Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 124 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
37. “Chẳng có gì phải sợ”

❊ ❊ ❊

37

“Chẳng có gì phải sợ”

Khi Deborah đến phòng khám, huyết áp và lượng đường trong máu của cô cao đến nỗi bác sĩ đã thấy ngạc nhiên khi cô chưa bị đột quỵ hay nhồi máu cơ tim trong lúc chúng tôi ở Clover. Ông ấy nói, trong tình trạng này, cô vẫn có thể bị đột quỵ hay nhồi máu cơ tim bất cứ lúc nào. Đột nhiên cách cư xử kỳ lạ của cô trong chuyến đi không còn kỳ lạ nữa. Hoảng loạn, sợ hãi, và nói năng không mạch lạc là dấu hiệu của huyết áp cao và lượng đường trong máu cao, là nguyên nhân dẫn đến đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim. Nổi mẩn và sưng tấy cũng vậy, đó là lý do vì sao các nốt mẩn không biến mất dù cô đã uống rất nhiều Benadryl.

Bác sĩ nói cô phải tránh tình trạng căng thẳng, nên chúng tôi quyết định rằng cô không thể tiếp tục đi tìm tư liệu với tôi nữa. Nhưng cô khăng khăng bảo tôi phải gọi cho cô trong chuyến đi để nói cho cô biết cô đang bỏ lỡ những gì. Trong vài tháng sau đó, khi đi thu thập thông tin, tôi chỉ nói với Deborah những thông tin tốt mà tôi tìm được: những câu chuyện như Henrietta đang khiêu vũ, ngắm bọn con trai chơi bóng chày ở nhà của Cliff; các chi tiết về lịch sử gia đình bà từ trung tâm lưu trữ dữ liệu và di chúc của quận.

Nhưng cả hai chúng tôi đều biết sự gián đoạn khỏi HeLa sẽ không kéo dài – Deborah vẫn phải phát biểu ở hội thảo của Quỹ Quốc gia Nghiên cứu Bệnh Ung thư để tưởng nhớ Henrietta. Cô ấy quyết tâm làm việc đó, ngay cả khi cô sợ ý nghĩ phải đứng trên sân khấu, nên cô bắt đầu dành nhiều ngày để chuẩn bị cho bài phát biểu.

Một buổi chiều, giữa lúc đang chuẩn bị cho cuộc hội thảo, cô đã gọi cho tôi để nói cô muốn đi học. “Tôi không ngừng nghĩ, nếu tôi hiểu khoa học, thì chuyện về mẹ và chị gái sẽ không khiến tôi sợ đến vậy”, cô ấy nói. “Nên tôi sẽ đi học trở lại”. Vài ngày sau, cô gọi cho một số trung tâm cộng đồng địa phương và tìm được một nơi dạy học cho người lớn, cô đăng ký để kiểm tra đầu vào với môn toán và đọc hiểu.

“Khi học xong lớp 10, tôi sẽ sẵn sàng để học cao đẳng!” – cô ấy nói với tôi. “Cô có thể tưởng tượng nổi không? Rồi tôi sẽ hiểu hết các yếu tố khoa học về mẹ tôi!” Cô ấy nghĩ đến chuyện trở thành trợ lý cho bác sĩ nha khoa, nhưng lại nghiêng về kỹ thuật viên xạ trị để có thể học về ung thư và giúp các bệnh nhân làm xạ trị như mẹ cô.

Khi cuộc hội thảo đến gần, Deborah rất bình tĩnh, nhưng tôi thì không. Tôi không ngừng hỏi: “Cô có chắc mình muốn làm việc này chứ?” và “Huyết áp của cô thế nào?” và “Bác sĩ có biết cô đang làm việc này không?” Cô ấy không ngừng nói với tôi rằng mình vẫn ổn, rằng thậm chí bác sĩ của cô cũng nói vậy.

Deborah đã làm bài kiểm tra đầu vào và đăng ký lớp học cần thiết để tốt nghiệp lớp 10 và đủ tiêu chuẩn cho các lớp ở cao đẳng cộng đồng mà cô muốn học. Cô ấy gọi cho tôi, phấn khích và hét lên: “Tôi sẽ bắt đầu sau một tuần nữa!”

Nhưng mọi thứ khác dường như đang bị cuốn đi theo chiều hướng xấu. Vài ngày trước hội thảo, Lawrence và Zakariyya gọi điện để mắng Deborah và nói rằng cô không nên phát biểu nữa, rằng họ muốn kiện tất cả các nhà nghiên cứu đã từng làm thí nghiệm trên các tế bào của Henrietta. Sonny bảo họ hãy để cho cô ấy yên: “Tất cả những gì nó làm là trò chuyện và học hỏi – các người không muốn làm vậy thì hãy để mặc nó”. Nhưng Lawrence nằng nặc bảo Deborah hãy đưa những tài liệu cô thu thập được về mẹ cho anh ấy.

Rồi con trai cô, Alfred, gọi điện từ nhà tù, nói rằng cuối cùng cậu ấy cũng sẽ ra hầu tòa, ngay sau buổi hội thảo, và cáo trạng bao gồm tội cướp có vũ trang và có cố ý mưu sát. Cùng ngày hôm đó, Deborah nhận được cú điện thoại thông báo về một trong những người con trai của Lawrence, người đã bị bắt vì trộm cướp và đang ngồi tù cùng với Alfred.

“Ma quỷ đang bận rộn”, cô ấy nói với tôi. “Tôi yêu chúng, nhưng tôi sẽ không để ai gây ảnh hưởng đến tôi vào lúc này”.

Sáng hôm sau là ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Khoảng tám giờ sáng tôi gọi cho Deborah, nói tôi chuẩn bị rời khỏi nhà ở Pittsburgh và đến cuộc hội thảo ở Washington, DC. Chưa đến một giờ sau, chiếc máy bay đầu tiên đã đâm vào Trung tâm Thương mại Thế giới. Một người bạn phóng viên đã gọi và báo cho tôi biết: “Đừng đi DC. nữa, ở đó không an toàn”. Tôi quay đầu xe ngay lúc chiếc máy bay thứ hai lao vào, và khi về đến nhà, tivi đã tràn ngập các hình ảnh về đống đổ nát của Lầu Năm Góc và các tòa nhà trên khắp DC. đang được sơ tán, bao gồm Tòa nhà Ronald Reagan, nơi cuộc hội thảo vinh danh Henrietta sẽ được diễn ra.

Tôi gọi cho Deborah, và cô ấy bắt máy trong hoảng loạn. “Hệt như Trân Châu Cảng”, cô ấy nói. “Và Oklahoma! Không đời nào tôi đến DC. vào lúc này”. Cũng không cần thiết nữa. Washington bị phong tỏa và các hãng máy bay phải tạm ngừng hoạt động, Quỹ Quốc gia về Nghiên cứu Bệnh Ung thư đã hủy hội thảo Henrietta Lacks mà không có kế hoạch để tổ chức lại vào một ngày khác.

Trong vài ngày sau đó, Deborah và tôi thường xuyên nói chuyện với nhau vì cả hai chúng tôi đều không hiểu tại sao các vụ tấn công lại diễn ra, và Deborah phải tìm cách chấp nhận rằng cuộc hội thảo đã bị hủy. Cô ấy tuyệt vọng và lo lắng rằng sẽ mất 10 năm nữa mới có người muốn tôn vinh mẹ cô ấy.

Rồi, vào sáng Chủ nhật, năm ngày sau ngày 11 tháng 9, Deborah đi nhà thờ để cầu nguyện cho Alfred – phiên tòa của cậu ấy sẽ diễn ra sau vài ngày nữa – và để xin cho cuộc hội thảo của Henrietta Lacks được lên kế hoạch tổ chức vào một ngày khác. Cô ngồi ở hàng ghế đầu trong bộ váy màu đỏ, tay đặt trên đùi, lắng nghe chồng mình thuyết giảng về ngày 11 tháng 9. Khoảng một giờ sau khi buổi thuyết giảng bắt đầu, Deborah nhận ra cô không thể cử động cánh tay.

Davon, lúc bấy giờ khoảng chín tuổi, luôn ngồi trong dàn thánh ca và nhìn bà ngoại trong suốt quãng thời gian ở nhà thờ. Trong khoảnh khắc, khi mặt Deborah bắt đầu xệ xuống và người cô khom lại, Davon đã nghĩ cô tình cờ uống nhầm thuốc ngủ trước khi đến nhà thờ. Deborah nhìn thấy cặp mắt nhỏ xíu của cậu bé đang nhìn mình, và cô tìm cách vẫy tay để bảo với cậu có chuyện không ổn, nhưng cô không thể cựa quậy.

Cuối buổi giảng đạo, khi giáo đoàn đứng dậy và miệng Deborah méo xệch, cố tìm cách lên tiếng. Nhưng tiếng động duy nhất lại phát ra từ Davon, cậu bé đã hét lên: “Bà cháu không ổn rồi!” Cậu bé nhảy xuống khỏi dàn thánh ca ngay lúc Deborah khuỵu xuống. Davon gào lên: “Ông ơi! Ông ơi!” Pullum nhìn Deborah và hét: “Đột quỵ!”

Ngay khi nghe thấy từ đột quỵ, Davon đã chộp lấy ví của Deborah và tìm chìa khóa xe rồi chạy ra ngoài. Cậu bé mở toang tất cả các cửa xe, hạ lưng ghế phẳng hết mức có thể, rồi trèo lên ghế lái, chân không với tới bàn đạp. Rồi cậu bé khởi động xe để Pullum chỉ việc trèo lên và lái xe đi.

Không lâu sau họ đã phóng trên con đường ngoằn ngoèo từ nhà thờ, và Deborah lúc tỉnh lúc mê trong khi Davon gào lên: “Bà đừng ngủ!” rồi vỗ mạnh vào mặt cô mỗi khi cô nhắm mắt lại. Pullum không ngừng hét, bảo cậu bé dừng lại: “Nhóc, cháu sẽ giết bà đấy!” Nhưng Davon không chịu dừng.

Khi họ đến trạm cứu hỏa ở cuối đường, nhân viên cứu thương đã kéo Deborah ra khỏi xe, cho cô thở ôxy, tiêm và truyền dịch cho cô rồi đưa cô lên xe cứu thương. Ngay khi xe cứu thương vừa đi mất, một nhân viên cứu hỏa đã nói với Davon rằng cậu bé rất thông minh khi vỗ vào mặt Deborah lúc ở trên xe.

“Nhóc, cháu vừa cứu mạng của bà đấy”, ông ta nói.

Điều đầu tiên Deborah nói khi cô tỉnh lại là: “Tôi phải làm kiểm tra”. Nhân viên bệnh viện nghĩ ý cô là cô cần chụp CT hay xét nghiệm máu, nhưng thực ra cô muốn nói đến bài kiểm tra ở trường.

Khi các bác sĩ đồng ý để gia đình Deborah vào thăm, Davon, Pullum, và con gái của Deborah, Tonya, vào phòng và thấy Deborah đang ngồi thẳng trên giường, mắt mở lớn. Mệt mỏi nhưng vẫn còn sống. Nửa người trái của cô vẫn còn yếu và cô không thể di chuyển hai tay một cách linh hoạt, nhưng các bác sĩ nói cô đã rất may mắn và có thể hồi phục hoàn toàn.

“Tạ ơn Chúa!” – Pullum thốt lên.

Vài ngày sau, khi xuất viện, Deborah đã gửi cho tôi một tin nhắn thoại. Hôm đó là sinh nhật của tôi và chúng tôi đã hẹn sẽ gặp nhau ở Clover. “Chúc mừng sinh nhật, Boo”, cô ấy nói, giọng hoàn toàn tỉnh táo. “Xin lỗi vì tôi không thể đến ăn mừng cùng cô ở ngoại ô, nhưng vài hôm trước tôi đã bị đột quỵ. Chuyện tất lẽ sẽ xảy ra, nhưng tạ ơn Chúa, tôi đã ổn. Một bên miệng vẫn chưa thể nói bình thường được, nhưng bác sĩ nói tôi sẽ ổn thôi. Cô cứ tiếp tục điều tra, và đừng lo lắng cho tôi – tôi ổn. Còn ổn hơn cả lúc tôi được biết họ đã lấy các tế bào của mẹ tôi. Tôi cảm thấy rất nhẹ nhõm, cô hiểu không? Nó đã rũ bỏ những gánh nặng cho tôi. Tôi cảm ơn Chúa vì những gì đã xảy ra”.

Bác sĩ nói với Deborah rằng lần đột quỵ thứ hai bao giờ cũng nặng hơn lần đầu. “Tin tôi đi”, ông ta nói, “cô không muốn trải qua việc này một lần nữa đâu”. Ông ấy bảo Deborah phải tự tìm hiểu về các dấu hiệu cảnh báo, phải biết cách làm thế nào để hạ huyết áp và kiểm soát lượng đường trong máu.

“Thêm một lý do để tôi tiếp tục và trở lại trường học”, cô ấy nói. “Tôi đã đăng ký một lớp về tiểu đường và một lớp về đột quỵ để hiểu rõ hơn về chúng. Có lẽ tôi cũng nên học lớp dinh dưỡng để ăn uống tốt hơn”.

Dường như lần đột quỵ ấy cũng đã làm dịu bớt sự căng thẳng trong gia đình: các anh em trai của Deborah gọi cho cô mỗi ngày để xem cô thế nào, và Zakariyya thậm chí còn muốn đến thăm. Deborah hy vọng điều này có nghĩa các anh em của cô sẽ chấp nhận mong muốn được tìm hiểu về mẹ của cô.

Cô gọi cho tôi, cười nói: “Tôi phải nghỉ ngơi để chúng ta có thể lại lên đường và tìm hiểu nhiều hơn trước khi các manh mối nguội mất! Nhưng từ giờ, tôi sẽ đi cùng xe với cô. Mọi thứ sẽ ổn thôi. Sáng nay tôi thức dậy và biết chắc điều đó. Tôi chỉ cần đi chậm hơn, chú ý nhiều hơn, và không được sợ hãi. Vì chẳng có gì phải sợ về mẹ tôi và các tế bào. Tôi không muốn có thứ gì ngăn cản tôi học hỏi nữa”.

Nhưng thực ra có thứ sẽ ngăn cản Deborah: cô không có đủ tiền. Tiền trợ cấp xã hội của cô chẳng đủ để cô trang trải cuộc sống, nói gì đến chuyện đi học và mua sách vở. Cô nghĩ ra một vài ý tưởng để kiếm tiền, như bán bình sữa đầy màu sắc dùng một lần với lượng nước và lượng sữa được đo sẵn – thứ mà các bà mẹ bận rộn có thể lắc bằng một tay khi họ đang phải ôm con. Cô cẩn thận vẽ các biểu đồ và gửi chúng đi đăng ký sáng chế, nhưng cô từ bỏ ý tưởng ấy khi nhận ra sẽ tốn hàng nghìn đô để sản xuất hàng mẫu.

Cuối cùng Deborah từ bỏ ý định đến trường và tập trung vào việc đảm bảo con cháu của cô được học hành tử tế.

“Đã quá muộn cho các con của Henrietta”, một hôm cô nói với tôi qua điện thoại. “Câu chuyện này không còn là về chúng tôi nữa. Mà về thế hệ Lacks trẻ”.

Hai tháng sau lần đột quỵ của Deborah, chúng tôi đến nhà thờ của Pullum để tham dự lễ rửa tội cho cô cháu gái chín tháng tuổi của Sonny, JaBrea. Hầu như chẳng còn ghế trống khi buổi lễ bắt đầu. Pullum đứng sau bục giảng kinh, trùm kín bằng chiếc áo choàng dài màu đen với cây thập tự màu đỏ trước ngực, mồ hôi nhễ nhại trên trán. Nhạc công mù mò mẫm đến bên chiếc dương cầm và bắt đầu chơi trong lúc đoàn người hát theo: “Đứng bên tôi khi tôi vượt qua chặng đua này, vì tôi không muốn đua trong vô ích”.

Pullum chỉ vào tôi và cười ma mãnh.

“Lại đây đứng cạnh tôi nào!” – anh hét lên.

“Ồ nhóc ơi, cô gặp rắc rối rồi”, Deborah thì thầm, huých cùi chỏ vào sườn tôi.

“Tôi không lên đó đâu”, tôi thì thầm đáp trả. “Cứ vờ như chúng ta không nhìn thấy anh ấy”.

Pullum vẫy tay cao quá đầu, rồi chỉ vào bục giảng kinh và bảo tôi đến gần. Deborah và tôi nhìn chằm chằm vào dàn thánh ca đằng sau anh ấy, mặt lạnh tanh, vờ như không thấy. Pullum đảo mắt, rồi hét vào micro: “Hôm nay chúng ta có một vị khách! Rebecca Skloot, cô đứng lên được chứ?” Deborah thì thầm: “Thôi xong”, trong lúc toàn bộ khán phòng nhìn theo hướng anh ấy chỉ, thẳng vào tôi.

Tôi đứng dậy.

“Cô Rebecca Skloot”, Pullum nói, “tôi biết có lẽ đây không phải là thời điểm thích hợp đối với cô, nhưng nó là thời điểm thích hợp đối với tôi”.

“Amen”, Deborah nói ở ghế bên cạnh tôi, giọng cô bỗng trở nên nghiêm túc.

“John Hopkins đã lấy cơ thể mẹ vợ của tôi và sử dụng cho mục đích riêng của họ”, anh ấy hét vào micro. “Họ đã bán các tế bào của bà khắp thế giới! Giờ tôi sẽ mời cô Rebecca Skloot lên và nói về những việc mà cô ấy và vợ tôi đang làm với các tế bào ấy”.

Tôi chưa từng ngồi trong một giáo đoàn, nói gì đến chuyện phát biểu trước mặt họ. Mặt tôi đỏ bừng và cổ họng khô cứng trong lúc Deborah đẩy tôi về phía trước. Pullum bảo giáo đoàn hãy giúp tôi một tay, và khán phòng bùng nổ trong tiếng hoan nghênh. Tôi bước lên bục và nhận micro từ Pullum; anh ấy vỗ vào lưng tôi và thì thầm: “Cứ nói bằng cách riêng của cô”. Và tôi đã làm vậy. Tôi kể câu chuyện về các tế bào của Henrietta và những gì chúng đã làm được cho khoa học, giọng tôi lớn dần khi giáo đoàn hét lên: “Amen!” và “Hallelujah!” và “Chúa rủ lòng lành!” “Hầu hết mọi người nghĩ tên của bà là Helen Lane”, tôi nói. “Nhưng bà là Henrietta Lacks. Bà có năm người con, và một trong số họ đang ngồi ngay ở đây”. Tôi chỉ vào Deborah. Cô ấy đang ôm JaBrea trong lòng, cười rạng rỡ, nước mắt chảy ròng ròng xuống hai bên má.

Pullum lại gần và cầm micro, quàng tay qua vai tôi và bóp nhẹ để tôi không thể lẩn đi.

“Tôi đã rất tức giận với cô Rebecca khi cô gọi điện cho chúng tôi”, anh ấy nói. “Vợ tôi cũng vậy. Rồi cuối cùng chúng tôi đồng ý, nhưng chúng tôi nói với cô ấy rằng, ‘Cô phải nói chuyện với chúng tôi như thể chúng tôi là những người bình thường. Cô phải cho chúng tôi biết chuyện gì đang diễn ra’”.

Rồi anh ấy nhìn Deborah. “Cả thế giới sẽ biết mẹ của em là ai. Nhưng em, Sonny và những người con khác của Henrietta chắc sẽ không biết lợi ích thực sự của các tế bào ấy”. Deborah gật đầu trong lúc Pullum giơ tay lên và chỉ vào JaBrea, một đứa bé xinh đẹp vô cùng trong bộ váy ren màu trắng và cài nơ trên tóc.

“Một ngày kia đứa trẻ này sẽ biết bà cố Henrietta của nó đã giúp cả thế giới!” Pullum thét lớn. Rồi anh chỉ vào Davon và các anh em họ khác của JaBrea, nói: “Đứa trẻ này cũng vậy... cả đứa trẻ này... và đứa trẻ này. Đây đã là câu chuyện của chúng. Chúng cần phải hiểu nó và để nó dạy cho chúng rằng chúng cũng có thể thay đổi thế giới”.

Anh giơ tay lên và hét hallelujah. JaBrea vẫy tay, thốt lên những tiếng hân hoan lớn, và cả phái đoàn nói amen.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.