Cuộc Đời Bất Tử Của Henrietta Lacks

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10. Phía bên kia đường ray

❊ ❊ ❊

10

Phía bên kia đường ray

Clover nằm cách Đường 360 vài ngọn đồi uốn lượn ở phía Nam Virginia, ngay sau Lạch Difficult ở bên bờ sông Tử Thần. Tôi đặt chân đến thị trấn vào một ngày bầu trời trong xanh của tháng 12, không khí ấm áp như tháng 5, với một tờ ghi chú màu vàng chứa thông tin mà Sonny đã cho tôi: “Họ vẫn chưa tìm thấy mộ của bà. Hãy đến đó vào ban ngày – không có đèn điện, tối hơn cả bóng tối. Hỏi đường đến Thị trấn Lacks”.

Trung tâm Clover bắt đầu từ một trạm xăng với dòng chữ RIP được sơn dọc mặt trước, và kết thúc ở một lô đất trống nơi từng có nhà ga mà Henrietta đã bắt tàu đến Baltimore. Mái nhà của rạp chiếu phim cũ trên Phố Chính đã sập nhiều năm trước, màn hình của rạp nằm trơ trên cánh đồng cỏ dại. Các cửa hiệu khác thì trông giống như có người bỏ đi ăn trưa nhiều thập niên trước và không thèm quay trở lại: một bức tường của cửa hàng quần áo Abbott xếp đầy những chiếc hộp đựng ủng lao động hiệu Red Wing còn mới cao tới tận trần nhà và bám đầy bụi; bên trong quầy bán hàng dài bằng kính, ở dưới chiếc máy thu ngân cổ, là từng hàng áo sơ mi nam, vẫn được gấp ngay ngắn trong túi ni-lông. Phòng chờ của nhà hàng Rosie chứa đầy những chiếc ghế bành, đi-văng và thảm lông, tất cả đều phủ một lớp bụi dày. Tấm biển ở cửa sổ ghi MỞ CỬA CẢ TUẦN, ngay phía trên tấm biển khác ghi ĐÓNG CỬA. Trong siêu thị Gregory và Martin, những chiếc xe đẩy hàng – vẫn còn chứa đồ – nằm im lìm trên các lối đi cạnh những lon đồ hộp từ nhiều thập niên trước, và đồng hồ treo tường chưa hề di chuyển quá 6 giờ 34 phút kể từ khi Martin đóng cửa hàng và chuyển sang nghề mai táng vào những năm 1980.

Ngay cả với những đứa trẻ nghiện ngập và một thế hệ già nua đang chết dần, Clover vẫn không có đủ người chết để nuôi sống một ông thầy hậu sự: vào năm 1974, dân số ở đây là 227 người, năm 1998 là 198 người. Cũng vào năm đó, Clover mất cấp thị trấn. Nơi này vẫn có một số nhà thờ và một số cửa hiệu làm đẹp, nhưng chúng hiếm khi mở cửa. Cửa hiệu duy nhất vẫn hoạt động bình thường ở trung tâm thị trấn là bưu điện bằng gạch, chỉ có một phòng, nhưng đã đóng cửa khi tôi đến.

Phố Chính như một nơi bạn có thể ngồi chơi hàng giờ mà không hề bắt gặp một người khách bộ hành hay một chiếc xe ôtô nào. Nhưng có một người đàn ông đang đứng trước cửa Rosie, tựa vào chiếc xe đạp gắn động cơ màu đỏ của ông ta, đợi để vẫy xe đi ngang qua. Ông ta là một người da trắng mập lùn với hai gò má đỏ ửng, có vẻ trong độ tuổi 50 đến 70. Người dân địa phương gọi ông ta là Kẻ Chào Hỏi, và ông ta dành phần lớn thời gian cuộc đời mình ở góc đường ấy để vẫy tay với bất kỳ ai ngang qua, mặt không biểu lộ cảm xúc. Tôi hỏi liệu ông ta có thể chỉ đường cho tôi đến Thị trấn Lacks được không. Tôi định sẽ tìm các hộp thư có gắn tên Lacks và gõ cửa từng nhà để hỏi về Henrietta. Người đàn ông chẳng nói một lời, chỉ vẫy tay với tôi, rồi từ từ chỉ ra đằng sau lưng ông ta, phía bên kia đường ray.

Ranh giới giữa Thị trấn Lacks và phần còn lại của Clover là một vùng hoang vắng. Ở một bên của con đường hai làn xe từ trung tâm thị trấn là những ngọn đồi uốn lượn bao la bát ngát, khu đất rộng hàng mẫu nuôi ngựa, một hồ nước nhỏ, một căn nhà được gìn giữ cẩn thận nằm cách xa đường, một chiếc xe tải con, và một hàng rào trắng. Đối diện bên kia đường là căn lán nhỏ, chỉ có một phòng, rộng khoảng 2 mét và dài 3,5 mét; nó được xây bằng gỗ chưa được sơn, với các lỗ hổng lớn giữa những tấm ván lát tường, làm chỗ cho các cây dây leo và cỏ dại mọc đầy.

Căn lán đó là điểm khởi đầu của Thị trấn Lacks, con đường độc đạo trải dài khoảng 1,5 km nối hàng chục ngôi nhà với nhau – một số nhà được sơn màu vàng sáng hoặc xanh lá cây, số khác không được sơn, bị sụt lún hoặc gần như bị thiêu trụi. Những căn lều thời nô lệ nằm cạnh các căn nhà bằng gạch xỉ và nhà di động, một số căn có chảo vệ tinh và xích đu ngoài mái hiên, số khác bị gỉ sét và bị chôn vùi một phần. Tôi lái xe dọc chiều dài đường Thị trấn Lacks hết lần này đến lần khác, qua tấm biển HẾT ĐỊA PHẬN NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, nơi con đường chuyển sang đá sỏi, qua sân bóng rổ nằm lọt thỏm trên cánh đồng thuốc lá – thực chất chỉ là một trảng đất đỏ với cái rổ gắn trên đỉnh của thân cây đã trụi vì sương gió.

Bộ giảm thanh trên chiếc xe Honda màu đen cũ nát của tôi đã rớt ra ở đâu đó giữa Pittsburgh và Clover, vì thế mọi người trong Thị trấn Lacks đều biết mỗi khi tôi chạy xe qua. Họ bước ra mái hiên hoặc nhìn qua cửa sổ. Cuối cùng, trong lần thứ ba hoặc lần thứ tư, một người đàn ông có vẻ đã 70 tuổi, bước ra khỏi căn lều bằng gỗ gồm hai phòng ngủ màu xanh lá, mặc một chiếc áo len màu xanh sáng, một cái khăn đồng màu, và chiếc mũ màu đen. Ông ấy vẫy cánh tay cứng ngắc với tôi, nhướn chân mày.

“Cô bị lạc hả?” – ông ấy hét lên để át tiếng động cơ.

Tôi hạ cửa kính và nói không hẳn vậy.

“Thế cô đang định đi đâu?” – ông ấy nói. “Vì tôi biết cô không phải người ở đây”.

Tôi hỏi ông ấy có biết Henrietta không.

Ông ấy mỉm cười và giới thiệu tên mình là Cootie, em họ của Henrietta.

Tên thật của ông là Hector Henry – mọi người bắt đầu gọi ông là Cootie từ vài thập niên trước, khi ông bị bại liệt, nhưng ông cũng không hiểu vì sao. Nước da của Cootie đủ sáng để làm người Mỹ Latinh, nên khi bị bệnh lúc chín tuổi, bác sĩ da trắng ở địa phương đã lén đưa Cootie vào bệnh viện gần nhất, nói với họ rằng Cootie là con của ông, vì các bệnh viện không chữa trị cho người da đen. Cootie đã sống một năm bên trong chiếc phổi bằng sắt – thứ giúp ông hít thở. Ông không ngừng ra vào bệnh viện kể từ đó.

Bệnh bại liệt đã khiến ông bị liệt một phần ở cổ và hai cánh tay, với những tổn thương thần kinh kèm những cơn đau dai dẳng. Ông luôn đeo một chiếc khăn choàng cổ bất kể thời tiết, vì hơi ấm sẽ giúp làm giảm cơn đau.

Tôi nói với ông lý do tôi đến đây, và ông ấy chỉ khắp con đường.

“Mọi người trong Thị trấn Lacks đều có họ hàng với Henrietta, nhưng chị ấy đã mất từ rất lâu rồi, đến cả những ký ức về chị ấy nay cũng đã phai nhạt”, ông nói. “Mọi thứ về Henrietta đều đã chết, ngoại trừ những tế bào ấy”.

Ông chỉ vào xe của tôi. “Tắt thứ ồn ào này đi và hãy vào nhà. Tôi sẽ đãi cô chút nước hoa quả”.

Cửa trước nhà ông mở ra, dẫn vào một căn bếp nhỏ có máy pha cà phê, máy nướng bánh mì kiểu cũ, và một cái bếp củi cũ có hai chiếc nồi đặt ở trên, một chiếc trống không, chiếc còn lại chứa đầy ớt. Ông đã sơn các bức tường trong bếp cùng một màu xanh ôliu sẫm như bên ngoài, và mắc đầy những ổ điện và vỉ đập ruồi. Ông vừa mới lắp hệ thống nước trong nhà nhưng vẫn thích dùng hệ thống ở bên ngoài hơn.

Mặc dù hai cánh tay của Cootie hầu như chẳng thể cử động được, nhưng ông đã tự xây căn nhà này, tự học xây dựng trong quá trình làm, đóng những bức tường bằng gỗ ép và trát thạch cao bên trong. Nhưng do quên không làm hệ thống cách nhiệt, ngay sau khi hoàn thành, ông đã gỡ bốn bức tường xuống và bắt đầu lại từ đầu. Vài năm sau đó, toàn bộ căn lán đã bốc cháy khi ông ngủ bên dưới tấm chăn điện, rồi ông lại xây lại từ đầu. Bốn bức tường có hơi bị cong, theo lời ông nói, nhưng ông đã dùng rất nhiều đinh, nên ông nghĩ nó sẽ không bao giờ sập xuống được.

Cootie đưa cho tôi ly nước hoa quả màu đỏ và đẩy tôi ra khỏi căn bếp để bước vào phòng khách tối tăm lát gỗ. Phòng khách không có sofa, chỉ có một vài chiếc ghế gấp bằng kim loại và một chiếc ghế cắt tóc ghim xuống sàn nhà lót vải sơn[1], lớp đệm của nó được phủ kín hoàn toàn bằng băng dính. Cootie từng là thợ cắt tóc của Thị trấn Lacks suốt nhiều thập niên. “Chiếc ghế như thế giờ có giá 1.200 đô, nhưng khi ấy tôi đã mua nó với giá tám đô”, ông nói lớn từ nhà bếp. “Giá cắt tóc lúc bấy giờ chỉ có một đô – đôi khi tôi cắt cho 58 người mỗi ngày”. Cuối cùng ông nghỉ cắt vì không thể giơ tay đủ lâu nữa.

Một chiếc loa nhỏ đặt cạnh tường đang om sòm phát chương trình tín ngưỡng. Vị mục sư đang gào thét điều gì đó về việc Chúa đã chữa bệnh viêm gan cho một vị thính giả gọi điện đến.

Cootie mở chiếc ghế gập cho tôi, rồi bước vào phòng ngủ. Ông nhấc đệm lên bằng một tay, kê đầu vào để giữ cho nó khỏi đổ, rồi bắt đầu lục lọi đống giấy tờ bên dưới.

“Tôi biết tôi có thông tin về Henrietta ở đâu đó trong đống này”, ông lẩm bẩm dưới tấm đệm. “Tôi đã để nó ở nơi quái quỷ nào rồi... Cô có biết các quốc gia khác đang mua chị ấy với giá 25 đô, đôi khi là 50 đô không? Gia đình chị ấy không được lấy một xu từ số tiền đó”.

Sau khi có vẻ đã lục đến hàng trăm tờ giấy, ông quay trở lại phòng khách.

“Đây là bức ảnh duy nhất của chị ấy mà tôi có”, ông nói, chỉ vào bản sao của bài báo Rolling Stone với bức ảnh Henrietta tay chống trên hông. “Tôi không biết nó viết gì. Tôi không đi học, tất cả những gì tôi biết đều nhờ tự học. Nhưng tôi vẫn không thể đếm, và tôi gần như không thể đọc hay viết tên của mình vì tay tôi bị run”. Ông hỏi bài báo có nói gì về tuổi thơ của Henrietta ở Clover không. Tôi lắc đầu.

“Mọi người ai cũng yêu quý Henrietta vì chị ấy là một người rất tốt”, ông nói. “Chị ấy thật đáng mến, luôn luôn mỉm cười, luôn chăm sóc cho chúng tôi tận tình mỗi khi chúng tôi đến nhà. Ngay cả khi đã đổ bệnh, chị ấy vẫn không phải người biết mở miệng than vãn ‘Tôi cảm thấy không khỏe và tôi sẽ trút giận lên đầu mọi người’. Chị ấy không như vậy, ngay cả chị ấy đang bị đau. Nhưng chị ấy có vẻ không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Chị ấy đã không muốn nghĩ rằng mình đang chết”.

Ông lắc đầu. “Cô biết không, họ nói nếu chúng tôi có thể tập hợp tất cả các phần của chị ấy[2] về, chị ấy sẽ nặng hơn 360 kg”. “Và Henrietta chưa bao giờ là một phụ nữ to lớn mập mạp. Giờ chị ấy[3] vẫn còn đang tiếp tục lớn thêm”.

Ở đằng sau, vị mục sư trên đài phát thanh đang hét “Tạ ơn Chúa!” hết lần này đến lần khác trong lúc Cootie nói.

“Chị ấy đã chăm sóc cho tôi khi bệnh bại liệt của tôi chuyển biến xấu”, ông kể. “Chị ấy vẫn luôn nói rằng chị ấy muốn chữa lành cho tôi nhưng không thể, vì tôi đã bị bại liệt trước khi chị ấy đổ bệnh[4], nhưng chị ấy đã nhìn thấy căn bệnh chuyển biến tệ đến mức nào. Tôi nghĩ đó là lý do vì sao chị ấy dùng các tế bào để giúp loại bỏ căn bệnh ấy cho những người khác”. Ông ngập ngừng. “Ở đây không ai hiểu tại sao chị ấy thì chết còn thứ đó lại sống. Đó là điều bí ẩn”.

Ông nhìn quanh phòng, gật đầu về phía khoảng không giữa bức tường và trần nhà, nơi ông để tỏi và hành khô.

“Cô biết không, rất nhiều thứ là do con người tạo ra”, ông ấy bảo tôi, hạ giọng xuống thì thầm. “Cô biết ý tôi là gì khi nói con người tạo ra, phải không?”

Tôi lắc đầu.

“Tà thuật”, ông ấy thì thầm. “Có người nói căn bệnh của Henrietta và các tế bào đó là do ai đó làm, có người lại nói là do bác sĩ làm”.

Trong lúc ông nói, giọng của vị mục sư trên đài phát thành ngày càng lớn hơn: “Chúa sẽ cứu rỗi bạn, nhưng bạn phải gọi cho tôi ngay bây giờ. Nếu con gái hay chị gái của tôi bị ung thư, tôi sẽ gọi điện ngay lập tức, vì thời gian không còn nhiều!”

Cootie nói át tiếng đài phát thanh. “Các bác sĩ nói họ chưa bao giờ thấy trường hợp nào như của Henrietta! Tôi cược rằng đó là do người hoặc ma làm, chỉ có một trong hai”.

Rồi ông ấy nói với tôi về những hồn ma ở Thị trấn Lacks, đôi khi chúng ghé thăm nhà dân và gây ra bệnh tật. Ông ấy nói đã nhìn thấy hồn ma của một người đàn ông ở trong nhà mình, có lần tựa vào tường bên cạnh bếp củi, lần khác là cạnh giường. Nhưng ông ấy bảo hồn ma nguy hiểm nhất là con lợn không đầu, không đuôi, nặng vài tấn mà ông ấy đã nhìn thấy khi nó lang thang khắp Thị trấn Lacks nhiều năm về trước. Những mắt xích của dây xích gãy treo lủng lẳng trên chiếc cổ nhuốm máu của nó, kéo lê dọc theo những con đường đất và kêu lẻng kẻng khi nó bước đi.

“Tôi đã nhìn thấy thứ đó băng qua đường để đến nghĩa trang gia đình”, Cootie nói. “Hồn ma đó đứng ngay giữa đường ngoài kia, những sợi xích của nó lắc lư và đu đưa trong gió”. Cootie nói nó đã nhìn ông và dậm chân, đá tung đất đỏ quanh người nó, chuẩn bị để tấn công. Ngay lúc đó, một chiếc xe chỉ còn một bên đèn đã lạch cạch tiến tới.

“Chiếc xe lại gần, rọi đèn vào nó, tôi thề đó là một con lợn”. Rồi hồn ma đó biến mất. “Tôi vẫn nghe thấy tiếng xích bị kéo đi”, ông nói. Cootie nghĩ chiếc xe đó đã cứu ông khỏi mắc một căn bệnh mới.

“Tôi không chắc có phải một hồn ma nào đó đã mang Henrietta đi mất hay là một tên bác sĩ”, Cootie nói, “nhưng tôi biết bệnh ung thư của chị ấy không phải là bệnh ung thư bình thường, vì bệnh ung thư bình thường sẽ không tiếp tục phát triển sau khi người bệnh đã chết”.

❀ ❀ ❀

[1] Vải sơn hay còn gọi là linoleum, một loại vật liệu lót sàn phổ biến.

[2] Ý nói các tế bào HeLa.

[3] Có lẽ ý Cootie là các tế bào vẫn đang tiếp tục tăng sinh.

[4] Cootie đã bị mắc bại liệt trước khi Henrietta chết, vì vậy đến lúc vắc-xin bại liệt được tạo ra (nhờ các tế bào ung thư của Henrietta) thì đã quá muộn để chữa cho Cootie.

Nguyên tác: The Immortal Life of Henrietta Lacks - Dịch giả: Trần Nguyên
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.