Deborah im lặng. Cô ấy nằm nghiêng và cuộn mình quanh tấm ảnh Elsie ở Crownsville suốt một hồi lâu, khiến tôi nghĩ cô ấy đã lăn ra ngủ. Rồi cô ấy thì thầm: “Ôi Chúa ơi. Tôi không thích cái cách mà họ túm cổ chị ấy”. Cô ấy giơ bức ảnh lên và chỉ vào những bàn tay màu trắng.

“Không”, tôi nói. “Tôi cũng không thích điều đó”.

“Tôi biết cô đã hy vọng tôi sẽ không để ý đến chi tiết ấy, phải không?”

“Không. Tôi đã biết cô sẽ”.

Cô ấy lại nằm xuống. Chúng tôi tái diễn chuyện đó suốt nhiều giờ đồng hồ, tôi đọc và ghi chép, Deborah nhìn chằm chằm vào bức ảnh của Elsie trong sự im lặng hồi lâu, sự im lặng chỉ bị phá vỡ bởi những lời bình luận thưa thớt của cô: “Chị gái tôi có vẻ sợ hãi”... “Tôi không thích nét mặt đó của chị ấy”... “Chị ấy đang bị mắc nghẹn ư?”… “Tôi đoán có lẽ sau khi nhận ra mình sẽ không được gặp lại mẹ nữa, chị ấy đã từ bỏ”. Thỉnh thoảng cô ấy lắc đầu nguầy nguậy, như thể cô ấy đang tìm cách thoát khỏi một thứ gì đó.

Cuối cùng tôi tựa lưng xuống ghế và dụi mắt. Đã nửa đêm và tôi vẫn còn một đống giấy tờ to tướng cần phải soạn.

“Cô nên nghĩ đến việc sao chép cho mình một bản bệnh án của mẹ cô và kẹp tất cả các trang lại để giữ cho chúng được phẳng”, tôi nói.

Deborah nheo mắt nhìn tôi, bỗng nhiên ngờ vực. Cô ấy đi ngang qua căn phòng, tới chiếc giường còn lại, nằm sấp bụng xuống và bắt đầu đọc báo cáo khám nghiệm tử thi của chị gái. Vài phút sau, cô ấy nhảy dựng lên và chộp cuốn từ điển của mình.

“Họ đã chẩn đoán chị tôi bị thiểu năng?” cô ấy nói, rồi bắt đầu đọc thành lời định nghĩa. “Thiểu năng: kém thông minh hoặc ngu đần”. Cô ấy ném cuốn từ điển xuống. “Đó là những gì họ đã nghĩ về chị gái tôi bị ư? Rằng chị ấy đần độn? Rằng chị ấy ngốc nghếch? Tại sao họ có thể làm vậy?” Tôi nói với cô ấy rằng các bác sĩ thường sử dụng từ thiểu năng để chỉ sự chậm phát triển trí não, và chỉ những tổn thương não do giang mai bẩm sinh gây nên. “Nó là từ chung để chỉ một người chậm phát triển”, tôi nói.

Cô ấy ngồi xuống cạnh tôi và chỉ vào một từ khác trong bản khám nghiệm tử thi của chị gái mình. “Từ này có nghĩa là gì?” cô ấy hỏi, và tôi giải thích. Rồi cô xịu mặt, cằm xệ xuống và thì thầm: “Tôi không muốn cô viết từ đó vào trong sách”.

“Tôi sẽ không làm vậy”, tôi đáp, và rồi tôi phạm phải một sai lầm. Tôi mỉm cười. Không phải vì tôi nghĩ nó buồn cười, mà vì tôi nghĩ nó thật đáng yêu khi cô ấy che chở cho chị gái của mình như vậy. Cô ấy chưa bao giờ nói với tôi rằng có điều gì không được viết vào sách, và đây là một từ tôi sẽ không bao giờ viết – đối với tôi, nó có vẻ không liên quan. Nên tôi đã mỉm cười.

Deborah trừng mắt nhìn tôi. “Đừng có viết nó vào trong sách!” cô ấy cáu.

“Tôi sẽ không làm vậy”, tôi nói, và thực tình nghĩ vậy. Nhưng tôi vẫn mỉm cười, giờ thì vì lo lắng hơn là vì lý do nào khác.

“Cô đang nói dối”, Deborah hét lên, hất máy ghi âm của tôi và siết chặt nắm đấm tay lại.

“Tôi không nói dối, tôi thề, nghe này, tôi sẽ ghi âm lời hứa của mình và cô có thể kiện nếu tôi sử dụng nó”. Tôi bật máy ghi âm, nói vào mic rằng tôi sẽ không sử dụng từ đó trong sách, rồi tắt nó đi.

“Cô đang nói dối!” – cô ấy lại hét lên. Cô ấy nhảy khỏi giường và đứng trước mặt tôi, chỉ một ngón tay vào mặt tôi. “Nếu không, tại sao cô lại mỉm cười?” Cô ấy bắt đầu điên cuồng nhét đống giấy tờ vào chiếc túi làm bằng vải bạt trong lúc tôi tìm cách giải thích và thuyết phục cô ấy bình tĩnh trở lại. Đột nhiên cô ấy ném chiếc túi lên giường và chạy lại gần tôi. Tay cô ấy đấm mạnh vào ngực tôi, dồn tôi vào tường, khiến tôi thở không ra hơi, đầu tôi đập vào lớp thạch cao.

“Cô làm việc cho ai?” – cô ấy quát. “John Hopkin?”

“Gì cơ? Không!” Tôi hét, thở hổn hển. “Tôi chỉ làm việc cho chính tôi thôi, cô biết mà”.

“Ai đã cử cô? Ai đang trả tiền cho cô?” – cô ấy hét lên, tay vẫn ghì tôi vào tường. “Ai đã trả tiền thuê phòng này?”

“Chúng ta đã nói chuyện này rồi mà!” – tôi đáp. “Nhớ chứ? Thẻ tín dụng? Các khoản vay dành cho sinh viên?”

Rồi, lần đầu tiên kể từ khi gặp mặt, tôi mất bình tĩnh với Deborah. Tôi chửi thề. Tôi vùng khỏi tay Deborah và bảo cô ấy thả tôi ra và bình tĩnh lại. Cô ấy đứng cách tôi chỉ vài centimet, trợn mắt nhìn tôi chằm chằm trong khoảng thời gian tưởng như vài phút. Rồi, đột nhiên, cô ấy toét miệng cười và với tay ra để vuốt tóc tôi: “Tôi chưa từng thấy cô nổi giận. Tôi đã tự hỏi liệu cô thậm chí có phải là người hay không, vì cô chưa từng chửi thề trước mặt tôi”.

Và có lẽ để giải thích cho những gì vừa xảy ra, cô ấy cuối cùng cũng kể cho tôi nghe về Cofield.

“Hắn giả bộ rất giỏi”, cô ấy nói. “Tôi đã bảo với hắn rằng tôi thà bước qua lửa chứ không để hắn lấy bệnh án của mẹ tôi. Tôi không muốn chúng lọt vào tay bất kỳ người nào. Mọi người trên thế giới đã có các tế bào của bà, thứ duy nhất chúng tôi có là mớ bệnh án này và cuốn Kinh Thánh của bà. Đó là lý do vì sao tôi tức giận với Cofield đến vậy. Hắn đã tìm cách lấy đi một trong những thứ duy nhất tôi có từ mẹ mình”.

Cô ấy chỉ vào máy tính xách tay của tôi trên giường và nói: “Tôi cũng không muốn cô gõ từng lời trong đó vào máy tính của cô. Cô gõ những gì cần thiết cho cuốn sách, không phải tất cả. Tôi muốn người trong gia đình tôi là những người duy nhất có toàn bộ bệnh án”.

Sau khi tôi đã hứa sẽ không sao chép toàn bộ bệnh án, Deborah nói cô ấy sẽ đi ngủ, nhưng trong vài giờ sau đó, cứ 15 đến 20 phút cô ấy lại gõ cửa phòng tôi một lần. Lần đầu tiên người cô nồng nặc mùi hương đào và nói: “Tôi vừa phải ra xe lấy kem dưỡng ẩm nên tạt qua chào một tiếng”. Mỗi lần là một lý do khác nhau: “Tôi để quên giũa móng tay trên xe!”... “TV đang chiếu phim Hồ sơ tuyệt mật[2] đấy!”... “Đột nhiên tôi thèm bánh kếp!” Mỗi lần cô ấy gõ cửa, tôi lại mở rộng cửa để cô có thể thấy căn phòng và các bệnh án vẫn y như lúc cô ấy rời đi.

Lần cuối gõ cửa, cô ấy lướt qua mặt tôi chạy vào phòng tắm và nhướn người qua bồn rửa mặt, mặt ghé sát vào gương. “Có phải tôi đang bị nổi mụn không?” – cô ấy hét lên. Tôi bước vào phòng tắm, cô ấy đang đứng đó và chỉ vào vết lằn to bằng đồng 25 xu trên trán. Có vẻ là mề đay.

Cô ấy quay lại và kéo áo xuống để tôi có thể thấy cổ và lưng của cô đang bị phủ kín những vết lằn đỏ.

“Tôi sẽ bôi kem lên chúng”, cô ấy nói. “Có lẽ tôi nên uống thuốc ngủ”. Cô ấy trở về phòng và một lát sau tiếng tivi trong phòng cô ấy lớn hơn. Tiếng gào thét, tiếng khóc, và tiếng súng phát ra từ tivi suốt đêm, nhưng tôi đã không gặp lại cô ấy cho đến sáu giờ sáng hôm sau – một giờ đồng hồ sau khi tôi đi ngủ – khi cô ấy gõ cửa phòng tôi và hét: “Bữa sáng miễn phí kiểu lục địa[3]!”

Mắt tôi đỏ và sưng mọng với những quầng thâm bên dưới, và tôi vẫn mặc bộ quần áo ngày hôm qua. Deborah nhìn tôi và cười.

“Chúng ta trông thật thảm hại!” cô ấy nói, chỉ vào những vết mề đay giờ đây đã phủ khắp mặt. “Chúa ơi, đêm qua tôi đã thật lo lắng. Tôi không có gì để làm nên đã sơn móng tay”. Deborah xòe tay ra cho tôi xem. “Tôi sơn xấu quá!” cô ấy nói, bật cười. “Tôi nghĩ tôi đã sơn sau khi uống thuốc”.

Móng tay của cô ấy và phần lớn khoảng da xung quanh được sơn màu đỏ tươi như màu xe cứu hỏa. “Nhìn xa trông nó cũng tạm được”, cô ấy nói. “Nhưng tôi sẽ bị đuổi việc nếu vẫn đang làm thợ sơn móng tay”.

Chúng tôi đi xuống sảnh để ăn sáng. Trong lúc Deborah gói một nắm đầy những cái bánh muffin[4] nhỏ vào khăn ăn để lát nữa ăn, cô ấy ngẩng lên nhìn tôi và nói: “Chúng ta ổn, Boo”.

Tôi gật đầu và nói tôi đã biết trước. Nhưng tại thời điểm đó tôi không chắc về bất cứ điều gì.

❀ ❀ ❀

[1] Con trai của Lawrence có cùng tên với cha mình.

[2] Tên tiếng Anh của phim là The X-files, một bộ phim truyền hình khoa học viễn tưởng nổi tiếng của Mỹ.

[3] Gồm cà phê, bánh mì, và mứt. (ND)

[4] Muffin: một loại bánh ngọt nướng.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.