5
“Bóng đen lan khắp cơ thể”Henrietta không hề biết gì về việc các tế bào của mình đang được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm. Sau khi xuất viện, cô quay trở lại cuộc sống thường nhật. Vốn chưa từng thích thành phố nên hầu như cứ mỗi dịp cuối tuần cô lại đưa bọn trẻ về Clover, nơi cô đã làm việc trên những cánh đồng thuốc lá và dành nhiều giờ đồng hồ để khuấy sữa làm bơ trên những bậc thang của Nhà Chung. Mặc dù radium thường khiến các bệnh nhân cảm thấy buồn nôn, kiệt sức, và thiếu máu, nhưng không có ghi chép nào nói rằng Henrietta có bất kỳ phản ứng phụ nào, và không ai nhớ cô từng than phiền về việc cảm thấy ốm yếu hay chưa.
Khi không ở Clover, Henrietta dành thời gian nấu nướng cho Day, cho lũ trẻ, và cho bất kỳ anh em họ nào ghé qua nhà. Cô làm món bánh tráng miệng nổi tiếng của mình, món rau xanh ninh nhừ, lòng non, và mì Ý thịt viên mà lúc nào cô cũng đặt trên bếp lò để thết đãi mọi người tình cờ ghé qua lúc đói bụng. Khi Day không đi làm ca đêm, anh và Henrietta ở nhà buổi tối, chơi bài và nghe Bennie Smith chơi ghita nhạc blues sau khi bọn trẻ đi ngủ. Vào những đêm Day phải đi làm, Henrietta và Sadie sẽ đợi cho đến khi cánh cửa đóng sập lại, đếm đến 100, rồi nhảy khỏi giường, mặc quần áo khiêu vũ, và lẻn ra ngoài, cẩn thận để không đánh thức lũ trẻ. Ngay khi vừa bước ra ngoài, họ lắc hông và hò hét, chạy qua con phố đến sàn nhảy của quán bar Adams và Twin Pines.
“Chúng tôi thường nhảy hết mình”, nhiều năm sau Sadie nói với tôi. “Chúng tôi không thể cưỡng lại được. Họ chơi loại nhạc mà khi nghe thấy, cô không thể ngừng nhún nhảy. Chúng tôi nhảy quanh sàn, lắc lư theo điệu nhạc blues, rồi có người nhét đồng 25 xu vào máy và nhạc lại nổi lên. Chúa tôi, chúng tôi cứ thế nhảy, và lắc, và xoay người!” Sadie bật cười khúc khích như một thiếu nữ. “Đó là những ngày tháng tươi đẹp”. Và họ đã từng là những quý cô kiều diễm.
Henrietta có đôi mắt nâu hạt dẻ, hàm răng trắng đều tăm tắp, và đôi môi căng mọng. Cô là một người phụ nữ cứng cỏi với khuôn mặt chữ điền, eo dày, thấp, đôi chân chắc khỏe, và hai tay rắn chắc vì những cánh đồng thuốc lá và công việc nội trợ. Móng tay của cô được cắt ngắn để bột mì không dính bên dưới mỗi khi nhào bột, nhưng luôn được sơn màu đỏ đậm để cùng tông với màu móng chân.
Henrietta dành nhiều giờ đồng hồ để chăm sóc cho móng tay của mình, giũa những chỗ bị xước và phủ lên chúng một lớp sơn mới. Cô thường ngồi trên giường, tay cầm lọ sơn, tóc buộc cao, mặc bộ áo ngủ bằng lụa mà cô yêu thích đến mức cô tự tay giặt nó mỗi đêm. Cô không bao giờ mặc quần dài, và hiếm khi ra khỏi nhà mà không mặc chân váy với áo sơ mi đã được là lượt cẩn thận, xỏ chân vào đôi giày hở ngón nhỏ nhắn, và khẽ uốn chân tóc lên, “như thể chúng đang nhảy về phía khuôn mặt của chị ấy”, Sadie vẫn thường nói.
“Hennie khiến cuộc đời bừng lên sức sống – ở bên cạnh chị ấy như là ở bên cạnh niềm vui vậy”, Sadie, nhìn lên trần nhà nói với tôi. “Hennie yêu quý mọi người. Chị ấy là người có thể khơi dậy những điều tốt đẹp ở người khác”.
Tuy nhiên có một người mà Henrietta đã không thể khơi dậy được đức tính tốt nào. Đó chính là Ethel, vợ của ông anh họ Galen, vừa chuyển từ Clover đến Turner Station. Và Ethel không ưa gì Henrietta – các chị em họ của cô cho là vì ghen tuông.
“Tôi không thể trách cô ta”, nhiều năm sau, Sadie nói với tôi. “Galen, chồng của Ethel, thích Hennie hơn cả Ethel. Chúa ạ, anh ta đã đeo bám Hennie! Bất cứ nơi nào Hennie đến là lại thấy anh ta xuất hiện – anh ta luôn tìm cách đến nhà Hennie mỗi khi Day đi làm. Chúa ơi, Ethel đã ghen – sự thù hằn mà cô ta dành cho Hennie thật khủng khiếp. Lúc nào cô ta cũng như muốn đánh Hennie”. Bởi vậy Henrietta và Sadie thường cười khúc khích và lẻn ra cửa sau để đến một câu lạc bộ khác mỗi khi Ethel xuất hiện.
Khi họ không lẻn ra ngoài, Henrietta, Sadie, và chị gái của Sadie, Margaret dành cả buổi tối của mình ở phòng khách nhà Henrietta, chơi bingo, la hét, và cười đùa trước hũ tiền xu trong lúc các con của Henrietta – Sonny, Deborah, và Joe – chơi với các quân bingo trên thảm dưới gầm bàn. Lawrence đã gần 16 tuổi, lúc nào cũng mải mê với cuộc sống riêng bên ngoài. Nhưng có một đứa trẻ không ở đó: con gái đầu của Henrietta, Elsie.
Trước khi Henrietta mắc bệnh, mỗi lần về Clover là cô lại đưa Elsie về cùng. Elsie thường ngồi dưới mái hiên của Nhà Chung, nhìn xa xăm về phía những ngọn đồi và ngắm mặt trời mọc trong lúc Henrietta làm vườn. Cô bé xinh đẹp, yểu điệu và nữ tính như Henrietta, cô được mẹ mặc cho những bộ quần áo tự may có gắn nơ và dành nhiều giờ đồng hồ để tết mái tóc xoăn dài màu nâu của mình. Elsie không bao giờ nói chuyện, cô chỉ kêu như quạ và líu lo như chim trong lúc huơ tay sát mặt. Cô có đôi mắt to màu hạt dẻ, mọi người thường nhìn vào đó và tự hỏi điều gì đang diễn ra bên trong cái đầu xinh xắn ấy. Nhưng cô chỉ nhìn lại họ chằm chằm, không nao núng, đôi mắt đầy ám ảnh với những nỗi sợ và buồn phiền, và chỉ dịu lại khi được Henrietta vỗ về.
Đôi khi Elsie băng qua các cánh đồng, đuổi theo những con gà tây hoang hoặc túm đuôi con la và vỗ vào người nó cho đến khi Lawrence kéo cô ra. Anh họ Peter của Henrietta vẫn thường nói Chúa đã mang theo đứa trẻ ấy kể từ khi nó lọt lòng, vì con la không bao giờ làm đau cô bé. Đó là một con la xấu tính đến nỗi nó cấm cảu với không khí như một con chó dại và vung chân đá vào những cơn gió, nhưng dường như nó biết Elsie là một cô bé đặc biệt. Thậm chí khi đã lớn, cô bé vẫn không ngừng ngã sõng soài, đâm vào tường và cửa, và tự làm mình bị bỏng vì lò sưởi. Henrietta đã bắt Day đưa mình và Elsie đến các buổi mộ đạo, để những người thuyết giáo trong những căn lán có thể đặt tay lên người Elsie và chữa cho cô bé, nhưng điều đó không bao giờ đem lại hiệu quả. Ở Turner Station, đôi khi Elsie lao ra khỏi nhà, chạy giữa đường và gào thét.
Đến khi Henrietta mang thai Joe, Elsie đã quá lớn để Henrietta có thể tự mình xoay xở, nhất là với hai đứa bé mới sinh. Các bác sĩ đã khuyên rằng gửi Elsie đi nơi khác là lựa chọn tốt nhất. Nên giờ Elsie đang sống cách nhà họ một tiếng rưỡi đi đường ở phía Nam Baltimore, tại Bệnh viện Bang Crownsville – từng được biết đến dưới cái tên Bệnh viện Tâm thần cho Người Da màu.
Các chị em họ vẫn luôn nói rằng một phần trong Henrietta đã chết vào cái ngày họ gửi Elsie đi, rằng để mất cô bé còn tồi tệ hơn bất cứ việc gì khác xảy ra với Henrietta. Giờ đây, đã gần một năm sau, Henrietta vẫn bảo Day hoặc một người họ hàng đưa cô đến Crownsville để ngồi với Elsie mỗi tuần một lần, cô bé thường khóc và bám chặt lấy mẹ trong lúc họ nghịch tóc của nhau.
Henrietta rất có duyên với trẻ con – chúng luôn tỏ ra ngoan ngoãn và im lặng mỗi khi có mặt cô. Nhưng ngay khi cô rời khỏi nhà, Lawrence lại giở chứng. Khi thời tiết đẹp, cậu ta lại chạy ra bến tàu cũ ở Turner Station, dù Henrietta đã cấm. Bến tàu đã bị cháy nhiều năm trước, chỉ còn trơ lại những cọc gỗ mà Lawrence và các bạn của cậu ta thích nhảy từ trên đó xuống. Một trong số các con trai của Sadie đã suýt chết đuối ở đó vì đập đầu vào đá. Lawrence thường về nhà với cặp mắt bị nhiễm trùng mà mọi người vẫn đổ rằng tại nguồn nước đã bị ô nhiễm vì Sparrows Point. Cứ mỗi khi Henrietta nghe thấy người ta nói Lawrence đang ở bến tàu, cô lại chạy ra đó, kéo cậu ta lên mà đánh.
“Ôi Chúa ơi”, Sadie kể, “Hennie cầm một cây gậy và xuống bến tàu. Phải, Chúa ạ. Chị ấy đã nổi cơn tam bành. Tôi chưa từng thấy chị ấy như vậy”. Đó là lần duy nhất mọi người thấy Henrietta nổi giận. “Chị ấy thật mạnh mẽ”, Sadie nói thêm. “Không gì có thể khiến Hennie phải sợ”.
Suốt một tháng rưỡi, không ai ở Turner Station biết Henrietta ốm. Ung thư là một bệnh dễ giữ kín, vì cô chỉ phải quay lại Hopkins một lần, để tái khám và để điều trị radium lần hai. Khi ấy các bác sĩ đã hứng thú với những gì họ thấy: cổ tử cung của cô hơi đỏ và sưng tấy vì lần trị liệu đầu tiên, nhưng khối u đang teo lại. Tuy nhiên sau đó, cô phải điều trị bằng tia X, nghĩa là cô phải đến Hopkins vào các ngày trong tuần trong vòng một tháng. Để làm được điều đó, cô cần được giúp đỡ: cô sống cách Hopkins 20 phút đi đường, và Day làm ca đêm, nên anh không thể đưa cô về nhà ngay sau khi xạ trị mà phải đến tối muộn. Cô muốn đi bộ đến nhà cô em họ Margaret cách Hopkins chỉ vài khu phố và đợi anh ở đó sau buổi xạ trị. Tuy nhiên trước hết cô phải nói với Margaret và Sadie rằng cô đang bị bệnh.
Henrietta nói với các cô em họ của mình về bệnh ung thư tại hội chợ diễn ra ở Turner Station hằng năm. Như thường lệ, ba người bọn họ trèo lên đu quay, và cô đã đợi cho đến khi nó lên cao đến mức họ có thể thấy toàn cảnh Sparrows Point hướng về phía đại dương, rồi đu quay dừng lại và chân họ lắc lư, đu đưa trong khí trời mùa xuân se lạnh.
“Các cô còn nhớ lúc chị nói chị có cái cục u ở bụng không?” – cô hỏi. Họ gật đầu. “Thật ra là, chị bị ung thư”, Henrietta nói. “Chị đang điều trị ở John Hopkins”.
“Gì cơ?” – Sadie nói, nhìn vào Henrietta và bất chợt cảm thấy chóng mặt, như thể cô chuẩn bị trượt khỏi ghế của chiếc xích đu.
“Không có gì đáng ngại”, Henrietta nói. “Chị vẫn ổn”.
Và tại thời điểm ấy có vẻ như cô đã đúng. Khối u đã biến mất hoàn toàn sau khi được điều trị radium. Theo những gì các bác sĩ thấy, cổ tử cung của Henrietta đã trở lại bình thường, và họ không tìm thấy bất kỳ khối u nào. Các bác sĩ rất chắc chắn về sự hồi phục của cô, cho nên lúc cô ở bệnh viện để điều trị radium lần hai, họ đã thực hiện luôn ca phẫu thuật chỉnh hình mũi cho cô, sửa lại vách ngăn bị lệch đã khiến cô bị viêm mũi và đau đầu suốt cả đời. Đó là một bước khởi đầu mới. Việc điều trị bức xạ chỉ là để đảm bảo trong người cô không có tế bào ung thư nào còn sót lại.
Tuy nhiên khoảng hai tuần sau lần điều trị radium thứ hai, Henrietta có kinh – máu chảy nhiều và không dừng. Cô vẫn bị chảy máu vào ngày 20 tháng 3, khi Day bắt đầu đưa cô đến Hopkins mỗi buổi sáng để xạ trị. Cô thay áo phẫu thuật và nằm lên bàn khám với một cỗ máy khổng lồ được gắn trên tường phía trên đầu. Một bác sĩ nhét các mảnh chì vào âm hộ của cô để bảo vệ ruột kết và phần dưới của cột sống khỏi bức xạ. Ngày đầu tiên, ông đánh dấu hai chấm đen bằng mực tạm thời lên hai bên bụng của Henrietta, ngay phía trên dạ con. Chúng là mục tiêu, để ông có thể nhắm bức xạ vào cùng một vị trí mỗi ngày, nhưng thay đổi giữa các chấm để tránh không đốt da của cô quá lâu ở một vị trí.
Sau mỗi lần điều trị, Henrietta lại thay quần áo của mình và đi bộ vài khu phố đến nhà Margaret, để đợi Day đến đón cô lúc nửa đêm. Trong tuần đầu, cô và Margaret thường ngồi dưới mái hiên chơi bài hoặc chơi bingo, tán gẫu về cánh đàn ông, về các anh chị em, và về bọn trẻ. Tại thời điểm ấy, bức xạ có vẻ chẳng hơn gì là một việc phiền hà. Hiện tượng chảy máu của Henrietta đã dừng, và nếu có cảm thấy mệt mỏi sau những lần điều trị, cô cũng không bao giờ nói ra.
Tuy nhiên không hẳn mọi chuyện đều tốt đẹp. Cuối những lần điều trị, Henrietta đã hỏi bác sĩ khi nào mình sẽ bình phục để có thể có thêm một đứa con. Ông đã nói rằng cô sẽ không thể có con nữa – những lần điều trị đã khiến cô bị vô sinh.
Cảnh báo bệnh nhân về việc mất khả năng sinh sản trước khi tiến hành điều trị ung thư là việc làm bắt buộc ở Hopkins, đó là việc mà Howard Jones nói ông và TeLinde đã làm với mọi bệnh nhân. Thực tế là, một năm rưỡi trước khi Henrietta đến Hopkins để điều trị, trong một bài nghiên cứu về thủ thuật cắt bỏ dạ con, TeLinde đã viết:
Ảnh hưởng tâm lý của việc cắt bỏ dạ con, đặc biệt đối với giới trẻ, rất đáng để lưu tâm, và nó không nên được thực hiện mà không có sự nhận thức rõ ràng từ phía bệnh nhân... [người] có quyền nhận được lời giải thích đơn giản về các vấn đề... [bao gồm] mất khả năng sinh sản... Nó phải được giải thích cho từng bệnh nhân và cho họ thời gian để hiểu rõ thông tin... Tốt hơn là để họ tự điều chỉnh tâm lý trước khi phẫu thuật còn hơn là tỉnh dậy sau khi gây mê và được biết chuyện đã rồi.
Tuy nhiên trong trường hợp này, rõ ràng có điều gì đó bất ổn. Trong bệnh án của Henrietta, một bác sĩ của cô đã viết: “Đã nói với bệnh nhân về việc không thể có con nữa. Bệnh nhân trả lời nếu được biết trước, cô sẽ không chấp nhận điều trị”. Nhưng đến khi Henrietta được biết thì đã quá muộn.
Rồi, ba tuần sau khi bắt đầu điều trị bằng tia X, cơ thể của cô như bị đốt cháy từ bên trong, nước tiểu của cô như những mảnh vỡ thủy tinh. Day nói anh bị chảy mủ, chắc hẳn Henrietta đã lây cho anh thứ bệnh mà cô liên tục đến Hopkins để điều trị.
“Tôi thì nghĩ ngược lại”, Jones viết trong bệnh án của Henrietta sau khi khám cho cô. “Dù sao thì, bệnh nhân giờ đã bị lậu cấp, bên cạnh tác dụng phụ của xạ trị”.
Tuy nhiên, việc Day đi lang chạ chỉ là chuyện nhỏ trong những mối lo của Henrietta. Đoạn đường đến nhà Margaret bắt đầu khiến cô thấy ngày một xa hơn, tất cả những gì Henrietta muốn làm khi đến được đó là ngủ. Một hôm, cô đã suýt ngất khi đi khỏi Hopkins được vài khu phố, cô mất gần một giờ để đi quãng đường hằng ngày ấy. Sau đó, cô bắt đầu đi taxi.
Một buổi chiều, khi Henrietta đang nằm trên ghế sofa, cô nhấc áo lên để chỉ cho Margaret và Sadie thấy những gì mà việc điều trị đã gây ra cho cô. Sadie thở gấp: Da từ ngực đến xương chậu của Henrietta đen như than vì bức xạ. Phần còn lại trên cơ thể cô vẫn giữ nguyên màu cũ – nâu vàng chứ không đen như than. Đôi khi da trở nên sẫm màu vì bức xạ; các bác sĩ gọi nó là “tắm nắng”.
“Hennie”, Sadie thì thầm, “họ đã đốt chị đen thui như hắc ín”.
Henrietta chỉ gật đầu và nói: “Chúa ạ, như thể bóng đen đang lan khắp cơ thể chị”.